Luận án Lai tạo tổ hợp đực lai cuối cùng từ Duroc, Pietrain và Landrace phục vụ cho sản xuất lợn thương phẩm ở vùng trung du miền núi phía Bắc

Trang 1

Trang 2

Trang 3

Trang 4

Trang 5

Trang 6

Trang 7

Trang 8

Trang 9

Trang 10
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 10 trang mẫu của tài liệu "Luận án Lai tạo tổ hợp đực lai cuối cùng từ Duroc, Pietrain và Landrace phục vụ cho sản xuất lợn thương phẩm ở vùng trung du miền núi phía Bắc", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Luận án Lai tạo tổ hợp đực lai cuối cùng từ Duroc, Pietrain và Landrace phục vụ cho sản xuất lợn thương phẩm ở vùng trung du miền núi phía Bắc

ng ệnh bằng vaccine cho đàn thương phẩm khảo sát. Áp dụng thống nhất hệ thống quản lý, chuồng trại, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, chương trình chăm sóc thú y cho tất cả các ô chuồng theo dõi các tổ hợp lai. 64 Tại thời điểm kết thúc theo dõi (5,5 tháng tuổi đạt khối lượng khoảng 80 kg/con và 95 kg/con, tương ứng cho mỗi loại lợn thương phẩm có mẹ là nái lai YMC và YL), cân khối lượng, đo dày mỡ lưng tại điểm P2. - Các chỉ tiêu năng suất sinh trưởng được theo d i và đánh giá: Tốc độ tăng khối lượng ình quân/ngày giai đoạn kiểm tra Dày mỡ lưng lúc kết thúc giết thịt Tiêu tốn thức ăn ình quân giai đoạn kiểm tra 2.5.3.2. Đánh giá năng suất thịt của các tổ hợp lai giữa đực lai DxPD, DP và DL phối với nái lai F1(YxMC) và F1(YxL) Mổ khảo sát: Mổ theo phương pháp cổ điển, sử dụng nửa trái của lợn để phân tách thịt, mỡ, xương, da và cân từng phần theo Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 8899-84). Các chỉ tiêu thành phần thân thịt được xác định sau khi kết thúc nuôi kiểm tra, chọn ngẫu nhiên và mổ khảo sát 6 con/tổ hợp lai. Lợn được sử dụng làm lô đối chứng. Các chỉ tiêu xác định gồm: Khối lượng giết mổ, dày mỡ lưng mổ khảo sát, t lệ móc hàm, t lệ thịt xẻ, t lệ thịt nạc và t lệ mỡ. Khối lượng móc hàm được cân bằng cân đồng hồ (loại 100kg) sau khi cạo lông, b tiết và nội tạng. T lệ móc hàm được tính dựa trên, khối lượng trước khi giết thịt và khối lượng móc hàm. Khối lượng thịt xẻ được cân sau khi đã đầu và 4 chân. T lệ thịt xẻ được tính dựa trên khối lượng thịt xẻ và khối lượng trước giết thịt. T lệ thịt nạc/t lệ mỡ được tính dựa trên khối lượng thịt nạc/khối lượng mỡ và khối lượng thịt xẻ. 2.5.4. Hiệu quả chăn nuôi lợn lai thương phẩm của các tổ hợp đực lai cuối cùng DxP P và L phối với nái lai YL và YMC - Căn cứ vào kết quả kiểm tra năng suất của các tổ hợp lợn lai thương phẩm để đánh giá khả năng tăng khối lượng và tiêu tốn thức ăn. Mỗi tổ hợp lai thương phẩm bố trí theo dõi kiểm tra năng suất 8 ô, mỗi ô 10 con với tỉ lệ đực thiến/cái là 1/1. Các chỉ tiêu theo dõi: Khối lượng bắt đầu (kg) lúc 2,5 tháng tuổi, khối lượng kết thúc lúc 170 ngày tuổi (90 ngày kiểm tra năng suất), tổng khối lượng tăng trong thời gian kiểm tra (kg), tổng khối lượng thức ăn tiêu thụ (kg). - Hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn thương phẩm phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố giá thị trường đầu vào (thức ăn, con giống, thuốc thú y, nhân công ... ) và 65 giá thị trường đầu ra (giá bán lợn thịt), các yếu tố này thường là không ổn định. Vì vậy, để đánh giá sơ ộ hiệu quả kinh tế cho việc nuôi lợn lai thương phẩm của các tổ hợp lai, chúng tôi phải cố định giá của một số khoản chi như: Đơn giá 1 kg lợn con giống, đơn giá thức ăn, công lao động, chi phí khác v.v. Các chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá chỉ là các chỉ tiêu cơ ản. - Phương pháp xác định các chỉ tiêu: + Tiền mua con giống = số lợn nuôi thịt (80 con/tổ hợp lai thương phẩm) x đơn giá/kg/con (55.000 đ/kg/con đối với lợn lai thương phẩm có mẹ là YMC và 60.000 đ/kg/con đối với lợn lai thương phẩm có mẹ là YL). + Tiền mua thức ăn = tổng khối lượng tăng (kg) x tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng x đơn giá/1kg thức ăn (12.000 đ/kg đối với lợn lai thương phẩm có mẹ là YMC và 13.500 đ/kg đối với lợn lai thương phẩm có mẹ là YL, tính trung bình cho cả giai đoạn nuôi). + Tiền nhân công = số ngày nuôi thịt (90 ngày) x số con x đơn giá nhân công/con/ngày (400 đ/con/ngày). + Chi phí khác = số ngày nuôi thịt (90 ngày) x số con x đơn giá chi phí khác/con/ngày (2.000 đ/con/ngày). + Giá bán lợn thịt: 45.000 đ/kg đối với lợn có mẹ là YMC và 49.000 đ/kg đối với lợn có mẹ là YL. + Tổng chi = tiền mua giống + tiền mua thức ăn + tiền nhân công + chi phí khác + Tổng thu = tổng số kg lợn thịt x đơn giá lợn thịt/kg + Lợi nhuận = tổng thu - tổng chi. + T suất lợi nhuận (hiệu quả kinh tế chăn nuôi) = (lợi nhuận/tổng chi) x 100 Đánh giá, chọn lọc các tổ hợp lai: Trên cơ sở đánh giá năng suất của các tổ hợp lai thương phẩm sử dụng a đực lai cuối cùng, chọn ra 2 tổ hợp đực lai có năng suất cao nhất. Hai tổ hợp này ước đầu được thiết lập thành hai đàn nhân giống và tiếp tục chọn lọc phát triển thành hai tổ hợp lợn đực lai cuối cùng có năng suất cao nuôi trong điều kiện vùng Trung du miền núi phía Bắc. 66 2.6. Phương pháp xử lý số liệu Số liệu được xử lý bằng phần mềm SAS 9.1 (2002). Các tham số thống kê bao gồm: dung lượng mẫu (n), giá trị trung ình (Mean) và độ lệch chuẩn (SD), trung ình ình phương nh nhất (LSM) và sai số tiêu chuẩn (SE), so sánh các giá trị LSM bằng phương pháp so sánh Tukey tại Bộ môn Di truyền Giống vật nuôi - viện Chăn nuôi. 67 Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1. Tuy n chọn các cá th từ 3 giống thuần Duroc, Pietrain và Landrace làm nguyên liệu tạo tổ hợp đực lai cuối cùng 3.1.1. Chỉ số chọn lọc theo giá trị giống về tăng khối lượng độ dày mỡ lưng của nhóm các cá thể có mặt tại thời điểm tuyển chọn. Tổng số 120 cá thể thuộc ba giống thuần Duroc (phụ lục 1), Landrace (phụ lục 2) và Pietrain (phụ lục 3) đã được kiểm tra năng suất cá thể với các chỉ tiêu theo dõi, đánh giá ao gồm: khối lượng bắt đầu kiểm tra, khối lượng kết thúc kiểm tra để đánh giá chỉ tiêu tăng khối lượng/ngày, dày mỡ lưng lúc kết thúc kiểm tra. Đặc biệt, chỉ số chọn lọc (Inx) dựa trên giá trị giống của tăng khối lượng/ngày và dày mỡ lưng lúc kết thúc kiểm tra đã được sử dụng để đánh giá, xếp hạng cho từng cá thể theo tiềm năng di truyền của chúng. Kết quả được trình bày ở bảng 3.1. Bảng 3.1. Giá trị giống và chỉ số Inx của các đàn giống thuần có mặt tại thời đi m tuy n chọn TT Chỉ tiêu Duroc Pietrain Landrace 1 Đực giống: - Số lượng chọn lọc (con) - Tăng khối lượng (g/ngày) - ày mỡ lưng (mm) - Chỉ số Inx (điểm) 14 11,64 -0,17 113,41 11 12,45 -0,21 111,16 14 8,94 -0,07 114,51 2 Nái sinh sản: - Số lượng chọn lọc (con) - Tăng khối lượng (g/ngày) - ày mỡ lưng (mm) - Chỉ số Inx (điểm) 30 8,48 -0,11 108,73 21 11,69 -0,16 110,83 30 8,44 -0,03 111,71 Qua bảng 3.1 và phụ lục 1, 2, 3 cho thấy, nhóm các cá thể có mặt tại thời điểm đánh giá tuyển chọn, đều có chỉ số chọn lọc theo GTG (Inx) cao hơn 100 điểm. Điều này có nghĩa rằng, tiềm năng di truyền của tất cả các cá thể này đều vượt trên 68 trung bình của toàn bộ đàn giống được đánh giá từ năm 2010 đến nay về giá trị giống của hai tính trạng sinh trưởng và dày mỡ lưng. Tuy nhiên, có sự khác biệt khá rõ ràng khi so sánh đánh giá giữa 3 đàn giống thuần. So sánh chỉ số chọn lọc theo GTG của 3 giống thuần tại thời điểm tuyển chọn cho thấy, nếu lấy mức 100 điểm làm điểm chuẩn trung bình ở mỗi đàn giồng thì đàn Duroc có chỉ số Inx của con nái và con đực dao động từ +8,73 đến +13,41 điểm; Đàn Pietrain chỉ số này là +10,83 đến +11,16 điểm và ở đàn Landrace chỉ số này là +11,71 đến +14,51 điểm (Landrace thuộc nhóm giống dòng mẹ, chuyên về sinh sản). Sự khác nhau này, có thể được giải thích bằng kích cỡ quần thể chọn lọc đàn giống Landrace hiện có lớn hơn rất nhiều. Đàn Landrace có số lượng nái GGP từ 150-200 nái cơ sở. Trong khi đó, đàn uroc và đàn Pietrain có số lượng ít (số lượng Duroc là 30 - 50 nái GGP/cơ sở và Pietran là từ 20 -30 con/cơ sở). Đàn giống Pietrain, một mặt do nguồn gen cũ (nhập khẩu năm 2005) có tốc độ sinh trưởng thấp, mặt khác quy mô nái GGP của giống này rất nh nên chỉ số Inx của lợn Pietrain được chọn là thấp dẫn đến cơ hội chọn lọc được các cá thể tốt sẽ là thấp hơn. Hay nói cách khác, tiến bộ di truyền về khả năng sinh trưởng của đàn giống Pietrain tương đối thấp, mặc dù t lệ nạc của đàn giống này vẫn vượt trội so với các đàn giống thuần khác. o đó, để cải thiện năng suất sinh trưởng của đàn Pietrain hiện tại ở các cơ sở giống, cũng như sử dụng nguồn gen này trong chọn tạo dòng đực lai cuối cùng nâng cao hiệu quả sản xuất và cần thiết phải bổ sung nguồn giống nhập khẩu mới có tốc độ sinh trưởng cao hơn. Trong cùng một giống khi so sánh chỉ số chọn lọc theo GTG giữa con đực và con cái cho thấy các con đực được chọn để ghép phối với con nái luôn có giá trị giống cao hơn và điều này đáp ứng được nguyên tắc cơ ản của công tác ghép phối, nhân giống vật nuôi. 3.1.2. Giá trị giống về chỉ tiêu tăng khối lượng (TKL) và dày mỡ lưng ( ML) của các cá thể được chọn làm nguyên liệu lai iệc chọn các cá thể tham gia lai tạo ở thế hệ xuất phát được dựa trên giá trị giống của các cá thể cái và đực của các giống lợn Duroc (D), Pietrain (P) và Landrace (L) ở các tính trạng tăng khối lượng (TKL/ngày) và dày mỡ lưng (DML). Kết quả giá trị giống và chỉ số chọn lọc của 39 lợn đực và 81 cái giống được sử dụng để chọn làm nguyên liệu lai tạo được trình bày ở phụ lục (bảng 1, 2 và 3). Từ 69 120 lợn đực và cái giống này đã tuyển chọn được 7 đực và 15 cái/giống để làm làm nguyên liệu tạo tổ hợp đực lai cuối cùng. Giá trị giống của các cá thể ố mẹ được chọn làm nguyên liệu lai tạo phải lớn hơn trung ình toàn đàn (GTG 0) đối với tính trạng TKL, có giá trị nh hơn trung ình toàn đàn (GTG < 0) đối với chỉ tiêu DML và chỉ số chọn lọc Inx phải 100 điểm. Kết quả về giá trị giống của các cá thể được chọn làm nguyên liệu lai tạo được trình bày ở bảng 3.2. Bảng 3.2. Giá trị giống của các cá th được chọn làm nguyên liệu lai Giới tính Duroc Pietrain Landrace Mã ST TKL DML Inx Mã ST TKL DML Inx Mã ST TKL DML Inx Đực (n=7) P95 15,60 -0,40 120,67 0 2 15,60 -0,40 116,97 103 13,2 -0,30 121,99 P143 12,00 -0,40 119,10 Y164 12,00 -0,20 115,40 R91 10,6 -0,10 120,42 P116 16,70 -0,20 116,74 01 16,70 -0,40 113,04 R102 12,3 -0,30 118,06 732 17,60 -0,20 116,56 Y175 14,60 -0,20 112,86 R200 14,20 -0,10 117,88 P142 11,00 -0,40 115,98 Y163 11,00 -0,40 111,28 R92 9,4 -0,30 116,30 P125 10,00 -0,40 115,82 Y177 10,00 -0,20 111,12 R89 7,6 -0,10 116,14 739 15,10 -0,10 115,18 Y179 12,10 -0,30 110,48 104 9,70 -0,20 115,50 TB 14,00 -0,30 117,15 13,00 -0,30 113,05 11,00 -0,20 118,04 Cái (n=15) P63 12,14 -0,10 116,79 565 15,01 -0,10 115,77 R124 13,78 -0,05 118,02 595 15,21 -0,10 115,22 Y148 15,73 -0,20 114,70 2485 13,35 -0,15 117,70 596 12,33 -0,20 114,96 Y134 13,23 -0,10 114,44 R86 12,25 -0,05 117,44 589 13,67 -0,05 113,78 Y132 14,57 -0,20 113,26 2736 13,59 -0,15 116,26 11015 12,30 -0,10 113,54 Y91 13,20 -0,10 113,02 2669 12,22 -0,05 116,02 11017 13,35 -0,10 112,43 Y103 14,25 -0,10 111,91 R77 13,27 -0,05 114,91 P92 9,27 -0,30 112,30 564 10,17 -0,30 111,78 R85 10,17 -0,15 114,78 P87 14,86 -0,20 111,27 570 15,76 -0,40 111,22 R126 13,78 -0,15 114,47 P85 12,41 -0,20 110,44 572 13,31 -0,20 110,39 R146 12,33 -0,15 113,64 P84 11,64 -0,40 110,38 571 12,54 -0,40 110,33 2510 11,56 -0,10 113,58 P81 11,36 -0,10 110,35 Y95 12,26 -0,10 110,30 2572 11,28 -0,05 113,55 P78 12,05 -0,20 110,28 Y76 12,95 -0,20 110,23 R131 11,97 -0,10 113,48 P71 10,20 -0,40 110,24 Y109 11,10 -0,20 110,19 R79 10,12 -0,10 113,44 P69 8,82 -0,40 110,12 Y126 9,72 -0,40 110,07 R82 10,22 -0,05 113,32 P65 12,36 -0,20 110,06 Y93 13,26 -0,10 110,01 R113 12,26 -0,05 113,26 TB 12,00 -0,20 112,03 13,00 -0,20 111,71 12,00 -0,10 114,82 70 Kết quả bảng 3.2 cho thấy: Đối với đàn Duroc: GTG đối với tính trạng TKL của các cá thể đực dao động từ +10 đến +17,6 và của các cá thể cái dao động từ 8,82 đến 15,21 GTG đối với tính trạng DML của các cá thể đực dao động từ -0,10 đến -0,40 và của các cá thể lợn cái dao động từ -0,05 đến -0,40; Chỉ số chọn lọc (Inx) dao động từ 115,18 đến 120,67 (đối với con đực) và từ 110,06 đến 116,79 (đối với con cái). - Đối với đàn Pietrain: GTG đối với tính trạng TKL của các cá thể đực dao động từ +10 đến +16,7 và của các cá thể cái dao động từ 9,72 đến 15,76 GTG đối với tính trạng DML của các cá thể đực dao động từ -0,20 đến -0,40 và của các cá thể lợn cái dao động từ -0,10 đến -0,40; Chỉ số chọn lọc (Inx) dao động từ 110,48 đến 116,97 (đối với con đực) và từ 110,01 - 115,77 (đối với con cái). - Đối với đàn Landrace: GTG đối với tính trạng TKL của các cá thể đực dao động từ +7,60 đến +14,2 và của các cá thể cái dao động từ 10,12 đến 13,78; GTG đối với tính trạng DML của các cá thể đực dao động từ -0,10 đến -0,30 và của các cá thể lợn cái dao động từ -0,05 đến -0,15; Chỉ số chọn lọc (Inx) dao động từ 115,50 đến 121,99 (đối với con đực) và từ 113,26 đến 118,02 (đối với con cái). - Qua bảng 3.2 cho thấy, nhóm các cá thể được tuyển chọn đưa vào làm nguyên liệu lai (7 đực và 15 cái/giống), đều có chỉ số chọn lọc theo GTG (Inx) cao hơn 100 điểm. Điều này có nghĩa rằng, tiềm năng di truyền của tất cả các cá thể này đều vượt trên trung bình của toàn bộ đàn giống hiện tại về giá trị giống của hai tính trạng sinh trưởng và dày mỡ lưng. Tuy vậy, có sự khác biệt khá rõ ràng khi so sánh đánh giá giữa 3 đàn giống thuần. - So sánh chỉ số chọn lọc theo GTG của 3 giống thuần đã được tuyển chọn cho thấy, nếu lấy mức 100 điểm làm điểm chuẩn trung bình ở mỗi đàn giống thì đàn Duroc có chỉ số Inx của con nái và con đực được chọn dao động từ +12,03 đến +17,15 điểm Trong khi đó ở đàn Pietrain chỉ số này là +11,71 đến +13,05 điểm và ở đàn Landrace chỉ số này là +14,82 đến +18,04 điểm (Landrace thuộc nhóm giống dòng mẹ, chuyên về sinh sản). Qua bảng 3.2 và phụ lục 1, 2, 3 cho thấy: Các cá thể được tuyển chọn làm nguồn nguyên liệu lai là những cá thể có GTG cao nhất so với trong đàn. Điều đó có nghĩa rằng, chúng có tiềm năng di truyền vượt trên trung bình của toàn bộ đàn giống hiện tại về giá trị giống của hai tính trạng sinh trưởng và dày mỡ lưng cũng như chỉ số chọn lọc Inx. 71 3.2. Xác định tổ hợp đực lai cuối cùng tốt nhất 3.2.1. Khả năng sinh trưởng và khả năng cho thịt và chất lượng tinh dịch của các tổ hợp lai thuận nghịch giữa các giống thuần 3.2.1.1 Các yếu tố cố định ảnh hưởng tới tăng khối lượng, dày mỡ lưng, tiêu tốn thức ăn và tỷ lệ nạc của lợn DD, PP, LL thuần và một số tổ hợp lai giữa chúng Hệ số xác định (R2) và các yếu tố cố định, được đề cập đến trong nghiên cứu này của chúng tôi là: Cơ sở chăn nuôi, tính biệt, mùa và giống. Kết quả phân tích xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố nói trên đến TKL, DML, TTTA và TLN của ba giống lợn DD, PP, LL và các tổ hợp lai giữa chúng được trình bày ở bảng 3.3. Bảng 3.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến TKL ngày, DML, TTTA và TLN của lợn DD, PP, LL thuần và một số tổ hợp lai giữa chúng Tính trạng theo dõi Giống và tổ hợp lai n Các yếu tố ảnh hưởng R 2 CS TB M G TKL DD 282 0,51 * * * PP 140 0,53 ** ** * LL 345 0,54 *** ** * DP 252 0,61 *** ** ns DL 186 0,73 ** * ns DxPD 90 0,66 ** * ns Chung 0,83 *** ** * *** DML DD 282 0,71 * * ns PP 140 0,81 ** * ns LL 345 0,82 ** * ns DP 252 0,83 *** ** * DL 186 0,83 ** * * DxPD 90 0.78 ** * * Chung 0,91 *** ** ns *** TTTĂ DD 282 0,47 * * * PP 140 0,60 ** * * LL 345 0,59 ** * * DP 252 0,66 *** * * DL 186 0,70 ** * * DxPD 90 0,73 ** * * Chung 0,82 *** ** * *** T lệ nạc DD 282 0,34 ns ns ns PP 140 0,54 ns ns ns LL 345 0,45 ns ns ns DP 252 0,56 ns ns ns DL 186 0,57 ns ns ns DxPD 90 0,53 ns ns ns Chung 0,67 ns ns ns ** Ghi chú: ***: P<0,001; **: P<0,01; *: P<0,05 và ns: Sai khác không có ý nghĩa thống kê. R2: Hệ số xác định; CS: Cơ sở; TB: Tính biệt; M: Mùa và G: Giống. 72 Qua kết quả ở bảng 3.3 cho thấy: - Đối với tăng khối lượng yếu tố cố định cơ sở đều biểu hiện sự sai khác rõ rệt (P<0,01 và P<0,001). Tính biệt biểu hiện có sự sai khác rõ rệt đối với tất cả các giống thuần và các tổ hợp lợn lai. Kết quả này trùng hợp với kết luận của các tác giả Ellis và cs.,(1988). Mùa thí nghiệm không biểu thị sự sai khác rõ rệt ở các tổ hợp lai (P>0,05). - Đối với DML, các yếu tố cố định về cơ sở và tính biệt đều biểu hiện sự sai khác rõ rệt (P<0,05, P< 0,01 và P<0,001). Yếu tố cố định về mùa vụ thí nghiệm cũng có ảnh hưởng rõ rệt đối với DML, trừ các giống thuần , PP và LL - Đối với tính trạng TTTA, kết quả phân tích các yếu tố cố định về cơ sở chăn nuôi, tính biệt, mùa thí nghiệm đều biểu hiện có sự sai khác rõ rệt (P<0,05; P<0,01 và P<0,001). Kết quả này hoàn toàn phù hợp với kết luận của Nguyễn ăn Đức (1999a) trong điều kiện chăn nuôi ở miền Bắc Việt Nam. Khác với TKL, yếu tố mùa biểu thị mức độ sai rõ rệt đối với TTTA (P<0,05 và P<0,01). - Đối với tính trạng TLN. Kết quả phân tích các yếu tố cố định về cơ sở, tính biệt, mùa thí nghiệm đều không biểu hiện có sự sai khác rõ rệt (P>0,05), yếu tố giống có ảnh hưởng rõ rệt đến tính trạng t lệ nạc (P<0,05). Kết quả này, hoàn toàn phù hợp với kết luận của Phạm Thị Đào. (2015) cho biết, yếu tố giống có ảnh hưởng đến các chỉ tiêu độ dày mỡ lưng, độ sâu cơ thăn và t lệ nạc (P<0,05). - Những yếu tố cố định cơ sở, tính biệt và mùa vụ xác định 51-73% (TKL); 47 - 73% (TTTA), 71 - 83% (DML) và 0,34 - 0,63% (TLN) biến đổi trong toàn tổng biến đổi theo các giống và các tổ hợp lai khác nhau, thấp nhất là ở lợn thuần. Điều này cho thấy, lợn lai phản ứng lại với tác động môi trường mạnh hơn so với lợn thuần. - Khi yếu tố cố định giống được đưa vào mô hình toán học để phân tích thì kết quả cho thấy tất cả các yếu tố cố định này xác định đến 83% (TKL), và 91% (DML), 82% (TTTA) và 67% (TLN) biến đổi trong toàn tổng biến đổi. Như vậy, kết quả cho thấy rõ rằng, giống đóng một vai trò rất quan trọng đối với các tính trạng sản xuất ở lợn. Kết quả này phù hợp với kết luận của Trần Thị Minh Hoàng 73 và cs., (2006) cho biết, phần lớn các tính trạng sản xuất chịu ảnh hưởng rõ rệt bởi yếu tố giống. 3.2.1.2. Khả năng sinh trưởng và khả năng cho thịt của các tổ hợp lai Đối với các tổ hợp lai giữa hai giống Duroc và Pietrain, kết quả khảo sát về tốc độ tăng khối lượng bình quân/ngày (TKL), dày mỡ lưng lúc kết thúc kiểm tra năng suất (DML), tiêu tốn thức ăn (TTTA) và t lệ nạc (TLN) được trình bày trong bảng 3.4. Bảng 3.4. Tăng khối lượng bình quân, dày m lưng, tiêu tốn thức ăn và tỷ lệ nạc của các tổ hợp lai giữa giống Duroc và Pietrain giai đoạn KTNS Tổ hợp lai TKL (g/ngày) DML (mm) TTTA kgTĂ kgTKL) Tỷ lệ nạc %) n Mean ± SE H (%) n Mean ± SE H (%) n Mean ± SE H (%) n Mean ± SE H (%) DD 282 755,06 a ± 9,17 282 10,85 a ± 0,23 282 2,50 a ± 0,04 282 59,1 d ± 0,08 PP 140 732,42 b ± 7,35 140 9,71 b ± 0,38 140 2,65 b ± 0,03 140 62,00 a ± 0,14 DP 252 751,63 c ± 7,26 1,06 252 9,91 c ± 0,45 -3,35 252 2,49 a ± 0,04 -3,31 252 60,78 b ± 0,19 0,38 PD 190 744,51 c ± 8,23 0,10 190 9,87 c ± 0,36 -3,97 190 2,55 c ± 0,05 -0,91 190 61,05 b ± 0,16 0,82 DxPD 90 756,45 a ± 7,97 0,89 90 9,83 c ± 0,12 -4,91 90 2,46 a ± 0,05 -2,54 90 60,16 c ± 0,17 0,14 PxDP 90 746,67 c ± 8,84 0,63 90 9,83 c ± 0,13 0,09 90 2,54 c ± 0,06 -0,98 90 61,24 bc ± 0,17 -0,24 Ghi chú: Các số trung bình trong cùng một cột có gắn các chữ cái khác nhau có sai khác có ý nghĩa thống kê với p<0,05. H(%): Ưu thế lai (%). Trong các tổ hợp lai được trình bày ở bảng 3.4, hai tổ hợp lai thuận nghịch F1 (DP và PD) không sai khác nhau về mặt thống kê ở cả ba tính trạng khảo sát TKL, ML và TLN. Tuy nhiên, x t về mặt ưu thế lai thì có sự khác nhau 1,06 và 0,1% ở tính trạng TKL; -3,31 và -0,91% ở tính trạng TTTA; 0,38 và 0,82% ở tính trạng TLN, riêng đối với tính trạng ML thì ưu thế lai của 2 tổ hợp lai có giá trị tương đương (-3,35 và -3,97%). Trong khi đó, ở hai tổ hợp lai DxPD và PxDP lại có sự khác biệt lớn trên ba tính trạng nghiên cứu. Đặc biệt, tổ hợp lai DxPD có tốc độ tăng khối lượng bình quân/ngày cao hơn nhiều so với tổ hợp DP, PD và gần tương đương với giống Duroc thuần (không sai khác về mặt thống kê). Đồng thời, độ dày mỡ lưng và t lệ nạc của tổ hợp lai DxPD cải thiện rất đáng kể so với
File đính kèm:
luan_an_lai_tao_to_hop_duc_lai_cuoi_cung_tu_duroc_pietrain_v.pdf
3. Trích yếu LA.doc
4. Luận án tóm tắt tiếng Việt.doc
5. Luận án tóm tắt tiếng Anh.pdf