Luận án Giải pháp thúc đẩy mức tham gia của cộng đồng vào chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tỉnh Trà Vinh

Trang 1

Trang 2

Trang 3

Trang 4

Trang 5

Trang 6

Trang 7

Trang 8

Trang 9

Trang 10
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 10 trang mẫu của tài liệu "Luận án Giải pháp thúc đẩy mức tham gia của cộng đồng vào chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tỉnh Trà Vinh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Luận án Giải pháp thúc đẩy mức tham gia của cộng đồng vào chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tỉnh Trà Vinh

àm chủ thể ở thế chủ động để hành vi vận động của công tác này đi đúng trọng tâm mục tiêu tuyên truyền cuối cùng cần hướng đến. Hay sự phối hợp các bên tác chiến trong tuyên truyền qua các cách phối hợp: hiệp hành, hiệp động trong cách thức phát triển sản xuất hay tăng thu nhập cho người dân. Cụ thể trên mô hình mẫu nào thành công được chọn, dễ thực hiện làm minh họa trực tiếp, trực diện đóng vai người thực, việc thực như thể vai trò dân thường lam lũ, bươn chải mà hiểu họ hơn các nỗi khó, nỗi khổ của thường dân mà bắt đầu ngay tại vị trí khởi điểm của dân để mà đồng thanh, đồng khí, đồng lý, rồi đồng tình để chia sẽ, thì lúc này có lẽ họ thấy thấu cảm và lắng lòng với cán bộ mà đồng hành về mục tiêu phía trước. Ngoài ra việc hướng dẫn cần phải ngọn nguồn với những thông điệp đơn giản về ngữ nghĩa dễ hiểu, dễ nhớ về những gì gọi là hiệu quả tác động nhận thức mang lại đi vào trọng tâm của con người thời đại mới. Để họ hiểu rằng: Trong chiến dịch đi XDNTM bước đầu để việc thực thi luôn theo trình tự từ trong ra ngoài tức là cách thức xây dựng lối sống văn hóa bắt đầu từ văn hóa gia đình đến văn hóa CĐ ra sao. Trong đó nhấn mạnh việc giữ gìn phát huy bản sắc thuần phong mĩ tục ở nông thôn là giữ những giá trị nào mang đậm đà ý nghĩa về sự thuần khiết, tinh túy từ trong con người ở nông thôn và sự trong lành ở bầu sinh khí, sinh quyển làm nên nền nông nghiệp xanh với yếu tố sinh thái xanh trong môi trường NTM. Dù là tiến đến liên hiệp rút dần khoảng cách nông thôn –thành thị nhưng không biến chất nguyên vẹn đúng nghĩa tăng trưởng xanh thì mới là sự đổi mới trong phương thức tuyên truyền có trọng tâm về chất và xem đây là tiêu chí đánh giá hiệu quả cần để tâm ở phút đầu của khâu tổ chức. Tất cả các hành vi tham gia ở phía tạo năng lực tham gia như trên đó gọi là sự tham gia đầu vào với khâu tuyên truyền ý thức tự giác được xem là mấu chốt của khái niệm truyền lửa tham gia tại gốc. Thay đổi cách làm để tác động nhận thức cao nơi CĐ đạt hiệu quả mới là điều quan trọng. Đồng thời có được sự lựa chọn hay cân nhắc các hình mẫu là các công dân nào xứng danh đủ điều kiện được tập thể đánh giá là tấm gương sáng, được thần tượng bởi số đông CĐ ủng hộ. Cần có sự đánh giá khách quan về phong cách, lối sống nếu nhiều cá nhân mẫu mực được tuyên dương sẽ đóng góp cho mô hình rộng hơn làm nên CĐ mẫu mực có sức lan tỏa sớm được chính thức đưa vào ứng dụng kịp thời. Với tiêu chí điển hình của phong cách đặc trưng ở người luôn vì CĐ là: luôn có biểu hiện về sự thân thiện, cởi mở và khả năng hòa hợp cao, tính thích ứng tốt với mọi hoàn cảnh thì ưu tiên nhân rộng cấp số nhân cùng hành động nhân thật rộng, tác động sự thức của CĐ thật sâu ở việc thay đổi nếp nghĩ, cách hành xử và thái độ bộc lộ sự am tường hiểu tận về mục tiêu ý nghĩa sâu xa của vấn đề và cần có kế hoạch, chiến lược thực thi cụ thể hơn ngay từ khâu đầu. Nhìn chung biểu hiện của việc nhận thức được đánh giá chưa cao phần lớn từ nhận xét, đánh giá ở kết quả đợt 1 về hành vi tham gia từ bên trong cao hay thấp qua thái độ biểu hiện tích cực hay tiêu cực sẽ được nhìn nhận bên ngoài là mức độ tham gia năng động hay thụ động. Ngoài ra còn được đánh giá qua sự biểu hiện về khả năng vận động não: tư duy cải thiện, ý thức được chuyển biến kể từ khi CĐ tự giác, tự chủ vào cuộc nâng mức tham gia của những con người nơi mà hoạt động NTM được diễn ra là cao hay thấp bắt đầu ở khâu tiếp cận thông tin đầu vào đến xử lý thông tin và nhận phản hồi qua kết quả đầu ra ra sao? Trong các mức (Biết, hiểu, nhận định) đầu vào của tiếp nhận, phân tích, xử lý thông tin và ủng hộ thông qua tham gia các mức “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” được đánh giá ở đầu ra. Song việc nâng cấp, cải thiện vấn đề hạn chế, rào cản tham gia chỉ có thể được thực hiện khi có sự đánh giá đúng thực trạng công tác tuyên truyền. Tất cả các mặt đạt được và hạn chế được đánh giá, hệ thống rõ qua bảng tổng kết sau: Bảng 4.9 Đánh giá hệ thống các kết quả công tác tuyên truyền giai đoạn 1 Thành tựu Hạn chế - Nội dung: thể hiện tính cấp thiết, đầy đủ và có chú trọng chất lượng tuyên truyền - Biên soạn, phân loại chủ đề, thông điệp chưa thật sự súc tích dễ hiểu; Chưa tùy đối tượng các nhóm CĐ (theo từng chức năng hội đoàn thể) mà lựa chọn nội dung sao cho phù hợp giúp sự tự biết lên tiếng, đi vào lòng người về ý nghĩa của thông điệp và mục tiêu cuối cùng chương trình qua thông điệp đến CĐ - Hình thức: phong phú (phát tài liệu bướm, pano...), đa dạng, có lồng ghép giữa lý thuyết và thực tiễn, phương tiện công cụ trực quan sinh động - Mang nặng tính văn bản, chỉ thị có vẻ nặng nề tính chính thức, khó tiếp thu tiếp cận, khó thuyết phục vì chưa thật sự truyền tải dưới dạng ngôn ngữ theo từng địa phương, chưa liên tưởng, liên hệ lấy ví dụ tham gia NTM là tham gia hoạt động trong cuộc sống thường nhật - Phương thức tổ chức: có sự đa dạng, có sự cải thiện sau mỗi lần tổng kết đánh giá hướng đến đạt chất lượng tuyên truyền - Chưa sử dụng hiệu quả hết các phương pháp (phương pháp nào đi với công cụ tương thích nào để hiệu quả truyền thông tăng cao). Chưa tập huấn phương pháp chuyên biệt cho đội ngũ chuyên nghiệp dành riêng cho nhiệm vụ này - Mang tính phong trào, chưa sâu lắng, làm cho có nhưng thiếu kiên trì, chưa gắn chặt với vận động, giáo dục, thuyết phục; thiếu tính nêu gương của gia đình, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức nên vẫn còn một bộ phận không nhỏ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức chưa tốt về nhiệm vụ XDNTM, chưa thấy hết lợi ích đạt được khi XDNTM thành công và chưa thấy rõ trách nhiệm của mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi người trong XDNTM; còn thờ ơ, ỷ lại, trông chờ, thiếu chủ động, tích cực. - Chưa lưu ý tổ chức sắp xếp tương ứng, thích hợp với từng nhóm đối tượng giữa bên cho -đội ngủ ưu trội chưa chú trọng tuyển chọn theo tiêu chí dành riêng cho nhiệm vụ trọng yếu này (người có uy tín, có tầm ảnh hưởng, tôn trọng, yêu thương, hòa mình, am hiểu vốn kiến thức nền, nắm vững phong tục tập quán, vốn hiểu biết về văn hóa xã hội cao, kỹ năng lắng nghe tốt, kỹ năng lập kế hoạch, kỹ năng truyền thụ, quản lý thực hiện các chương trình truyền thông, kênh, sản xuất tài liệu truyền thông) và bên nhận: thuộc các nhóm đặc điểm cá nhân mang tính khác biệt (xét về tâm lý, giới, tuổi tác, trình độ học vấn, tôn giáo, nghề nghiệp) đảm bảo tương thích, phù hợp về thời gian địa điểm. - Chưa chú trọng hiệu quả thông điệp cho mỗi lần truyền tải đi sẽ được bao nhiêu kết quả phản hồi về - Sự phối hợp các bên nhất là các đoàn thể trong thời gian đầu chưa chặt chẽ, tư tưởng mạnh ai nấy làm, chưa có sự phân công cụ thể. - Kỹ năng truyền đạt còn yếu kém, chưa “đỉnh điểm” cao trào của tâm huyết, sự lan tỏa “lửa lòng” kích hoạt tham gia - Lựa chọn kênh chưa phù hợp, nhiễu kênh thông tin (Nguồn: Tác giả nghiên cứu đề xuất, 2018) Qua kết quả hệ thống về ưu điểm, hạn chế của công tác tuyên truyền đầu vào tiến trình XDNTM cũng phần nào dự đoán được kết quả đầu ra mức độ tham gia thực hiện TC sẽ cao hay thấp. Bởi vì các kết quả đạt TC xã NTM này được đo lường tùy vào kết quả phần trăm mức độ nhận thức, hiểu biết, lĩnh hội của CĐ về CTMTQGXDNTM có cao hay không? Và thực tế kết quả thực hiện tham gia các nội dung từ tổng quan toàn tiến trình XDNTM đến chi tiết từng bước luôn lệ thuộc vào sự nhận thức từ bên trong lẫn tác động hỗ trợ nâng nhận thức bên ngoài thông qua GDĐT chính thức và các hoạt động liên quan đến lĩnh vực này nhất là hoạt động tuyên truyền hiệu quả). Song trên thực tế, phần lớn là điểm hạn chế nhiều hơn là điểm thuận lợi mà công tác này tổng kết được ở phía nội bộ, ngoài ra còn nhiều yếu tố ngoại cảnh tác động ở những lĩnh vực khác nhau làm nên thực trạng nhận thức CĐ mà công tác này còn nan giải (Yếu tố thuộc về bối cảnh xã hội bên ngoài con người. Tuy nhiên nhận thức thường từ bên trong con người mà ra nên các yếu tố nền tảng làm nên nhận thức như học vấn, trình độ văn hóa, giáo dục cũng tác động không nhỏ đến kết quả tham gia. Vì những lý do nhất định trong đó nghiên cứu khẳng định việc nhận định được mấu chốt ở hiệu quả tác động ý thức sẽ quyết định trong việc cải thiện năng lực nền tảng cho cá nhân trước mắt (Mặt bằng dân trí đạt được có nâng cao hay không ở đầu ra sau khi khâu tuyên truyền nổ lực tác động) là cực kỳ quan trọng và điều này lệ thuộc chủ yếu vào 2 yếu tố: (i) Hiệu quả của công tác GDĐT; (ii) Sự phối hợp kiên trì và xuyên suốt của công tác GDĐT chính thức với công tác tuyên truyền. (Điều này giúp cá nhân hấp thụ tốt kiến thức nền với các thông điệp cuộc sống đầy ý nghĩa được nhắc nhở mỗi ngày sẽ góp phần lớn vào nâng cao, nâng đều mặt bằng dân trí cũng sẽ làm tăng yếu tố hiệu quả của bất cứ nhiệm vụ tuyên truyền nội dung thuộc chương trình, dự án nào cho CĐ làm nên sự tương quan chặt chẽ trong việc góp phần tăng hiệu quả, tăng chất lượng của một yếu tố có thể xem là công cụ truyền dẫn đắc lực hay là cầu nối trung gian của 2 phía cung cấp thông tin và tiếp nhận thông tin hướng đến mục tiêu nhận thức được nâng cao). 4.1.3.2 Công tác huy động vốn trong XDNTM tại Trà Vinh Để điều phối thành công hoạt động XDNTM thì tỉnh không chỉ ra sức rầm rộ trong huy động nguồn nhân lực, vật lực là đủ mà còn huy động một nguồn lực khác nữa cực kỳ quan trọng là tài lực. Đã huy động được 5.805 tỷ đồng, kế hoạch chỉ 4.623 ngàn tỷ cụ thể như bảng và sơ đồ minh họa: Bảng 4.10 Huy động nguồn lực tài chính XDNTM tại Trà Vinh STT Nguồn vốn Kế hoạch huy động GĐ 2011-2015 Kết quả huy động GĐ 2011 – 2015 +/- Tỷ lệ (%) 1 NSNN hỗ trợ trực tiếp 340 341 1 0,5 2 Vốn lồng ghép 1.800 1.840 40 16,2 3 Vốn tín dụng 2.200 2.287 87 35,6 4 Vốn doanh nghiệp 150 177 27 11,1 5 Cộng đồng dân cư 1.000 1.084 84 34,1 6 Nguồn khác 70 76 6 2,4 Tổng số 4.623 5.805 245 100,0 (Nguồn: Tác giả tổng hợp từ BCĐ XDNTM Trà Vinh và đề xuất, 2006) Qua kết quả huy động nguồn lực tại Trà Vinh cho thấy: Thuận lợi: (i) Vốn Ngân sách nhà nước: hỗ trợ trực tiếp đạt rất thấp so quy định 5,87% /40%. Tỷ lệ nguồn vốn trực tiếp từ Trung ương kết hợp nguồn vốn lồng ghép đạt 37,57%, đạt gần bằng nguồn vốn phân bổ trực tiếp từ trung ương 40%; (ii) Vốn tín dụng: đạt cao hơn so quy định 35,6% /30%, (khó khăn lớn mà tỉnh phải đối diện vì với nguồn vốn vay quá nhiều đối với một tỉnh nghèo sẽ không mang lại hiệu quả lớn); (iii) Vốn doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế (nguồn khác): đạt rất thấp so quy định 11,1% /20%; (iv) Vốn CĐ dân cư: đạt rất cao so quy định 34,1% /10% (được xem là thuận lợi cho việc phát triển kinh tế) điều này cho thấy người dân đã bước đầu ý thức được tầm quan trọng với vai trò tham gia của mình trong đóng góp vào việc XDNTM. Tuy nhiên, tỉnh cũng có khuynh hướng của dấu hiệu huy động quá sức dân nhưng sử dụng còn chưa hiệu quả nên vốn luôn thiếu cho các hoạt động tham gia vào các TC nền tảng nhằm tăng thu nhập nâng cao chất lượng sống CĐ. Cần xem xét lại việc huy động nguồn lực này trong tương lai để hoàn thiện hầu hết các tiêu chí xét cả về lĩnh vực cơ sở hạ tầng lẫn kinh tế, ưu tiên khía cạnh nào là tùy từng thời điểm, tùy đối tượng, tùy thực tiễn nơi CĐ để cơ cấu vốn được phân bổ trọng tâm vào các TC được cho là nền tảng tránh tình trạng cơ cấu phân bổ dàn trải dù là vốn cho đầu tư cơ sở hạ tầng thiếu; Cân nhắc một số công trình không khai thác sử dụng triệt để hết tính năng gây lãng phí lại được là chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu vốn trong khi đó nguồn lực của tỉnh có giới hạn cũng như khả năng đối ứng của người dân thấp. Khó khăn (i) Khó khăn trong xoay trở các nguồn lực: Các nguồn lực còn rời rạc, phân tán, thiếu tập trung, nhất là khó khăn về nguồn nhân lực “cốt cán” phục vụ đắc lực cho XDNTM; (ii) Thiếu cán bộ năng lực đảm nhiệm chuyên trách cho XDNTM nhất là khâu tuyên truyền vận động, đòi hỏi sự am tường hiểu rõ mục tiêu ý nghĩa của CTMTQGXDNTM, đòi hỏi người cán bộ phải nhiệt huyết, nhiệt tâm và có các kỹ năng làm việc công chúng, đảm bảo tính thuyết phục khi chia sẻ, thuyết trình; (iii) Cơ chế huy động nội lực CĐ còn chưa hiệu quả, chưa thu hút được sự tham gia của doanh nghiệp vào XDNTM; việc mời gọi các đóng góp từ bên ngoài chưa nhiều (Đóng góp của các Viện nghiên cứu trong chuyển giao ứng dụng khoa học kỹ thuật, quy trình sản xuất tiến bộ,). Cơ chế lồng ghép các nguồn lực từ các chương trình, dự án chưa rõ ràng và chưa quan tâm tới đặc thù từng địa phương. (Thực tế các địa phương mới chỉ tiến hành ghép vốn đối với các công việc, mục tiêu có cùng nội dung. Tuy nhiên, điều này lại gây khó trong tổng hợp kết quả đạt được của từng dự án, chương trình từ việc ghép các nguồn vốn của các chương trình, dự án trên địa bàn. Vì cần phải có nhiều nguồn vốn đầu tư, nhưng thực tế Trà Vinh là tỉnh nghèo, ngân sách không đảm bảo, TW đầu tư có hạn, việc huy động vốn trong dân còn nhiều khó khăn. Phối hợp đánh giá rà soát thực trạng và nhu cầu đầu tư hoàn thành các TC các xã ở từng lĩnh vực chưa chặt chẽ, chính xác, chưa đúng yêu cầu thực tế nên một số TC đề nghị mức vốn đầu tư quá cao, không khả năng triển khai, dẫn đến chậm trễ) Tóm lại, còn hạn chế khâu huy động nguồn lực dân trong việc đầu tư hạ tầng nông thôn; việc triển khai các nội dung về phát triển sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động, tham gia các dự án, mô hình nâng cao thu nhập đảm bảo đầu ra cho hàng hóa nông sản còn nhiều khó khăn (nhiều mô hình sản xuất có hiệu quả, tiết kiệm, chậm được nhân rộng vì thiếu vốn). Chưa thu hút được sự tham gia của các doanh nghiệp đầu tư vào xã NTM, vào chuyển giao ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất chưa nhiều. Cần phải phát huy vai trò chủ thể của người dân để có nguồn lực mạnh mẽ, vai trò chủ thể của người dân trong XDNTM thể hiện ở chỗ người dân chính là người tham gia xây dựng kế hoạch, chương trình và tổ chức thực hiện việc XDNTM ở địa phương mình. Vai trò của Nhà nước, chính quyền địa phương chỉ là hỗ trợ, thúc đẩy, định hướng dân là chính nhưng với điều kiện chính quyền việc “lợi dụng sức dân để mà làm lợi ích cho dân” trọn vẹn. Đúng với tinh thần học tập và làm theo tư tưởng của Hồ Chí Minh. Quan điểm đã nhắn nhủ việc cần phải phát huy hơn nữa vai trò chủ thể của người dân trong XDNTM vì nguồn lực của Nhà nước rất hạn hẹp trong khi đó nguồn lực từ trong nhân dân rất dồi dào, phải huy động tối đa các nguồn lực mới có thể đem lại thành công. Tóm lại thực tiễn XDNTM ở các địa phương cho thấy nơi nào huy động được trí tuệ, tâm huyết, tiền của, công sức của mỗi người dân cùng với Nhà nước và địa phương càng nhiều, nơi đó sớm về đích xã NTM và ngược lại. 4.1.4 Công tác triển khai huy động tham gia CĐ toàn tiến trình XDNTM 4.1.4.1 Thực trạng tham gia CĐ XDNTM trong từng nhóm tiêu chí Kết quả sau tổng kết ở 5 nhóm TC lớn cũng được nhà nước chỉ đạo và nhân dân cùng chung tay đã thể hiện qua sơ đồ minh họa sau: Hình 4.3 Mức độ tham gia của Cộng đồng trong thực hiện các nhóm tiêu chí (Nguồn: Kết quả điều tra khảo sát số liệu sơ cấp tại Trà Vinh, 2016) Nhóm TC 1 (nhóm quy hoạch) Theo quan điểm toàn diện thì nhóm QH và thực hiện QH đóng vai trò chủ yếu, bản chất chi phối trực tiếp đến các nhóm khác nên thực hiện thành công nhóm này sẽ có ý nghĩa hết sức quan trọng (bộ xương của cơ thể con người). Nếu QH không đúng hướng sẽ khó khăn cho quá trình thực hiện dẫn đến lãng phí nguồn lực. Với vai trò hết sức quan trọng của công tác QH và quản lý QH, ngay khi thực hiện các TC XDNTM, các Đề án QH tổng thể tỉnh, cũng như các đề án cấp huyện, cấp xã đã phải được duyệt trước khi thực hiện. Đến nay, tiêu chí này có 85/85 xã đạt là nhờ nỗ lực hợp tác của dân. Bảng 4.11 Hình thức đóng góp trong quy hoạch xây dựng NTM Đóng góp nội dung quy hoạch NTM Đặc điểm hộ Tổng Giàu, khá Trung bình Nghèo, cận nghèo Không tham gia Tần số 48 86 58 192 Phần trăm 36,6 54,4 50,0 47,4 Trách nhiệm Tần số 32 34 27 93 Phần trăm 24,4 21,5 23,3 23,0 Quyết định Tần số 51 38 31 120 Phần trăm 38,9 24,1 26,7 29,6 Tổng Tần số 131 158 116 405 Phần trăm 100 100 100 100 (Nguồn: Kết quả điều tra khảo sát số liệu sơ cấp tại Trà Vinh, 2016) Qua Kiểm định Chi square có sự khác biệt giữa 3 loại hộ (mức ý nghĩa 5%) cho thấy mức sẵn lòng đóng góp của người dân trong QH XDNTM là khác nhau, cụ thể theo minh họa Bảng 4.11 mức đóng góp về trách nhiệm của những nông hộ nghèo trong XDNTM thấp hơn so với những loại hộ khác (23,3%) phần lớn là dân chưa chủ động hoặc không phối hợp tham gia. Hộ giàu thì được tham gia ở mức cao hơn so với nhóm hộ còn lại. Hộ trung bình và hộ khá, giàu (51%) sẵn sàng đóng góp hơn, tập trung nhiều ở mức tham gia ra quyết định. Tóm lại, công tác QH có sự tham gia và năng lực liên kết tham gia tương tác giữa các nhà, nhất là cơ hội nhà nông trong QH nông thôn còn bất cập. Phần lớn do nhà nước với công tác quản lý QH còn thiếu. QH chiến lược phát triển nông nghiệp và QH cấp vùng gắn với sự tham gia dân chưa được chú trọng. Công tác quản lý, khai thác sử dụng chỉ dừng lại ở phần nào đó của sản phẩm QH, thậm chí là sản phẩm đó còn chưa mạnh dạn được sử dụng hiệu quả, ngoài ra còn vấn đề về xung đột lợi ích gây lãng phí, có thể lượng hóa được, đôi khi không lượng hóa được gây mất niềm tin của dân. Mà hạn chế này do bởi các nguyên nhân bất cập còn tồn tại ở lý thuyết (Tạ Quỳnh Hoa, 2018) trong QH đô thị có sự tham gia CĐ và thực tế cả ở lĩnh vực QH nông thôn trong quá trình đô thị hóa: (i) Chưa đảm bảo các nguyên tắc xây dựng QH: năng lực chuyên môn dân về QH còn yếu kém. (ii) Chưa xây dựng được lòng tin giữa các bên liên quan khó có sự cố gắng đạt đến sự thấu hiểu lẫn nhau giữa các bên liên quan để giảm bớt mâu thuẫn, xung đột về lợi ích và tăng cố kết tham gia vì mục tiêu sau cùng của công tác QH nhanh chóng được thực hiện; (iii) Chưa xác định rõ ràng và hợp nhất các mục tiêu và động lực huy động sự tham gia QH trong toàn tiến trình; (iv) Thiếu tương tác nhất là từ dưới lên xuất phát từ nhu cầu của thị trường (QH cái dân cần không phải cái mà nhà QH “tự vẽ”); (v) Chưa tiếp cận đa chiều có sự tham gia của 4 Nhà (Quản lý – Đầu tư – Tư vấn – Nông) trong QH nông thôn. Nhà tư vấn & Nhà quản lý: Chỉ xem huy động tham gia nhà nông chủ lực ở mức độ thông báo và lấy ý kiến CĐ (là bắt buộc để hoàn thiện thủ tục trình phê duyệt, xem chiếu lệ với các đồ án NTM thực tế, lấy ý kiến tư vấn theo khuôn mẫu sẵn và vì do thuê ngoài). Nhà đầu tư (Chủ đầu tư): đặt lợi nhuận kinh tế hàng đầu (đặc biệt là các nhà đầu tư tư nhân: chưa nhận thức đúng đắn về vai trò sự tham gia của nhà nông làm trọng tâm và hiệu quả quy hoạch là đi đôi. QH chỉ dừng lại với tâm lý tất nhiên thường tình đơn giản đỡ tốn kém vì có huy động cũng không thể nào triệu tập và chần chừ mất thời gian lại vấn đề năng lực chuyên môn QH “dân mù tịt”. Vậy nên huy động sự tham gia dân trong thực tế chỉ là một thủ tục hành chính rườm rà (cắt giảm tối đa chi phí thời gian, nhân lực, vật lực thì mới tối đa được lợi nhuận đầu tư) và xem việc thực hiện huy động tham gia một cách thực chất chỉ qua việc họ lồng ghép các thủ tục lấy ý kiến dân kiểu “hình thức cho có lệ”. Trong khi đó Nhà nông còn bất hợp tác vì mọi đồ án QH đều phần lớn dân bị áp đặt “vào thế đã rồi”, nhất là khâu giải phóng mặt bằng di dời bởi lẽ họ bị bỏ qua chỉ vì nhận thức chuyên môn QH còn hạn chế, thiếu thông tin về nội dung của dự án và cách thức tác động, luôn cảm thấy bị ảnh hưởng về sự tự phát QH. Và tác hại về sự ảnh hưởng ngoài mong đợi do chưa dò khảo dân ý nơi đồ án đến môi trường sống, quyền lợi và nghĩa vụ của dân một khi đồ án chưa được dân đồng tình ủng hộ mà lại ban hành triển khai luôn xãy ra. Hoặc cái khó là khi được mời tham vấn, đóng góp ý kiến cho đồ án nhưng họ không biết, không hiểu rõ cơ chế giải trình, phản hồi thông tin của cơ quan quản lý, không biết những ý kiến đóng góp của mình được tiếp thu như thế nào. (vi) Thiếu công khai, minh bạch trong quá trình huy động sự tham gia của dân. Do đó mà sự liên kết kinh tế, sự tương hỗ công tác tham gia QH hạ tầng KTXH chưa cao giữ
File đính kèm:
luan_an_giai_phap_thuc_day_muc_tham_gia_cua_cong_dong_vao_ch.docx
LUAN AN DANG TIN. NCS DTNMINH.pdf
LUANANTOMTAT.T.ANH. DANG TIN NCSMINH.pdf
LUANANTOMTAT.Tviet DANG TIN NCSMINH.pdf
TRANG THONG TIN LUAN AN-TIENG ANH-MINH22.08.2020.doc
TRANG THONG TIN LUAN AN-TIENG VIET-MINH22.0820.doc