Luận án Khả năng sinh sản, sinh trưởng và định hướng chọn lọc đối với lợn Duroc, Landrace và Yorkshire

Trang 1

Trang 2

Trang 3

Trang 4

Trang 5

Trang 6

Trang 7

Trang 8

Trang 9

Trang 10
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 10 trang mẫu của tài liệu "Luận án Khả năng sinh sản, sinh trưởng và định hướng chọn lọc đối với lợn Duroc, Landrace và Yorkshire", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Luận án Khả năng sinh sản, sinh trưởng và định hướng chọn lọc đối với lợn Duroc, Landrace và Yorkshire

ề dày mỡ lưng của lợn đực Yorkshire theo các tỷ lệ chọn lọc khác nhau Các hình minh hoạ kết quả thu được về giá trị giống ước tính đối với tính trạng tăng khối lượng trung bình hàng ngày của lợn đực hậu bị ở cả ba giống Duroc, Landrace và Yorkshire (các hình 4.13, 4.15 và 4.17) đều cho thấy: nhóm lợn đực hậu bị được chọn lọc với tỷ lệ thấp luôn có giá trị giống ước tính cao hơn và ngược lại, nhóm lợn đực hậu bị được chọn lọc với tỷ lệ cao luôn có giá trị 69 giống ước tính thấp hơn. Đối với kết quả ước tính về tính trạng dày mỡ lưng của lợn đực hậu bị ở cả ba giống Duroc, Landrace và Yorkshire (các hình 4.14, 4.16 và 4.18) đều cho thấy: nhóm lợn đực hậu bị được chọn lọc với tỷ lệ thấp luôn có giá trị giống ước tính thấp hơn và ngược lại, nhóm lợn đực hậu bị được chọn lọc với tỷ lệ cao luôn có giá trị giống ước tính cao hơn. Bảng 4.26. Kết quả chọn lọc theo giá trị giống đối với tăng khối lượng trung bình hàng ngày và dày mỡ lưng của đực hậu bị Duroc Bố Con Số hiệu Giá trị giống Giá trị kiểu hình n Giá trị giống Giá trị kiểu hình Mean SE Cv(%) Tăng khối lượng trung bình (g/ngày) D0774 33,47 1.002,09 39 32,16 799,88 18,95 15,49 DA0790 28,72 946,94 3 24,96 840,91 47,41 10,95 D0050 6,91 770,11 45 22,57 775,58 11,69 10,23 D0039 1,3 769,23 13 13,77 756,69 23,35 11,82 Dày mỡ lưng (mm) D0774 -0,93164 11 39 -0,21 10,67 0,58 5,77 DA0790 -0,43164 10 3 -0,02 11,72 0,76 6,90 D0050 -0,08824 11 45 -0,02 12,22 0,12 6,33 D0039 -0,04762 11 13 -0,01 11,92 0,21 5,84 Đối với tính trạng tăng khối lượng trung bình hàng ngày, do số lượng cá thể ít nên từng đực Duroc đời bố được xếp theo thứ tự giá trị giống từ cao nhất ở đực D0774 (+33,47 g/con/ngày) đến thấp nhất ở đực D0039 (+1,3 g/con/ngày). Giá trị kiểu hình tương ứng với từng đực giống cũng giảm dần theo thứ tự sắp xếp của giá trị giống. Các kết quả so sánh giữa các đời con cho thấy có những khác biệt về giá trị kiểu hình và giá trị giống không hoàn toàn tương ứng với thứ tự xếp hạng theo giá trị giống của bố. Đối với tính trạng dày mỡ lưng, thứ tự xếp hạng giá trị giống của bố theo chiều ngược lại từ thấp đến cao. Do máy đo siêu âm dày mỡ lưng có dung sai 1mm nên không có chênh lệch rõ rệt về giá trị kiểu hình của tính trạng này giữa các bố. Giá trị kiểu hình của bố DA0790 đạt thấp nhất 10mm, 3 bố còn lại đạt 11mm nhưng ở đời con lại đạt thấp nhất D0774 (10,67mm), đạt cao nhất ở đời con của bố D0050 (12,22mm) (Bảng 4.26). 70 Bảng 4.27. Kết quả chọn lọc theo giá trị giống đối với tăng khối lượng trung bình hàng ngày và dày mỡ lưng của đực hậu bị Landrace Tính trạng Bố Con Tỷ lệ chọn lọc (%) n Giá trị giống Giá trị kiểu hình n Giá trị giống Giá trị kiểu hình Mean SE Cv (%) Mean SE Cv (%) Tăng KLTB (g/ngày) 10 3 62,10 835,08 26,77 5,55 5 45,70 818,95 17,05 4,66 20 7 48,92 795,01 20,02 6,66 51 24,20 783,08 11,92 10,87 30 10 43,82 791,38 13,94 5,57 60 9,44 784,68 24,91 9,52 Dày mỡ lưng (mm) 10 3 -0,34 12,33 0,33 4,68 17 -0,22 11,53 1,12 9,75 20 7 -0,25 12,29 0,19 3,97 34 -0,15 11,71 1,06 9,05 30 10 -0,20 12,10 0,18 4,69 46 -0,03 12,17 0,72 5,90 Đối với tính trạng tăng khối lượng trung bình hàng ngày, tỷ lệ chọn lọc bố thấp nhất ở mức 10%, giá trị giống và giá trị kiểu hình đạt cao nhất +62,10 (835,08 g/con/ngày), đời con tương ứng có giá trị giống và kiểu hình lần lượt là +45,70 và 818,95 g/con/ngày. Tỷ lệ chọn lọc tăng lên, giá trị giống của bố và con đều giảm. Xếp hạng thứ tự các đực đời bố theo tỷ lệ chọn lọc về giá trị giống cũng đạt được thứ tự tương ứng ở các đời con của chúng. Giá trị kiểu hình của bố và con đều đạt cao nhất ở tỷ lệ chọn lọc 10%, tuy nhiên giá trị kiểu hình của đời con lại đạt thấp nhất ở tỷ lệ chọn lọc 20% (783,08 g/con/ngày). Tương tự như vậy, nhưng theo chiều ngược lại từ thấp đến cao, thứ tự xếp hạng về giá trị giống đối với tính trạng dày mỡ lưng của đời con cũng tương ứng với thứ tự xếp hạng theo giá trị giống của bố. Tuy nhiên, trong khi giá trị kiểu hình của bố có xu hướng giảm dần, giá trị kiểu hình ở đời con lại có xu hướng tăng dần (Bảng 4.27). Đối với tính trạng tăng khối lượng trung bình hàng ngày, tỷ lệ chọn lọc bố ở mức 10%, giá trị giống và giá trị kiểu hình đạt cao nhất +31,60 (791,05 g/con/ngày), đời con có giá trị tương ứng là +14,94 (809,39 g/con/ngày). Tỷ lệ chọn lọc tăng lên, giá trị giống và giá trị kiểu hình của bố và con đều giảm đạt thấp nhất, với tỷ lệ chọn lọc 30%, giá trị giống và giá trị kiểu hình tương ứng ở bố là +22,28 và 780,33 g/ngày, tương ứng ở con là +10,66 và 790,78 g/ngày (Bảng 4.28). 71 Bảng 4.28. Kết quả chọn lọc theo giá trị giống đối với tăng khối lượng trung bình hàng ngày và dày mỡ lưng của đực hậu bị Yorkshire Tính trạng Bố Con Tỷ lệ chọn lọc (%) n Giá trị giống Giá trị kiểu hình n Giá trị giống Giá trị kiểu hình Mean SE Cv (%) Mean SE Cv (%) Tăng KLTB (g/ngày) 10 2 31,60 791,05 15,77 2,82 44 14,94 809,39 19,49 15,97 20 5 25,82 782,67 27,56 7,87 77 10,77 800,64 13,84 15,17 30 7 22,28 780,33 19,21 6,51 100 10,66 790,78 11,68 14,76 Dày mỡ lưng (mm) 10 2 -0,71 9,50 0,50 7,44 14 -0,30 11,36 0,17 5,58 20 5 -0,45 11,20 0,73 14,67 48 -0,24 11,60 0,13 7,70 30 7 -0,37 11,57 0,57 13,07 51 -0,23 11,63 0,12 7,68 Tương tự như vậy, nhưng theo chiều ngược lại từ thấp đến cao, thứ tự xếp hạng về giá trị giống cũng như kiểu hình đối với tính trạng dày mỡ lưng của đời con cũng tương ứng với thứ tự xếp hạng của bố. 4.2.2.3. Khuynh hướng di truyền về tăng khối lượng trung bình hàng ngày và dày mỡ lưng của lợn đực hậu bị Hình 4.19. Khuynh hướng di truyền về tăng khối lượng trung bình hàng ngày của lợn đực hậu bị Duroc Giá trị giống ước tính được đối với tính trạng tăng khối lượng trung bình hàng ngày của lợn đực hậu bị Duroc trong khoảng thời gian 4 năm từ 2011 đến 2014 (hình 4.19) cho thấy: năm 2011, đàn đực giống Duroc đạt giá trị giống ước 72 tính (-3,23), tăng cao rõ rệt trong năm 2012 (26,01), nhưng lại liên tiếp giảm nhẹ trong các năm 2013 và 2014. Hình 4.20. Khuynh hướng di truyền về dày mỡ lưng của lợn đực hậu bị Duroc Khuynh hướng di truyền đối với tính trạng dày mỡ lưng của lợn đực hậu bị Duroc trong khoảng thời gian 4 năm từ 2011 đến 2014 (hình 4.20) cũng có chiều hướng tương tự như đối với tính trạng tăng khối lượng trung bình hàng ngày: năm 2011, đàn đực hậu bị Duroc đạt giá trị giống ước tính thấp nhất (-0,106), tăng cao rõ rệt trong năm 2012 (0,107), sau đó giảm thấp trong các năm 2013 và 2014. Hình 4.21. Khuynh hướng di truyền về tăng khối lượng trung bình hàng ngày của lợn đực hậu bị Landrace 73 Giá trị giống ước tính được đối với tính trạng trung bình hàng ngày của lợn đực hậu bị Landrace trong khoảng thời gian 4 năm từ 2011 đến 2014 (hình 4.21) cho thấy một khuynh hướng ngược lại so với đực Duroc: năm 2011, đàn đực hậu bị Landrace đạt giá trị giống ước tính cao nhất (13,66), giảm thấp rõ rệt trong năm 2012 (-12,28), sau đó liên tiếp tăng nhẹ trong 2 năm 2013 và 2014. Hình 4.22. Khuynh hướng di truyền về dày mỡ lưng của lợn đực hậu bị Landrace Hình 4.23. Khuynh hướng di truyền về tăng khối lượng trung bình hàng ngày của lợn đực hậu bị Yorkshire 74 Khuynh hướng di truyền đối với tính trạng dày mỡ lưng của lợn đực hậu bị Landrace trong khoảng thời gian 4 năm từ 2011 đến 2014 (hình 4.22) có chiều hướng tốt trong 3 năm: giảm liên tiếp từ 2011 (0,061) tới 2013 (0,007), nhưng sau đó lại tăng nhẹ trong năm 2014. Giá trị giống ước tính được đối với tính trạng tăng khối lượng trung bình hàng ngày của lợn đực hậu bị Yorkshire trong khoảng thời gian 4 năm từ 2011 đến 2014 (hình 4.23) cho thấy: năm 2011, đàn đực giống Yorkshire đạt giá trị giống ước tính thấp nhất (-2,62), tăng cao rõ rệt trong hai năm 2012 và 2013, đạt cao nhất vào năm 2013 (4,80), nhưng lại giảm nhẹ xuống trong năm 2014. Hình 4.24. Khuynh hướng di truyền về dày mỡ lưng của lợn đực hậu bị Yorkshire Khuynh hướng di truyền đối với tính trạng dày mỡ lưng của lợn đực hậu bị Yorkshire trong khoảng thời gian 4 năm từ 2011 đến 2014 (hình 4.24) trong hai năm 2011 và 2012 đều ở mức cao, giá trị giống ước tính cao nhất vào năm 2012 (0,048), nhưng sau đó giảm liên tiếp trong 2 năm tiếp theo, năm 2014 đạt giá trị thấp nhất (-0,001). 75 PHẦN 5. THẢO LUẬN 5.1. NĂNG SUẤT SINH SẢN VÀ ĐỊNH HƯỚNG CHỌN LỌC ĐỐI VỚI LỢN NÁI DUROC, LANDRACE VÀ YORKSHIRE 5.1.1. Năng suất sinh sản của lợn nái Duroc, Landrace và Yorkshire Các tính trạng năng suất sinh sản của cả 3 nhóm nái nuôi tại Công ty TNHH Lợn giống hạt nhân Dabaco (các bảng 4.1, 4.2 và 4.3) đều đạt các giá trị khá cao, đặc biệt là đối với lợn nái Yorkshire và Landrace. Tuổi đẻ lứa đầu của lợn nái Duroc (362,32 ngày) cao hơn Landrace và Yorkshire (tương ứng là 357,55 và 358,17 ngày) tuy nhiên sự sai khác giữa 3 nhóm nái này là không có ý nghĩa thống kê (P>0,05). Tuổi đẻ lứa đầu của lợn nái Landrace và Yorkshire nêu trên là không chênh lệch nhiều so với kết quả nghiên cứu của một số tác giả nước ngoài. Tuổi đẻ lứa đầu ở lợn nái Landrace từ 347 đến 378 ngày tuổi (Bzowska et al., 1997); 346,61 ngày tuổi (Walkiewics et al., 2000); ở Large White là 355 ngày tuổi (Orzeckowska and Mucha, 1999); 384 ngày tuổi (Csornyei and Kovacs, 1999); 371,7 ngày tuổi (Missohou et al., 2000); tương ứng trên lợn Landrace và Large White nuôi tại Cộng hòa Séc đạt 368 và 374 ngày (Wolf, 2010); 366 và 371 ngày (Krupa and Wolf, 2013); ở lợn Landrace là 359,4 ngày, ở lợn Yorkshire 375,9 ngày (Liga et al., 2014). Kết quả nghiên cứu này thấp hơn so với công bố của một số tác giả trong nước. Các số liệu theo dõi về tuổi đẻ lứa đầu đối với lợn nái Landrace và Yorkshire của các tác giả tương ứng là: 409,30 và 419,54 ngày tuổi (Đặng Vũ Bình, 1999); 360 -373 ngày và 363-376,2 ngày (Phùng Thị Vân và cs., 2000); 373,42 và 369,83 ngày (Đoàn Xuân Trúc và cs., 2001); trên 13 tháng (Đặng Vũ Bình, 2003); 385,2 và 384,2 ngày (Lê Đình Phùng và cs., 2011). Đỗ Đức Lực và cs. (2013) theo dõi trên 35 lợn nái (21 nái Piétrain và 14 nái Duroc) nuôi tại Trung tâm giống lợn chất lượng cao - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội. Kết quả cho biết tuổi đẻ lứa đầu của nái Piétrain đạt 461,36 - 486,20 ngày, nái Duroc đạt 470,07 ngày. 76 Tuổi đẻ lứa đầu của lợn nái Duroc, Landrace và Yorkshire nuôi tại Công ty TNHH Lợn giống hạt nhân Dabaco đều đạt tiêu chuẩn theo Quyết định số 657/QĐ-BNN-CN (2014) về việc phê duyệt các chỉ tiêu định mức kinh tế kỹ thuật cho các đàn vật nuôi giống gốc đối với lợn ngoại (từ 340 đến 385 ngày). Tuổi đẻ lứa đầu của lợn nái liên quan chặt chẽ đến tuổi thành thục về tính, về thể vóc và chịu ảnh hưởng của kết quả phối giống lần đầu. Việc đáp ứng các yêu cầu dinh dưỡng cho lợn nái trong thời gian nuôi hậu bị, quy định về chu kỳ động dục cho phối giống lần đầu, quản lý động dục và kỹ thuật phối giống và quản lý lợn mang thai ảnh hưởng trực tiếp tới tuổi đẻ lứa đầu. Các yếu tố có tính tổng hợp trên đã góp phần đạt được chỉ tiêu này ở Công ty. Khoảng cách lứa đẻ của lợn nái Duroc (143,86 ngày) và Yorkshire (145,35 ngày) là ngắn hơn so với lợn nái Landrace (147,83 ngày), chênh lệch là có ý nghĩa thống kê (P<0,05). Kết quả nghiên cứu trên là thấp hơn các công bố về khoảng cách lứa đẻ của lợn nái Landrace và Yorkshire lần lượt là 170,6 và 166,7 ngày (Phùng Thị Vân và cs., 2000); 179,62 và 183,85 ngày (Đặng Vũ Bình, 2003); 168,3 và 167,3 ngày (Đoàn Xuân Trúc và cs., 2001); 157,3 và 154,5 ngày (Lê Đình Phùng và cs., 2011); 166 và 164 ngày (Wolf, 2010; Krupa and Wolf, 2013). Khoảng cách lứa đẻ trong nghiên cứu này đạt thấp, do 2 nguyên nhân chủ yếu. Một là do Công ty áp dụng quy trình cai sữa sớm cho lợn con, trung bình thời gian cai sữa của lợn nái Duroc, Landrace và Yorkshire tương ứng là 22,78; 23,61 và 23,54 ngày (Bảng 4.1, 4.2 và 4.3). Hai là việc quản lý tốt khâu phối giống, đặc biệt là việc áp dụng kỹ thuật thụ tinh phối sâu có hiệu quả nên tỷ lệ thụ thai cao là nguyên nhân của kết quả đã nêu trên. Khoảng cách lứa đẻ ảnh hưởng tới số lứa đẻ của một nái trong một năm. Với các giá trị về khoảng cách lứa đẻ, số lứa đẻ của lợn nái Duroc, Landrace và Yorkshire ước tính được sẽ tương ứng là: 2,54; 2,47 và 2,51 lứa/nái/năm. Trên cơ sở số con cai sữa/ổ trung bình mà các nhóm nái đạt được, số con cai sữa do 1 nái sản xuất được trong 1 năm lợn nái Duroc, Landrace và Yorkshire ước tính được sẽ đạt tương ứng là: 24,64; 25,55 và 25,89 con/nái/năm. Kết quả ước tính thu được là cao hơn tiêu chuẩn theo Quyết định số 657/QĐ-BNN-CN (2014) về việc phê duyệt các chỉ tiêu định mức kinh tế kỹ 77 thuật cho các đàn vật nuôi giống gốc đối với lợn ngoại (Landrace, Yorkshire ≥ 2,2 lứa/nái/năm; Duroc ≥ 2 lứa/nái/năm) cũng như kết quả theo dõi của một số nghiên cứu ở nước ta. Lợn nái Landrace và Yorkshire nuôi tại trại Mỹ Văn đạt tương ứng 2,17 và 2,18 lứa/nái/năm và sản xuất được 19,81 và 19,64 lợn con cai sữa/nái/năm (Đoàn Xuân Trúc và cs., 2001); tại các cơ sở giống miền Bắc đạt 2 lứa đẻ/nái/năm và 2 giống tương ứng sản xuất được 16,58 và 16,5 lợn con cai sữa/nái/năm (Đặng Vũ Bình, 2003); tại các trang trại ở Quảng Bình đạt tương ứng là 2,36 và 2,39 lứa/nái/năm và sản xuất được 23,13 và 23,42 lợn con cai sữa/nái/năm (Lê Đình Phùng và cs., 2011); các tổ hợp lai cao sản như dòng nái VCN21, VCN22, L71, L72 đạt 2,21 lứa/nái/năm và sản xuất được 23-24 lợn con cai sữa/nái/năm (Nguyễn Thanh Sơn, 2014). Các kết quả khá cao mà Công ty đã đạt được về chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật tổng hợp quan trọng nhất đối với lợn nái là số lợn con sai sữa/nái/năm. Tuy nhiên, các kết quả đạt được này còn thấp hơn khá nhiều so với những công bố về năng suất sinh sản đàn nái của Công ty DanBred (Đan Mạch) là trên 30 lợn con cai sữa/nái/năm (DanBred, 2014). Các giá trị về số con sơ sinh/ổ, số con sơ sinh sống/ổ, số con cai sữa/ổ và số lứa đẻ/nái/năm trong các bảng 4.1, 4.2 và 4.3 đều vượt cao hơn nhiều so với Định mức kinh tế kỹ thuật đối với lợn giống gốc theo Quyết định của Bộ NN và PTNT (2014) cũng như hầu hết kết quả theo dõi của một số nghiên cứu ở nước ta. Thong et al. (1995) cho biết số con sơ sinh/ổ của lợn Yorkshire từ lứa 1 đến lứa 3 đạt từ 9,0 đến 9,8 con. Theo Nguyễn Thiện và cs. (1995), lợn nái Landrace và Yorkshire có số con sơ sinh sống/ổ đạt tương ứng là 9,25 và 9,38 con, số con cai sữa/ổ đạt tương ứng là 7,21 và 7,29 con. Đặng Vũ Bình (1999) nghiên cứu trên lợn Landrace và Yorkshire nuôi tại trại Mỹ Văn cho biết số con sơ sinh sống/ổ tương ứng là 10,01 và 10,00 con. Đoàn Xuân Trúc (2001) nghiên cứu trên lợn Landrace và Yorkshire nuôi tại trại Mỹ Văn trong 4 năm (1996-2000) cho thấy số con sơ sinh sống/ổ đạt tương ứng là 10,19 và 10,12 con. Tạ Thị Bích Duyên (2003) đã theo dõi năng suất sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire nuôi tại 3 cơ sở giống An Khánh, Thụy Phương và Đông Á. Các chỉ tiêu số con sơ sinh sống/ổ, số con để nuôi/ổ, số con còn sống đến 21 ngày và số con cai sữa/ổ ở 30 ngày của lợn nái Landrace tại An Khánh là 9,53; 78 9,36; 8,41 và 8,32 con; tại Thụy Phương lần lượt là: 9,90; 9,74; 8,74 và 8,44 con/ổ; tại Đông Á lần lượt là 9,78; 9,71; 8,85 và 8,71 con. Các chỉ tiêu này đạt tương ứng với nái Yorkshire ở An Khánh là 9,49; 9,20; 8,87 và 8,53 con; ở Thụy Phương đạt 9,92; 9,67; 9,09 và 8,82 con/ổ, ở Đông Á đạt 9,74; 9,46; 9,35 và 9,07 con. Đặng Vũ Bình (2003) nghiên cứu trên 678 lứa đẻ của 201 nái Landrace và 3876 lứa đẻ của 1302 nái Yorkshire tại các cơ sở giống Mỹ Hào (Hưng Yên), An Khánh (Hà Tây), Phú Lãm (Hà Tây), các xí nghiệp lợn giống tại Thanh Hóa. Kết quả cho biết số con đẻ ra/ổ, số con còn sống/ổ, số con 21 ngày tuổi/ổ của lợn nái Landrace là 10,41; 9,91 và 8,64 con; của Yorkshire tương ứng đạt 10,12; 9,70 và 8,61 con. Giá trị trung bình và độ lệch tiêu chuẩn đối với số con sơ sinh sống/ổ của 612 nái Duroc, 2269 nái Landrace và 2568 nái Yorkshire nuôi tại các tỉnh phía Nam tương ứng là: 7,82; 9,60 và 9,57 con (Nguyễn Hữu Tỉnh và cs., 2006). Nguyễn Hữu Tỉnh (2009) công bố năng suất của đàn lơṇ Landrace và Yorkshire ở các tỉnh phía Nam giai đoạn 1995 - 2005 có số con sơ sinh sống/ổ lần lươṭ là 9,60 và 9,57 con; giai đoaṇ 2000 - 2007 có số con sơ sinh sống/ổ lần lượt là 9,70 và 9,80 con. Nguyễn Văn Đức và cs. (2010) nghiên cứu khả năng sinh sản của lợn nái từ 2004-2008 tại các nông hộ tại huyện Đông Anh, Hà Nội. Kết quả nghiên cứu cho thấy số con sơ sinh sống/ổ và số con cai sữa/ổ của lợn nái Landrace đạt 10,63 và 9,0 con; nái Yorkshire đạt 10,14 và 8,85 con. Lê Đình Phùng và cs. (2011) nghiên cứu trên 208 nái Landrace và 240 nái Yorkshire trong điều kiện chăn nuôi trang trại ở Quảng Bình. Kết quả cho biết số con sơ sinh/ổ, số con sơ sinh sống/ổ, số con cai sữa/ổ của lợn nái Landrace đạt tương ứng: 10,9; 10,1 và 9,8 con, lợn nái Yorkshire tương ứng đạt 11,2; 10,3 và 9,8 con. Nguyễn Hữu Tỉnh và cs. (2013) nghiên cứu trên 180 ổ đẻ nái Landrace, 437 ổ đẻ nái Yorkshire và 54 ổ đẻ nái Duroc tại Trung tâm giống vật nuôi Sóc Trăng. Kết quả cho biết số con sơ sinh sống/ổ tương ứng ở 3 giống đạt 10,59; 10,68 và 8,67 con. 79 Đỗ Đức Lực và cs. (2013) cho biết số con sơ sinh/ổ, số con sơ sinh sống/ổ, số con cai sữa/ổ của nái Piétrain đạt 9,30-10,09; 8,7-9,91 và 7,5-7,82 con, nái Duroc đạt tương ứng 10,21; 9,14 và 8,79 con. Nguyen Huu Tinh et al. (2014) nghiên cứu trên 729 lợn nái Landrace, 1002 lợn Yorkshire tại cơ sở giống Bình Thắng và Tiên Phong. Kết quả cho thấy đối với lợn nái Landrace, số con sơ sinh sống/ổ đạt 9,64 và 10,54 con; số con cai sữa/ổ đạt 8,94 và 9,71 con; đối với lợn nái Yorkshire, số con sơ sinh sống/ổ đạt 9,55 và 10,63 con; số con cai sữa/ổ đạt 8,92 và 9,83 con. Nguyễn Văn Đức (2015) cho biết lợn Duroc, Landrace và Yorkshire nguồn gốc Đan Mạch, nuôi tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển chăn nuôi lợn Bình Thắng có số con sơ sinh/ổ đạt tương ứng 13,9; 14,2 và 10,1 con; số con sơ sinh sống/ổ đạt 11,0; 11,8 và 8,4 con; số con cai sữa/ổ đạt 10,5; 11,3 và 8,1 con. Như vậy về các chỉ tiêu số con sơ sinh/ổ, số con sơ sinh sống/ổ, số con cai sữa/ổ trong nghiên cứu này (bảng 4.1, 4.2 và 4.3) đều cao hơn các kết quả đã công bố của các tác giả trong nước, ngoại trừ công bố của Nguyễn Văn Đức (2015) về các kết quả đạt được trên đàn lợn nguồn gốc Đan Mạch nuôi tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển chăn nuôi lợn Bình Thắng. Các chỉ tiêu số con sơ sinh sống/ổ và số con cai sữa/ổ trong nghiên cứu này cũng đạt cao hơn một số nghiên cứu ngoài nước. Theo Haley et al. (1995), số con sơ sinh sống/ổ và số con cai sữa/ổ của lợn nái Yorkshire lần lượt là 10,03 và 8,11 con. Nakavisut et al. (2006) nghiên cứu trên lợn Duroc, Landrace và Large White nuôi tại Thái Lan cho biết số con sơ sinh/ổ đạt 7,8; 8,7 và 9,0 con, số con cai sữa/ổ đạt 6,9; 8,1 và 8,2 con. Imboonta et al. (2007), công bố đàn lơṇ Landrace ở Thái Lan có số con sơ sinh sống/ổ là 10,03 con. Lukač and Vidović (2013) nghiên cứu khả năng sinh sản trên lợn nái Landrace, Yorkshire. Kết quả cho thấy số con sơ sinh/ổ, số con sơ sinh sống/ổ và số con cai sữa/ổ của lợn nái Landrace đạt 10,11; 9,40 và 7,71 con; tương ứng các chỉ tiêu này đối với nái Yorkshire là 9,71; 9,07 và 8,20 con. Raghavendran et al. (2015) nghiên cứu trên 25 lợn nái Duroc và 98 lợn nái Large White tại Ấn Độ cho biết số con sơ sinh/ổ đạt 9,56 và 9,39 con; số con cai sữa/ổ ở thời điểm 45 ngày tuổi đạt 6,04 và 6,67 con. Prem et al. (2015) cho biết số con sơ sinh/ổ của lợn nái Landrace, Large White và 80 Landrace x Duroc đạt 8,15; 7,68 và 7,95 con; số con cai sữa/ổ tương ứng của 3 nhóm nái đạt 6,42; 5,30 và 5,44 con. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp một số nghiên cứu ngoài nước. Estany and Sorensen (1995) nghiên cứu
File đính kèm:
luan_an_kha_nang_sinh_san_sinh_truong_va_dinh_huong_chon_loc.pdf
CN - TTLA - Doan Phuong Thuy.pdf
TTT - Doan Phuong Thuy.pdf