Luận án Đặc điểm ngoại hình, đa hình gen và ứng dụng chỉ thị phân tử trong chọn lọc cải thiện năng suất sinh sản của gà nòi

Luận án Đặc điểm ngoại hình, đa hình gen và ứng dụng chỉ thị phân tử trong chọn lọc cải thiện năng suất sinh sản của gà nòi trang 1

Trang 1

Luận án Đặc điểm ngoại hình, đa hình gen và ứng dụng chỉ thị phân tử trong chọn lọc cải thiện năng suất sinh sản của gà nòi trang 2

Trang 2

Luận án Đặc điểm ngoại hình, đa hình gen và ứng dụng chỉ thị phân tử trong chọn lọc cải thiện năng suất sinh sản của gà nòi trang 3

Trang 3

Luận án Đặc điểm ngoại hình, đa hình gen và ứng dụng chỉ thị phân tử trong chọn lọc cải thiện năng suất sinh sản của gà nòi trang 4

Trang 4

Luận án Đặc điểm ngoại hình, đa hình gen và ứng dụng chỉ thị phân tử trong chọn lọc cải thiện năng suất sinh sản của gà nòi trang 5

Trang 5

Luận án Đặc điểm ngoại hình, đa hình gen và ứng dụng chỉ thị phân tử trong chọn lọc cải thiện năng suất sinh sản của gà nòi trang 6

Trang 6

Luận án Đặc điểm ngoại hình, đa hình gen và ứng dụng chỉ thị phân tử trong chọn lọc cải thiện năng suất sinh sản của gà nòi trang 7

Trang 7

Luận án Đặc điểm ngoại hình, đa hình gen và ứng dụng chỉ thị phân tử trong chọn lọc cải thiện năng suất sinh sản của gà nòi trang 8

Trang 8

Luận án Đặc điểm ngoại hình, đa hình gen và ứng dụng chỉ thị phân tử trong chọn lọc cải thiện năng suất sinh sản của gà nòi trang 9

Trang 9

Luận án Đặc điểm ngoại hình, đa hình gen và ứng dụng chỉ thị phân tử trong chọn lọc cải thiện năng suất sinh sản của gà nòi trang 10

Trang 10

Tải về để xem bản đầy đủ

pdf 197 trang nguyenduy 17/08/2025 270
Bạn đang xem 10 trang mẫu của tài liệu "Luận án Đặc điểm ngoại hình, đa hình gen và ứng dụng chỉ thị phân tử trong chọn lọc cải thiện năng suất sinh sản của gà nòi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Luận án Đặc điểm ngoại hình, đa hình gen và ứng dụng chỉ thị phân tử trong chọn lọc cải thiện năng suất sinh sản của gà nòi

Luận án Đặc điểm ngoại hình, đa hình gen và ứng dụng chỉ thị phân tử trong chọn lọc cải thiện năng suất sinh sản của gà nòi
uả xác định đa hình gen PRL/Csp6I bằng PCR-RFLP
MK: Thang chuẩn 100bp, GG, CG, CC: kiểu gen
c. VIP/ApoI
Trên gen VIP tiến hành nghiên cứu điểm đa hình VIP/ApoI. Cặp mồi
VIP/ApoI được sử dụng để khuếch đại gen VIP với kích thước 520 bp chứa vị
trí đa hình. Sản phẩm PCR sau đó được xác định kiểu gen bằng phương pháp
PCR – RFLP sử dụng enzyme ApoI. Kết quả điện di trên gel 3% cho thấy có 2
dạng alen là G (520 bp) và T (486 bp + 43 bp), tương ứng với 3 kiểu gen GG
(520 bp), TG (520 bp, 486 bp, 43 bp) và TT (486 bp, 43 bp), băng 43 bp có
kích thước nhỏ nên không thể hiện trên gel điện di (Hình 4.10). Kết quả
nghiên cứu hiện tại phù hợp với kết quả nghiên cứu của Xu et al. (2011 b) trên
giống gà NDH.
Hình 4.10. Sản phẩm PCR-RFLP của đa hình VIP/ApoI
M: Thang chuẩn 100bp, DC: đối chứng; GG, TG, TT: kiểu gen; 1, 2, 3... Số thứ tự mẫu
d. BMPR-IB/HindIII
Kỹ thuật PCR-RFLP được áp dụng để phân tích kiểu gen trên tất cả các
gà thí nghiệm. Để xác định đa hình genBMPR-IB/HindIII sản phẩm PCR đạt
chất lượng tốt được ủ với enzyme HindIII. Sản phẩm được kiểm tra trên gel
agarose 3%, kết quả thu được 2 alen A và G tương ứng với 3 kiểu gen là AA,
GA và GG thể hiện ở Hình 4.11. Qua kết quả điện di trên gel cho thấy gà
mang kiểu gen GG không bị cắt bởi enzyme HindIII và cho 1 băng duy nhất
trên gel với kích thước 581 bp; gà mang kiểu gen dị hợp tử GA cho ba băng
với kích thước 581 bp, 294 bp và 287 bp và gà mang kiểu gen AA bị cắt thành
78
hai đoạn 294 và 287 bp, nhưng do hai băng này gần nhau nên chỉ thể hiện 1
băng trên gel. Kết quả nghiên cứu đa hình BMPR-IB/HindIII trên gà Nòi thí
nghiệm tương tự kết quả nghiên cứu của Zhang et al. (2008) trên các giống gà
Trung Quốc như giống gà Luqin,gà đẻ trứng thương phẩm, gà Jining Bairi,
Wenchang và Zang.
Hình 4.11. Sản phẩm PCR-RFLP của đa hình BMPR-IB/HindIII
MK: Thang chuẩn 100bp, DC: đối chứng dương; GA, AA, GG: kiểu gen; 1, 2, 3 Số thứ tự
mẫu
e. MTRN1C/MboI
Qua phân tích bằng kỹ thuật PCR-RFLP cho thấytrên trình tự mồi
MTRN1C,enzyme MboIchỉ cắt ở một vị trí duy nhất, cho ra 3 đoạn riêng biệt
với chiều dài lần lượt là 372,333 và 39 bp, tương ứng với kiểu gen AA (372
bp); kiểu gen AG (372 và 39 bp) và kiểu gen GG (333 bp ) điều này phù hợp
với kết quả nghiên cứu của Li et al. (2013)trên giống gà Erlang Mountain.
Hình 4.12. Sản phẩm PCR-RFLP của đa hình MTRN1C/MboI
MK: Thang chuẩn 100bp, DC: đối chứng dương; AG, GG: kiểu gen; 1, 2, 3 Số thứ tự mẫu
f. GH/SacI và GH/MspI
Kỹ thuật PCR-RFLP được áp dụng để phân tích kiểu gen trên quần thể
gà Nòi thí nghiệm. Đa hình GH/SacIvà GH/MspI được xác định bằng cách sử
dụng cặp mồi GH để khuếch đại vùng chứa vị trí đột biến với kích thước 1164
bp trên genGH. Đối với đa hình GH/SacI, sản phẩm PCR được cắt bằng
enzyme SacI. Kết quả điện di thể hiện qua Hình 4.13, cho thấy có 2 alen là A
và B, tương ứng với 2 kiểu gen AA (1020bp), AB (1020 bp, 570 bp, 450 bp và
144bp). Nghiên cứu của Makhsous et al. (2013) trên giống gà bản địa của Iran
cũng tìm thấy có hai alen A và B, tuy nhiên khác với nghiên cứu hiện tại
Makhsous et al. (2013) tìm thấy sự tồn tại của cả ba kiểu gen AA, AB và BB ở
đa hình GH/SacI.
79
Hình 4.13. Sản phẩm PCR-RFLP của đa hình GH/SacI (A2983B)
MK: Thang chuẩn 100bp, DC: đối chứng dương; AA, AB: kiểu gen; 1, 2, 3 Số thứ tự mẫu
Để xác định đa hình gen GH/MspI sản phẩm PCR đạt chất lượng được ủ
với enzyme cắt MspI. Đoạn gen GH sau khi được cắt bằng MspI thu được 3
alen A, B và C với 6 kiểu gen tương ứng là AA, AB, ABC, AC, BB và CC
(Hình 4.14). Qua kết quả điện di trên gel cho thấy những cá thể gà mang kiểu
gen AA thì ADN không bị cắt bởi enzyme MspI và cho 1 băng duy nhất có
kích thước 1164 bp; những cá thể mang mang kiểu gen AB bị phân cắt đoạn
ADN thành 2 đoạn thể hiện qua hai băng có kích thước 1164 bp và 578 bp trên
gel, kiểu gen AC cho ba băng có kích thước 1164 bp, 682 bp và 482 bp, kiểu
gen ABC cho 4 băng trên gel với kích thước là 1164 bp, 682 bp, 578 bp và 482
bp; kiểu gen CC cho hai băng trên gel với kích thước là 682 bp và 482 bp;
kiểu gen BB chỉ thể hiện một băng trên gel với kích thước là 578 bp. Kết quả
này phù hợp với kết quả của Makhsous et al. (2013) và Shahnaz et al. (2008),
trong đó, tác giả cũng cho rằng khi sử dụng enzym MspI cắt đoạn gen GH
trên giống gà Iran và giống gà Bantam và Leghorn trắng thì sẽ cho ra 6 kiểu
gen tương ứng với kích thước như trên.
Hình 4.14. Nhận diện đa hình GH/MspI bằng PCR-RFLP
MK: Thang chuẩn 100bp; AA, AB, AC, ABC: kiểu gen
g. NPY/DraI
Trên gen NPY (Genbank:M87298) tiến hành nghiên cứu điểm đa hình
NPY/DraI trước vị trí mã hóa 700 bp (Dunn et al., 2004).Cặp mồi NPY được
sử dụng để khuếch đại vùng chứa đa hình NPY/DraI của gen NPY với kích
thước 248 bp. Sản phẩm PCR sau đó được xác định kiểu gen bằng phương
pháp PCR – RFLP sử dụng enzyme DraI. Kết quả điện di trên gel 3% cho thấy
có 2 dạng alen là I (252 bp) và D (81 bp +167 bp), tương ứng với 3 kiểu gen II
(252bp), ID (252 bp, 167 bp, 81 bp) và DD (167 bp, 81 bp) thể hiện ở Hình
80
4.15. Kết quả phân tích trên phù hợp với công bố của Ravikuma et al. (2008)
trên gà Rhode Island Red B và gà Dahlam red cũng xác nhận hai alen A
(248bp) và B (167bp+75bp) với 2 kiểu gen AA và BB, không phát hiện kiểu
gen AB. Kết quả nghiên cứu của Li et al. (2009) và Xu et al. (2007); Xu et al.
(2011) trên một số giống gà bản địa Trung Quốc Wengchang, Ningdu
Shanghuang cũng cho thấy có hai alen I và D tương ứng với ba kiểu gen II, ID
và DD trên đa hình này. 
Hình 4.15. Kết quả xác định đa hình gen NPY/DraI (I31391359D)
bằng PCR-RFLP
MK: Thang chuẩn 100bp, DD, ID, II: kiểu gen; 1, 2, 3... Số thứ tự mẫu
4.2.2.4 Tần số kiểu gen và tần số alen
Đánh giá tần số kiểu gen và tần số alen là một bước rất quan trọng trong
quá trình nghiên cứu lai tạo và chọn giống. Kết quả cung cấp sự đa dạng di
truyền giữa các cá thể trong quần thể, bên cạnh đó sự kết hợp giữa kết quả về
đánh giá tần số kiểu gen, tần số alen và xác định sự liên kết của các alen với
kiểu hình giúp cho quá trình cải tạo chất lượng quần thể bằng cách tạo ra càng
nhiều cá thể mang kiểu gen hay kiểu hình mong muốn.
PRL
Kết quả phân tích đa hình PRL/AluI ở quần thể gà Nòi cho thấy tần số
alen T=0,83 chiếm tỷ lệ cao hơn so với tần số alen C tương ứng phần trăm cá
thể mang kiểu gen TT là cao nhất (0,69) trong khi tần số của hai kiểu gen còn
lại chiếm chưa đến 50% (CT=0,28, CC=0,03), kết quả phù hợp với nghiên cứu
của Cui et al. (2006). Theo cân bằng Hardy-Weinberg nếu tần số alen T trong
quần thể khảo sát là 0,83 và tần số alen C=0,17 thì tần số kiểu gen trong quần
thể tương ứng là TT=0,69, CT=0,28, CC=0,03. Trong khi tần số kiểu gen quan
sát trong nghiên cứu cho thấy kiểu gen TT=0,69, CT=0,28, CC=0,03. Kết quả
cho thấy tần số kiểu gen ở đa hình PRL/AluI tuân theo định luật Hardy-
Weinberg.
Đối với đa hình PRL/Csp6I, khi quan sát 211 gà Nòi cho thấy tần số
allen G (0,67) cao hơn tần số allen C (0,33). Kết quả ở Bảng 4.12 cũng thể
hiện tần số kiểu gen đồng hợp GG vàkiểu gen dị hợp CG (45%) thể hiện khá
81
cao so với kiểu gen đồng hợp tử CC (10%). Qua Bảng 4.12cũng nhận thấy, với
tần số allen G là 0,67 và tần số allen C là 0,33 thì tần số kiểu gen mong đợi
trong quần thể theo định luật Hardy - weinberg là GG (0,45), CG (0,44), CC
(0,11) khác biệt không có ý nghĩa thống kê với tần số kiểu gen quan sát, điều
này chứng tỏ đa hình PRL/Csp6I của gen PRL tuân theo định luật Hardy -
weinberg. 
Nghiên cứu của Cui et al. (2006) trên cả hai điểm đa hình PRL/AluI và
PRL/Csp6I cũng cho kết quả tương tự trên quần thể gà Yangshan, Taihe
Silkies 1, White Rock, Nongdahe và Taihe Silkies 2. Tuy nhiên trên giống gà
White Leghorn ở đa hình PRL/AluI không tìm thấy alen T và đa hình
PRL/Csp6I không tìm thấy alen G. Thêm vào đó, kết quả nghiên cứu của
Sarvestani et al. (2013) trên giống gà Fars cho kết quả trái ngược với nghiên
cứu hiện tại, khi đó alen C trong cả hai đa hình đều tồn tại với tỷ lệ cao trong
quần thể (lần lượt là 0,66 và 0,68). Tương tự, nghiên cứu của Abdi et al.
(2014) trên giống gà West-Azarbaijan cũng tìm thấy alen C (0,78) ở đa hình
PRL/AluI cao hơn so với alen T (0,22).
VIP
Bảng 4.12 cho thấy tần số alen và tần số kiểu gen của đa hình VIP/ApoI
ở quần thể gà Nòi. Kết quả phân tích cho thấy tần số kiểu gen đồng hợp TT
(0,50) chiếm tỷ lệ cao nhất trong quần thể, kế đến là tần số dị hợp GT=0,38 và
cuối cùng với tần số thấp nhất là kiểu gen đồng hợp GG=0,11. Tương ứng với
tần số alen T=0,56 cao hơn nhiều so với tần số alen G=0,44. Kết quả cũng cho
thấy tần số kiểu gen quan sát trong nghiên cứu khác biệt có ý nghĩa thống kê
so với tần số kiểu gen dự kiến theo định luật Hardy-Weinberg. Với tần số alen
T=0,56 và alen G=0,44 thì tần số alen dự kiến theo cân bằng Hardy-Weinberg
là TT=0,49, GT=0,19, GG=0,32. Như vậy theo định luật Hardy-Weinberg thì
tần số kiểu gen dị hợp GT=0,19 chiếm tỷ lệ thấp nhất trong quần thể trong khi
đối với tần số kiểu gen quan sát thì kiểu gen đồng hợp GG chiếm tỷ lệ thấp
nhất (11%). Kết quả cho thấy tần số kiểu gen ở đa hình VIP/ApoI không tuân
theo định luật Hardy-Weinberg. 
BMPR-IB
Kết quả phân tích đa hình BMPR-IB/HindIII ở quần thể gà Nòi cho thấy
tần số alen G=0,59 chiếm tỷ lệ cao hơn so với tần số alen A tương ứng phần
trăm cá thể mang kiểu gen GA là cao nhất (0,47), kế đến là kiểu gen GG (0,36)
và thấp nhất là kiểu gen AA (0,18). Bảng 4.12 thể hiện sự so sánh giữa tần số
kiểu gen quan sát trong nghiên cứu với tần số kiểu gen dự kiến theo định luật
Hardy-Weinberg. Theo cân bằng Hardy-Weinberg nếu tần số alen G trong
82
quần thể khảo sát là 0,59 và tần số alen A=0,41 thì tần số kiểu gen trong quần
thể tương ứng là AA=0,17, GA=0,48, GG=0,35 thể hiện không khác biệt với
tần số kiểu gen quan sát trong nghiên cứu cụ thể kiểu gen AA=0,18, GA=0,47,
GG=0,36. Kết quả cho thấy tần số kiểu gen ở đa hình BMPR-IB/HindIII tuân
theo định luật Hardy-Weinberg.
Zhang et al. (2008) nghiên cứu đa hình BMPR-IB/HindIII trên các giống
gà Trung Quốc (giống gà Luqin, gà đẻ trứng thương phẩm, gà Jining Bairi,
Wenchang) đều cho kết quả tần số alen A cao hơn nhiều so với tần số alen G.
Ngược lại ở giống gà Zang thể hiện alen G (0,59) cao hơn alen A (0,41) và kết
quả này thể hiện tương tự với nghiên cứu hiện tại trên gà Nòi. 
Bảng 4.12: Tần số alen và kiểu gen của các đa hình
Gen Quan sát Mong đợi HWE
Kiểu gen Alen Kiểu gen
PRL/AluI
(n=218)
TT CT CC T C TT CT CC
0,69 0,28 0,03 0,83 0,17 0,69 0,28 0,03 NS
PRL/Csp6I
(n=211)
CC CG GG G C CC CG GG
0,10 0,45 0,45 0,67 0,33 0,11 0,44 0,45 NS
VIP/ApoI
(n=204)
TT GT GG T G TT GT GG
0,50 0,38 0,11 0,56 0,44 0,49 0,19 0,32 <0,001
BMPR-IB/HindIII
(n=205)
AA GA GG A G AA GA GG
0,18 0,47 0,36 0,41 0,59 0,17 0,48 0,35 NS
MTRN1C/MboI
(n=207)
AA AG GG A G AA AG GG
0,06 0,40 0,54 0,26 0,74 0,07 0,39 0,54 NS
GH/SacI
(n=214)
AA AB BB A B AA AB BB
0,98 0,02 0,00 0,99 0,01 0,98 0,02 0,00 NS
NPY/DraI
(n=130)
DD ID II D I DD ID II
0,36 0,42 0,22 0,57 0,43 0,33 0,48 0,19 NS
Đa hình GH/MspI (n=209)
Tần số alen Tần số kiểu gen
A B C AA AB ABC AC BB CC
0,77 0,13 0,11 0,59 0,17 0,04 0,15 0,03 0,02
MTNR1C
Bảng 4.12 cho thấy tần số alen và tần số kiểu gen của đa hình
MTNR1C/MboI ở quần thể gà Nòi. Kết quả phân tích cho thấy tần số kiểu gen
đồng hợp GG (0,54) chiếm tỷ lệ cao nhất trong quần thể, kế đến là tần số kiểu
gen dị hợp AG=0,40 và cuối cùng với tần số thấp nhất là kiểu gen đồng hợp
AA=0,06. Tương ứng với tần số alen G=0,74 cao hơn nhiều so với tần số alen
A=0,26. Kết quả cũng cho thấy tần số kiểu gen quan sát trong nghiên cứu khác
biệt không có ý nghĩa thống kê so với tần số kiểu gen dự kiến theo định luật
Hardy-Weinberg. Với tần số alen G=0,74 và alen A=0,26 thì tần số alen dự
83
kiến theo cân bằng Hardy-Weinberg là AA=0,07, AG=0,39, GG=0,54 không
khác biệt với tần số kiểu gen quan sát AA=0,06, AG=0,40, GG=0,54. Điều này
cho thấy tần số alen và tần số kiểu gen của đa hình MTNR1C/MboI có thể đại
điện cho quần thể gà Nòi khảo sát. Li et al. (2013) khi nghiên cứu đa hình
MTNR1C/MboI ở gà Erlang Mountain cũng đã phát hiện tồn tại hai alen G
(0,51) và A (0,49). Tuy nhiên trong nghiên cứu của Li et al. (2013) thì kiểu
gen AG chiếm ưu thế với 64% trong khi đó ở gà Nòi kiểu gen này chỉ chiếm
40%.
GH/SacI
Qua đánh giá đa hình GH/SacI ở quần thể gà Nòi cho thấy tần số kiểu
gen đồng hợp AA=0,98 chiếm đa số so với kiểu gen dị hợp tử AB=0,02.
Tương ứng với tần số alen A (0,99) cao hơn so với tần số alen B (0,01). Bảng
4.12 thể hiện sự so sánh giữa tần số kiểu gen quan sát trong nghiên cứu với tần
số kiểu gen dự kiến theo định luật Hardy-Weinberg. Kết quả cũng chứng minh
rằng tần số kiểu gen và tần số alen ở đa hình GH/SacI của gà Nòi tuân theo
định luật Hardy-Weinberg, nếu tần số alen trong quần thể là A=0,99 và B=0,01
thì tần số kiểu gen theo định luật Hardy-Weinberg là AA=0,98, AB=0,02 và
BB=0,00 không khác biệt với tần số kiểu gen quan sát AA=0,98, AB=0,02 và
BB=0,00. Điều này cho thấy tần số alen và tần số kiểu gen của đa hình
GH/SacI có thể đại điện cho quần thể gà Nòi khảo sát.
Nghiên cứu đa hình GH/SacI trên các giống gà bản địa của Iran,
Makhsous et al. (2013) cũng cho thấy alen A luôn xuất hiện cao hơn alen B.
Thêm vào đó cả 3 kiểu gen AA, AB và BB đều được tìm thấy trong nghiên
cứu của Makhsous et al. (2013), trong khi đó nghiên cứu hiện tại trên gà Nòi
chỉ tìm thấy hai kiểu gen AA và AB với tần suất xuất hiện của kiểu gen BB là
rất thấp (2%).
GH/MspI
Khác với các đa hình trên đa hình GH/MspI tìm thấy 3 alen A, B và C
với 6 kiểu gen tương ứng là AA, AB, ABC, AC, BB và CC. Kết quả ở Bảng
4.12 cho thấy alen A chiếm tần số rất cao trong quần thể (77%), trong khi đó
hai alen B và C chỉ chiếm thấp hơn 25% trong quần thể gà Nòi khảo sát.
Tương ứng với alen A thì tần số kiểu gen AA chiếm hơn 50% trong quần thể,
tiếp theo là kiểu gen AB với 17%, kiểu gen AC với 15% trong quần thể nghiên
cứu. Trong khi đó thì các kiểu gen ABC, BB và CC chiếm tỷ lệ rất thấp dưới
5% trong quần thể gà Nòi nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu hiện tại cũng tương
tự với nghiên cứu của Makhsous et al. (2013) trên giống gà bản địa ở Iran.
Nhóm tác giả này cũng tìm thấy 3 alen A, B và C trên quần thể gà Iran, trong
84
đó alen A cũng chiếm ưu thế trong quần thể với 59,9%. Tuy nhiên ở sự xuất
hiện của các kiểu gen trong quần thể thì trong nghiên cứu của Makhsous et al.
(2013) kiểu gen AC lại chiếm tỷ lệ cao nhất 40,9%, tiếp theo là kiểu gen AA
(33,8%) trong khi đó nghiên cứu hiện tại kiểu gen AA lại chiếm tới 77%. Bên
cạnh đó, trong nghiên cứu hiện tại tìm thấy kiểu gen ABC và không tìm thấy
kiểu gen BC trong quần thể gà Nòi, ngược lại Makhsous et al. (2013) lại tìm
thấy kiểu gen BC và không tìm thấy kiểu gen ABC ở quần thể gà Iran.
NPY
Quan sát 130 gà Nòi cho thấy, tần số allen D (0,57) cao hơn tần số allen I
(0,43). Kết quả hiện tại cũng tương tự với nghiên cứu của Li et al. (2010) trên
giống gà bản địa Trung quốc và Abdi et al. (2014) trên giống gà bản địa West-
Azarbaijan, các tác giả cũng cho thấy alen a (tương ứng với alen D) với tần số
lần lượt là 0,54 và 0,76 hiện diện cao hơn alen A (tương ứng với alen d). Trái
với các nghiên cứu trên, nhóm tác giả Fatemi et al. (2012) tìm thấy alen A/d
(0,78) cao hơn alen a/D trên quần thể gà bản địa ở Mazandaran. Kết quả ở
Bảng 4.12 cũng thể hiện tần số kiểu gen dị hợp tử ID là khá cao (42%) so với
hai kiểu gen còn lại, trong đó đồng hợp tử II là thấp nhất (22%). Qua Bảng 20
ta cũng nhận thấy, với tần số allen D là 0,57 và tần số allen I là 0,43 thì tần số
kiểu gen mong đợi trong quần thể theo định luật Hardy - weinberg là DD
(0,33), ID (0,48), II (0,19) khác biệt không có ý nghĩa thống kê với tần số kiểu
gen quan sát thể hiện qua giá trị P, điều này chứng tỏ đa hình NPY/DraI của
gen NPY tuân theo định luật Hardy - weinberg.
4.2.3 Xác định mối liên quan giữa một số đa hình gen dự tuyển với năng
suất sinh sản của gà Nòi nuôi tại ĐBSCL
4.2.3.1 Đa hình PRL
 Đa hình PRL/AluI
Ở gia cầm, PRL là một hormone quan trọng trong việc kích thích và
duy trì hoạt động ấp và điều tiết sự phát triển nang trứng (Sharp et al., 1988;
Reddyet al., 2002). Gần đây, một số lượng lớn các SNP trên gen PRL ở gà đã
được nghiên cứu. Cui et al. (2006) đã tiến hành lấy 6 SNP (C2402T, C2161G,
T2101G, C2062G, T2054A và G2040A) và một đột biến 24-bp indel
(insertion-deletion) từ trình tự được giải để phân tích sự liên kết với tính trạng
sinh sản, kết quả cho thấy đột biến 24-bp indel liên kết với tính trạng ấp nở và
sản xuất trứng của gà. Bên cạnh đó, ba đột biến (C1607T, C5749T và T5821C)
cũng đã được nghiên cứu bởi Liu et al. (2007), kết quả cho thấy có sự tương
quan giữa các haplotype và sự sản xuất trứng. Trong nghiên cứu của
Sarvestani et al. (2013) trên giống gà bản địa Fars tìm thấy những cá thể mang
85
kiểu gen CC cho số lượng trứng cao và khác biệt có ý nghĩa so với kiểu gen
TT và GG ở cả hai đa hình PRL/AluI và PRL/Csp6I. Tất cả các kết quả trên
cho thấy, gen PRL là một gen ứng cử quan trọng trên sự sản xuất trứng. Trong
nghiên cứu hiện tại tiến hành nghiên cứu tác động của hai đa hình gen
PRL/AluI và PRL/Csp6I, tuy nhiên chỉ tìm thấy tác động của đa hình
PRL/Csp6I đến tính trạng sinh sản ở gà Nòi thí nghiệm.
Bảng 4.13: Năng suất sinh sản theo kiểu gen của đa hình PRL/AluI
Chỉ tiêu Kiểu gen P
CC (n=5) CT (n=46) TT (n=123)
Tuổi đẻ quả trứng đầu (ngày) 164,8±7,5 177,3±2,5 177,9±1,7 0,227
Khối lượng gà mái vào đẻ (kg) 1,94±0,14 1,75±0,05 1,76±0,03 0,462
Khối lượng trứng (g) 47,2±1,6 45,3±0,5 45,6±0,3 0,431
Chỉ số hình dáng trứng (%) 76,2±1,8 76,4±0,6 76,4±0,4 0,994
Tổng số trứng (quả) 94,2±13,8 97,6±4,5 100,1±2,7 0,835
Tỷ lệ trứng có phôi (%) 84,8±4,2 87,2±1,4 84,9±0,9 0,385
Tỷ lệ nở/trứng có phôi (%) 89,7±4,4 88,6±1,4 86,2±0,9 0,289
Số gà con nở ra (con) 73,2±12,2 76,1±4,0 74,0±2,5 0,906
a b những chữ trên cùng một hàng giống nhau thì khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P>0,05)
 Đa hình PRL/Csp6I
Tuổi đẻ quả trứng đầu được tính từ lúc gia cầm nở ra cho đến khi đẻ quả
trứng đầu tiên hoặc tính trên đàn khi đạt tỷ lệ đẻ 5% (Bùi Hữu Đoàn và ctv,
2011). Những nghiên cứu trước đây cho thấy khối lượng trứng, khối lượng cơ
thể và tuổi đẻ quả trứng đầu tiên có tương quan dương (hệ số tương quan
tương ứng 0,31 và 0,35) (Bùi Quang Tiến và Nguyễn Hoài Tao, 1985). Do đó
nếu rút ngắn tuổi đẻ quả trứng đầu thích hợp có thể cải thiê ôn năng suất đẻ
trứng của gà. Nghiên cứu hiện tại cho thấy, đa hình PRL/Csp6I ảnh hưởng
mạnh đến tuổi đẻ quả trứng đầu của quần thể gà Nòi thí nghiệm. Trong đó kiểu
gen CC (170,4 ngày) thấp hơn và khác biệt có ý nghĩa (P=0,005) so với kiểu
gen GG (181,9 ngày). Bên cạnh đó, kết quả ở Bảng 4.14cũng cho thấy, những
cá thể mang kiểu gen CC có tuổi đẻ quả trứng đầu thấp hơn hai kiểu gen còn
lại nhưng thể hiện khối lượng gà mái vào đẻ (1,97 kg) và khối lượng trứng
(47,4 g) cao hơn và khác biệt có ý nghĩa so với những cá thể mang kiểu gen
GG(1,71 kg và 44,9 g). Thêm vào đó, kết quả nghiên cứu hiện tại cũng cho
thấy, kiểu gen CG thể hiện không khác biệt so với kiểu gen CC nhưng do kiểu
gen CG là kiểu gen dị hợp không ổn định trong các thế hệ tiếp theo, vì vậy
những cá thể mang kiểu gen CC có thể được xem như là chỉ thị di truyền trong
việc nâng cao năng suất trứng của nhóm gà Nòi thí nghiệm.
Bảng 4.14: Năng suất sinh sản theo kiểu gen của đa hình PRL/Csp6I
86
Chỉ tiêu Kiểu gen P
CC (n=17) CG (n=75) GG (n=78)
Tuổi đẻ quả trứng đầu (ngày) 170,4b±3,9 174,9b±3,7 181,9a±4,1 0,005
Khối lượng gà mái vào đẻ (kg) 1,97a±0,08 1,76b±0,04 1,71b±0,04 0,013
Khối lượng trứng (g) 47,4a±0,8 46,0ab±0,4 44,9b±0,4 0,012
Chỉ số hình dáng trứng (%) 76,3±0,9 75,9±0,5 76,9±0,5 0,314
Tổng số trứng (quả) 94,3±7,5 101,6±3,6 97,2±3,5 0,553
Tỷ lệ trứng có phôi (%) 87,5±2,3 86,5±1,1 84,2±1,1 0,204
Tỷ lệ nở/trứng có phôi (%) 91,1±2,4 87,3±1,2 85,5±1,1 0,089
Số gà con nở ra (con) 76,6±6,6 77,8±3,1 70,1±3,1 0,200
a b những chữ trên cùng một hàng giống nhau thì khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P>0,05)
 Haploty

File đính kèm:

  • pdfluan_an_dac_diem_ngoai_hinh_da_hinh_gen_va_ung_dung_chi_thi.pdf
  • pdf02 Tom tat luan an theo mau (tieng Viet).pdf
  • pdf03 Tom tat luan an theo mau (tieng Anh).pdf
  • docx04 Trang thong tin luan an tieng Viet.docx
  • docx05 Trang thong tin luan an tieng Anh.docx