Luận án Một số đặc điểm dịch tễ học và sinh học bệnh sán lá gan lớn trên bò ở đồng bằng sông Cửu Long và thử hiệu quả của thuốc tẩy trừ

Trang 1

Trang 2

Trang 3

Trang 4

Trang 5

Trang 6

Trang 7

Trang 8

Trang 9

Trang 10
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 10 trang mẫu của tài liệu "Luận án Một số đặc điểm dịch tễ học và sinh học bệnh sán lá gan lớn trên bò ở đồng bằng sông Cửu Long và thử hiệu quả của thuốc tẩy trừ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Luận án Một số đặc điểm dịch tễ học và sinh học bệnh sán lá gan lớn trên bò ở đồng bằng sông Cửu Long và thử hiệu quả của thuốc tẩy trừ

có cường độ nhiễm ++ và +++ cao 84 hơn so với bò nuôi ở 3 tỉnh Bến Tre, Trà Vinh và Sóc Trăng sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Kết quả này một lần nữa cho thấy điều kiện địa lý, khí hậu và vùng sinh thái là điều kiện để cho mầm bệnh là các vật chủ trung gian có điều kiện tiếp cận và cảm nhiễm gây bệnh cho bò. Kết quả nghiên cứu này phù hợp với nhận xét của Trịnh Văn Thịnh và Đỗ Dương Thái (1978); Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996); Nguyễn Thị Kim Lan và ctv. (1999); Phan Địch Lân và ctv. (2002); Nguyễn Thị Kim Lan và ctv. (2008), đều thống nhất rằng điều kiện địa hình có mối liên quan chặt chẽ với tình hình nhiễm sán lá gan, nơi nào có nhiều sông, suối, có điều kiện thuận lợi cho ốc - Ký chủ trung gian phát triển thì nơi đó trâu, bò nhiễm sán lá gan với tỷ lệ cao và cường độ nhiễm nặng. Bảng 4.2 Tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn theo giống bò tại các tỉnh ĐBSCL TỈNH Giống Bò Bò Sữa Bò lai Sind Bò địa phƣơng SMKT SMN TLN(%) SMKT SMN TLN(%) SMKT SMN TLN(%) An Giang - - - 558 139 24,91 b 478 129 26,99 b Đồng Tháp - - - 506 131 23,48 b 481 118 24,53 b Vĩnh Long 130 16 12,31 a 430 110 25,58 b 433 118 27,25 b Bến Tre - - - 487 73 14,99 b 446 76 17,04 b Trà Vinh - - - 473 73 15,43 b 427 69 16,16 b Sóc Trăng 198 14 7,07 a 375 64 17,07 b 362 56 15,47 b TỔNG 328 30 9,15a 2.829 590 20,86b 2.627 566 21,55b Chú thích: các giá trị trên cùng 1 hàng có các chữ cái khác nhau thì khác nhau có ý nghĩa thống kê P< 0,05; SMKT: số mẫu kiểm tra; SMN: số mẫu nhiễm; TLN(%): tỷ lệ nhiễm (%) Hình 4.2 Biểu đồ so sánh tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn theo giống bò tại các tỉnh ĐBSCL 12,31 7,07 9,15 24,91 23,48 25,58 14,99 15,43 17,07 20,86 26,99 24,53 27,25 17,04 16,16 15,47 21,55 0 5 10 15 20 25 30 An Giang Đồng Tháp Vĩnh Long Bến Tre Trà Vinh Sóc Trăng Tổng T ỷ l ệ (% ) Tỉnh Bò Sữa Bò lai Sind Bò địa phương 85 Bảng 4.2 và Hình 4.2 cho thấy tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn ở bò địa phương (21,55%) cao hơn bò lai Sind (20,86%) và tỷ lệ nhiễm thấp nhất ở bò sữa (9,15%). Qua phân tích thống kê về tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn ở 3 giống bò thấy: tỷ lệ nhiễm giữa bò sữa với bò lai Sind cũng như bò địa phương có sự sai khác có ý nghĩa thống kê. Trong khi đó bò lai Sind và bò địa phương không có sự sai khác. Tỷ lệ nhiễm SLGL theo giống bò giữa các tỉnh cũng cho kết quả tương tự như trên. Kết quả nghiên cứu này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Hữu Hưng và ctv. (2009) khi kiểm tra 981 mẫu phân bò tại tỉnh Đồng Tháp tác giả cho biết bò nhiễm sán lá gan với tỷ lệ khá cao (53,31%), trong đó bò địa phương có tỷ lệ nhiễm là (59,80%) cao nhất, tiếp đến bò lai Sind (53,48%) và thấp nhất ở bò sữa 33,08% và cũng theo tác giả Nguyễn Hữu Hưng (2011) khi kiểm tra 2.437 mẫu phân bò tại 3 tinh Sóc Trăng, Đồng Tháp và An Giang cho thấy bò nhiễm sán lá gan với tỷ lệ khá cao (51,51%), trong đó bò địa phương (58,68%) có tỷ lệ nhiễm cao hơn bò lai Sind (51,01%) và nhiễm thấp nhất ở bò sữa (37,11%). Tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn của bò địa phương và bò lai Sind khá cao là do bò thường được người dân chăn thả trên các cánh đồng, thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với mầm bệnh trên các bãi chăn. Vào mùa khô, thiếu thức ăn lẫn nước uống nên bò phải tìm ăn cỏ dọc theo các kênh rạch, ao hồ và uống nước nên khả năng nhiễm sán lá gan rất cao. Tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở bò sữa thấp nhất điều này qua khảo sát thực tế cho thấy bò sữa được nuôi theo phương thức nuôi nhốt, người chăn nuôi chăm sóc tốt và thỉnh thoảng có tẩy trừ sán lá gan. Do đó tỷ lệ nhiễm của bò sữa có thấp hơn bò địa phương và bò lai Sind. Với kết quả này cho thấy bò được nuôi dưỡng, chăm sóc và phòng bệnh tốt sẽ ít bị nhiễm sán lá gan hơn. Đồng thời cũng cần dự trữ thức ăn vào mùa nước lũ, hoặc khi cắt cỏ cho bò ăn phải cao hơn mặt nước để hạn chế sự tiếp xúc của mầm bệnh. 86 Bảng 4.3 Tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn theo lứa tuổi bò tại các tỉnh ĐBSCL Tỉnh Lứa tuổi 2 NĂM SMKT SMN TLN(%) SMKS SMN TLN(%) SMKT SMN TLN(%) An Giang 285 30 10,53 a 413 99 23,97 b 338 139 41,12 c Đồng Tháp 260 24 9,23 a 396 90 21,79 b 331 135 40,79 c Vĩnh Long 276 28 10,14 a 410 94 22,93 b 307 122 39,74 c Bến Tre 275 19 6,91 a 311 46 14,79 b 347 84 24,21 c Trà Vinh 215 14 6,51 a 327 46 14,07 b 358 82 22,91 c Sóc Trăng 242 13 5,37 a 331 42 12,69 b 362 79 21,82 c TỔNG 1.553 128 8,24a 2.188 417 19,06b 2.043 641 31,38c Chú thích: các giá trị trên cùng 1 hàng có các chữ cái khác nhau thì khác nhau có ý nghĩa thống kê P< 0,05; SMKT: số mẫu kiểm tra; SMN: số mẫu nhiễm; TLN(%): tỷ lệ nhiễm (%) Hình 4.3 Biểu đồ so sánh tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn theo lứa tuổi bò tại các tỉnh ĐBSCL Qua khảo sát tình hình nhiễm giữa 3 lứa tuổi bò: bò <1 năm tuổi (1.553 mẫu), 1-2 năm tuổi (2,188 mẫu), bò >2 năm tuổi (2.043 mẫu), Bảng 4.3 và Hình 4.3 cho thấy tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở bò tại các điểm tăng dần theo lứa tuổi, thấp nhất là bò 2 năm (31,38%). Qua phân tích thống kê cho thấy có sự sai khác rất có ý nghĩa giữa các lứa tuổi bò trong từng tỉnh khảo sát. Bò >2 năm tuổi có tỷ lệ nhiễm sán lá gan cao hơn các lứa tuổi khác là do tiếp xúc với môi trường lâu dài và do tuổi càng cao thì sức đề kháng càng giảm nên khả năng cảm nhiễm càng cao, đôi khi tái nhiễm nhiều lần. Còn bò <1 năm 10,53 9,23 10,14 6,91 6,51 5,37 8,24 23,97 21,79 22,93 14,79 14,07 12,69 19,06 41,12 40,79 39,74 24,21 22,91 21,82 31,38 0 10 20 30 40 50 An Giang Đồng Tháp Vĩnh Long Bến Tre Trà Vinh Sóc Trăng Tổng T ỷ l ệ (% ) Tỉnh 2 NĂM 87 tuổi phần lớn là bú sữa mẹ nên tiếp xúc với môi trường sống có ấu trùng sán lá gan so với bò 1-2 năm và >2 năm tuổi thì thấp hơn. Kết quả trên hoàn toàn phù hợp với kết quả của Đỗ Dương Thái (1978), Hồ Thị Thuận (1986), Phan Địch Lân (2000), Lê Hữu Khương và ctv. (2001), Nguyễn Đức Tân và ctv. (2010), Nguyễn Khắc Lực và ctv. (2010), Võ Thị Hải Lê và ctv. (2010), Nguyễn Hữu Hưng (2011), Nguyễn Thu Hương và ctv. (2012), Nguyen Thi Sam et al. (2012), các tác giả trên cho rằng tỷ lệ nhiễm sán lá gan phụ thuộc vào nhóm tuổi. Về mối liên quan giữa tỷ lệ, cường độ nhiễm sán lá gan và tuổi vật chủ, các tác giả như Baldock and Arthur (1985), Bouvry and Rau (1986), Patzelt and Ralf (1993), Holland et al. (2000) cũng đồng quan điểm với các tác giả trên đều thống nhất rằng, tuổi súc vật càng cao thì tỷ lệ và cường độ nhiễm càng tăng lên. Một điều dễ nhận thấy là súc vật tuổi càng tăng lên, thời gian sống càng dài thì sự tiếp xúc với môi trường ngoại cảnh càng nhiều, cơ hội gặp và nuốt phải nang ấu (Adolescaria) càng cao. Mặt khác, sán trưởng thành có thể đẻ đến 25.000-50.000 trứng/ngày, sán trưởng thành có thể sống từ 9-14 năm trong vật chủ (Boray, 1982). Đó chính là cơ sở khoa học giải thích cho quy luật nhiễm sán lá gan theo tuổi vật chủ. Từ kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, các địa phương cần chú ý phòng trị bệnh sán lá gan cho trâu, bò ở mọi lứa tuổi; đặc biệt chú ý tới bò trên 2 năm tuổi. Bảng 4.4 Tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn trên bò theo phương thức nuôi tại các tỉnh ĐBSCL Tỉnh Phƣơng thức nuôi Nuôi nhốt Nuôi bán chăn thả SMKT SMN TLN(%) SMKT SMN TLN(%) An Giang 395 49 12,41 a 641 219 34,17 b Đồng Tháp 385 46 11,95 a 602 203 31,67 b Vĩnh Long 420 49 11,67 a 573 195 34,03 b Bến Tre 296 24 8,11 a 637 125 19,62 b Trà Vinh 356 35 9,83 a 544 107 19,67 b Sóc Trăng 375 32 8,53 a 560 102 18,21 b Tổng 2.227 235 10,55a 3.557 951 26,74b Chú thích: các giá trị trên cùng 1 hàng có các chữ cái khác nhau thì khác nhau có ý nghĩa thống kê P< 0,05; SMKT: số mẫu kiểm tra; SMN: số mẫu nhiễm; TLN(%): tỷ lệ nhiễm (%) 88 Hình 4.4 Biểu đồ so sánh tỷ lệ nhiễm sán lá gan theo phương thức nuôi tại các tỉnh ĐBSCL Bảng 4.4 và Hình 4.4 cho thấy ở ĐBSCL tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn ở bò nuôi bán chăn thả (26,74%) cao hơn bò nuôi nhốt (10,55%). Qua phân tích thống kê về tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn giữa 2 phương thức nuôi ở ĐBSCL có sự sai khác rất có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Tương tự ở các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh và Sóc Trăng thì tỷ lệ nhiễm ở phương thức nuôi bán chăn thả cao hơn nuôi nhốt và khác biệt rất có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Nguyễn Văn Diên (2015) khi nghiên cứu về một số đặc điểm dịch tễ và bệnh lý sán lá gan trên bò tại tỉnh Đồng Nai cho rằng phương thức chăn nuôi có ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ nhiễm với 37,78% ở phương thức nuôi bán chăn thả và 6,52% đối với nuôi nhốt. Qua khảo sát thực tế cho thấy ở ĐBSCL bò nuôi theo phương thức bán chăn thả thường được người dân chăn thả trên các cánh đồng, có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với mầm bệnh trên các bãi chăn. Vào mùa khô, thiếu thức ăn lẫn nước uống nên bò phải tìm ăn cỏ dọc theo các kênh rạch, ao hồ và uống nước ở đây nên khả năng nhiễm sán lá gan rất cao. Bò nuôi theo phương thức nuôi nhốt được người chăn nuôi chăm sóc tốt và thỉnh thoảng có tẩy trừ sán lá gan do đó tỷ lệ nhiễm thấp hơn. 12,41 11,95 11,67 8,11 9,83 8,53 10,55 34,17 31,67 34,03 19,62 19,67 18,21 26,74 0 10 20 30 40 An Giang Đồng Tháp Vĩnh Long Bến Tre Trà Vinh Sóc Trăng Tổng T ỷ l ệ (% ) Tỉnh Nuôi nhốt Nuôi bán chăn thả 89 Bảng 4.5 Tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn trên bò theo mùa tại các tỉnh ĐBSCL Tỉnh Mùa khô Mùa mƣa SMKT SMN TLN(%) SMKT SMN TLN(%) An Giang 522 164 31,42 a 514 104 20,23 b Đồng Tháp 553 168 30,38 a 434 81 18,66 b Vĩnh Long 498 147 29,52 a 495 97 19,60 b Bến Tre 436 96 22,02 a 497 53 10,66 b Trà Vinh 462 95 20,56 a 438 47 10,73 b Sóc Trăng 460 94 20,43 a 475 40 8,42 b Tổng 2.931 764 26,07a 2.853 422 14,79b Chú thích: các giá trị trên cùng 1 hàng có các chữ cái khác nhau thì khác nhau có ý nghĩa thống kê P< 0,05; SMKT: số mẫu kiểm tra; SMN: số mẫu nhiễm; TLN(%): tỷ lệ nhiễm (%) Hình 4.5 Biểu đồ so sánh tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn ở bò theo mùa tại các tỉnh ĐBSCL Bảng 4.5 và Hình 4.5 cho thấy tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn ở bò nuôi tại ĐBSCL chịu ảnh hưởng tác động của mùa, bò nhiễm sán lá gan lớn vào khô với tỷ lệ nhiễm là 26,07% cao hơn bò nhiễm sán lá gan lớn vào mùa mưa (14,79%). Qua phân tích thống kê về tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn giữa mùa khô và mùa mưa ở ĐBSCL có sự sai khác rất có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Tương tự ở các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh và Sóc Trăng thì tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn vào mùa khô cao hơn mùa mưa và sự khác biệt này cũng rất có ý nghĩa thống kê (p<0,05). 31,42 30,38 29,52 22,02 20,56 20,43 26,07 20,23 18,66 19,6 10,66 10,73 8,42 14,79 0 5 10 15 20 25 30 35 An Giang Đồng Tháp Vĩnh Long Bến Tre Trà Vinh Sóc Trăng ĐBSCL T ỷ l ệ (% ) Tỉnh Mùa khô Mùa mưa 90 Nghiên cứu cho thấy ở ĐBSCL chế độ khí hậu chia làm 2 mùa, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11 dương lịch nước lũ từ thượng nguồn chảy tràn ngập các cánh đồng và kênh rạch là điều kiện tốt để các loài ốc nước ngọt ký chủ trung gian bắt đầu sinh sản và sinh trưởng mạnh, thêm vào đó, những lúc mưa lớn sẽ cuốn trôi phân bò có chứa trứng sán lá gan từ các chuồng trại và bãi chăn thả xuống ao hồ, kênh rạch và đồng ruộng tạo điều kiện thuận lợi cho ấu trùng sán lá gan xâm nhập ốc nước ngọt và phát triển thành ấu trùng có khả năng gây bệnh. Khi bò nuốt phải ấu trùng có khả năng gây bệnh từ ốc hoặc ăn cỏ có nhiễm ấu trùng sán lá gan lớn, uống nước ở kênh rạch có chứa cercariae thoát ra từ ốc hoặc metacercariae trôi nổi trong nước (Dreyfuss and Rondelaud, 1997) thì bò sẽ bị nhiễm ấu trùng của sán lá gan lớn, sau hơn 3 tháng sán mới trưởng thành lại đẻ trứng theo phân bò ra ngoài (Andrews, 1999). Vì vậy, có thể bò đã nhiễm ấu trùng sán lá gan trong mùa mưa nhưng sán trưởng thành trong cơ thể bò và đẻ trứng sau hơn 3 tháng nên xét nghiệm phân bò tìm trứng sán lá gan trong mùa khô thấy tỷ lệ nhiễm cao hơn mùa mưa. Ngược lại, mùa khô nước ở các sông, kênh rạch thường xuống thấp, nước ở các cánh đồng thường cạn khô nên phần lớn đất nông nghiêp các hộ nông dân chuyển sang trồng hoa màu. Bên cạnh đó các tỉnh như Bến Tre, Trà Vinh và Sóc Trăng thì phần lớn các vùng đất tiếp giáp biển bị ngập mặn và ngập lợ vào mùa khô làm hạn chế sự phát triển của ốc nước ngọt do đó sẽ hạn chế được ấu trùng gây nhiễm bệnh cho bò. Những nguyên nhân trên làm cho tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá gan ở bò vào mùa khô thấp cho nên khi xét nghiệm phân bò tìm trứng SLGL vào mùa mưa có tỷ lệ nhiễm thấp hơn mùa khô. Theo Boray (2011) tỷ lệ nhiễm sán lá gan thay đổi theo mùa và phụ thuộc vào tình trạng quản lý gia súc, sự thiếu hụt dinh dưỡng của gia súc, vấn đề quản lý đồng cỏ và sự phát triển của ốc nước ngọt - vật chủ trung gian của sán lá gan. Các tác giả như Trịnh Văn Thịnh và Đỗ Dương Thái (1978), Phan Địch Lân (1985), Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) và Nguyễn Thị Kim Lan và ctv. (1999) cùng đồng quan điểm trên đều cho biết trâu bò nhiễm sán lá gan thường tăng lên vào mùa vật chủ trung gian phát triển, mùa vụ gắn liền với sự thay đổi thời tiết khí hậu và ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm sán lá gan trên trâu bò. Tuy nhiên, một số ít tác giả lại có ý kiến trái ngược các kết quả nghiên cứu ở trên 91 như Conceiçao et al. (2004) và Phiri et al. (2005) lại cho rằng mùa vụ không ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn ở súc vật nhai lại. Kết quả nghiên cứu ở ĐBSCL phù hợp với kết quả nghiên cứu của Khanjari et al. (2014) trên 2.391 con dê và cừu tại Iran cho thấy tỷ lệ nhiễm sán lá gan cao nhất vào mùa Xuân (8,3%), sau đó đến mùa Thu (8,1%), mùa Đông (5,9%) và thấp nhất vào mùa Hè (4%). Bulent Elitok et al. (2006) cũng cho biết, bò ở Thổ Nhĩ Kỳ nhiễm sán lá gan lớn nhiều nhất vào mùa Xuân. Claxton et al. (1997) cho biết, tại Peru, bò bị nhiễm sán lá gan chủ yếu từ tháng 12 tới tháng 5 và bị nhiễm rất ít hoặc không bị nhiễm sán vào thời gian từ tháng 6 tới tháng 8 hàng năm. Tại Tabasco - Mexico, Rangel - Ruiz et al. (1999) đã tiến hành các nghiên cứu trên bò và thấy rằng, bò bị nhiễm sán lá gan vào thời gian từ tháng 9 đến tháng 5 năm sau cao hơn so với thời điểm từ tháng 6 đến tháng 8. Kết quả nghiên cứu ở ĐBSCL này khác với kết quả nghiên cứu của Nguyen Thi Sam et al. (2012) tác giả cho biết trâu bò nuôi tại 3 tỉnh miền Trung của Việt Nam là Bình Định, Khánh Hòa và Phú Yên tỷ lệ nhiễm sán lá gan của trâu bò vào mùa mưa (50,8%) cao hơn so với mùa khô (38,1%). Phạm Diệu Thùy (2014) cho biết bò nuôi tại các tỉnh miền núi phía bắc Việt Nam là Thái Nguyên, Bắc Kạn, Tuyên Quang nhiễm sán lá gan với tỷ lệ cao nhất là vào mùa Hè (42,74%), sau đó đến mùa Thu (38,87%). Tỷ lệ nhiễm ở mùa Đông (28,82%) và mùa Xuân (27,15%). 92 Bảng 4.6 Tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn trên bò theo vùng sinh thái ở các tỉnh ĐBSCL Tỉnh Nƣớc mặn và lợ Nƣớc ngọt SMKT SMN TLN(%) SMKT SMN TLN(%) An Giang 1.036 268 25,87 Đồng Tháp 987 249 25,23 Vinh Long 993 244 24,57 Bến Tre 448 42 9,38 a 485 107 22,06 b Trà Vinh 412 39 9,47 a 488 103 21,11 b Sóc Trăng 528 44 8,33 a 407 90 22,11 b Tổng 1.388 125 9,01a 4.396 1.061 24,14b Chú thích: các giá trị trên cùng 1 hàng có các chữ cái khác nhau thì khác nhau có ý nghĩa thống kê P< 0,05; SMKT: số mẫu kiểm tra; SMN: số mẫu nhiễm; TLN(%): tỷ lệ nhiễm (%) Hình 4.6 Biểu đồ so sánh tỷ lệ nhiễm sán lá gan bò theo vùng sinh thái tại các tỉnh ĐBSCL Bảng 4.6 và Hình 4.6 cho thấy tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn ở bò nuôi tại ĐBSCL thay đổi theo vùng sinh thái, bò nuôi ở vùng sinh thái nước ngọt nhiễm sán lá gan lớn với tỷ lệ cao nhất là 24,14% và thấp nhất là bò nuôi ở vùng sinh thái nước mặn và lợ với tỷ lệ nhiễm sán lá gan là 9,01%. Qua phân tích thống kê về tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn giữa vùng sinh thái nước ngọt và vùng sinh thái nước mặn và lợ ở ĐBSCL có sự sai khác rất có ý nghĩa thống kê (p<0,05); trong cùng một vùng sinh thái thì sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm không có ý nghĩa thống kê. Tương tự ở các tỉnh có 2 vùng sinh thái nước ngọt và vùng sinh thái nước mặn và lợ như các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh và Sóc Trăng thì ở mỗi tỉnh tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn ở bò nuôi tại vùng sinh thái nước ngọt cao hơn bò nuôi tại vùng sinh thái nước mặn và lợ, sự khác biệt này cũng rất có ý nghĩa thống kê (p<0,05). 9,38 9,47 8,33 9,01 25,87 25,23 24,57 22,06 21,11 22,11 24,14 0 10 20 30 An Giang Đồng Tháp Vĩnh Long Bến Tre Trà Vinh Sóc Trăng Tổng T ỷ l ệ (% ) Tỉnh Nước mặn lợ Nước ngọt 93 Vùng sinh thái nước mặn và nước lợ là vùng đồng bằng ven biển, tiếp giáp biển nơi đây rất ít sông ngòi và kênh rạch thuộc các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh và Sóc Trăng có vị trí nằm tiếp giáp biển đó là nơi không thích hợp cho các loài ốc nước ngọt ký chủ trung gian của các loài sán lá gan phát triển. Trong khi đó, vùng sinh thái nước ngọt là vùng đồng bằng rộng lớn có hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt và được bao phủ nước ngọt quanh năm nên rất thích hợp cho ốc nước ngọt và thực vật thủy sinh phát triển. Thông thường, những nơi có loài ốc nước ngọt Lymnaea phát triển thì bệnh SLGL có nguy cơ cao hơn so với những vùng khác (Farag and El-Sayad, 1995; Bargues and Mas-Coma, 2005; El-Shazly et al., 2005). Sán lá gan không xuất hiện ở những nơi có điều kiện không thích hợp cho sự phát triển của ký chủ trung gian (Wright, 1971). Theo các tác giả Trịnh Văn Thịnh và Đỗ Dương Thái (1978); Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996); Nguyễn Thị Kim Lan và ctv (1999); Phan Địch Lân và ctv. (2002); Nguyễn Thị Kim Lan và ctv. (2008) đều thống nhất rằng: nơi nào có nhiều sông, suối, có điều kiện thuận lợi cho ốc - ký chủ trung gian phát triển thì nơi đó trâu, bò nhiễm sán lá gan với tỷ lệ cao và cường độ nhiễm nặng. Vì vậy, bò nuôi ở vùng sinh thái nước mặn và nước lợ có tỷ lệ nhiễm sán lá gan thấp hơn bò nuôi ở vùng sinh thái nước ngọt. Kết quả nghiên cứu về tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn theo vùng sinh thái ở vùng ĐBSCL phù hợp với kết quả nghiên cứu của các tác giả Phan Địch Lân (1985) tác giả cho biết tỷ lệ trâu bò nhiễm sán lá gan tăng dần từ miền biển đến miền núi, trung du và đồng bằng. Hồ Thị Thuận và Nguyễn Ngọc Phương (1986) điều tra tình hình nhiễm sán lá gan trâu bò ở các tỉnh phía Nam cho biết vùng có nhiều mương rạch, nước ngọt thì tỷ lệ và cường độ nhiễm Fasciola cao; còn vùng đồi trọc, đất cát, nước mặn thì tỷ lệ và cường độ nhiễm Fasciola thấp. Vũ Sĩ Nhàn và ctv. (1989) cũng cho thấy tỷ lệ nhiễm sán lá gan trâu bò ở miền biển thấp 4,17%, còn ở đồng bằng cao hơn tới 44,5%. Phan Địch Lân (1994) đã điều tra 7.359 trâu, bò ở 26 tỉnh miền Bắc Việt Nam, kết quả cho thấy trâu bò ở vùng đồng bằng nhiễm sán lá gan cao nhất, sau đó đến vùng trung du, vùng ven biển và miền núi (bình quân tỷ lệ nhiễm sán lá ở các vùng điều tra như sau: vùng đồng bằng từ 19,6% đến 61,3%, vùng trung du từ 16,4% đến 50,2%, vùng ven biển từ 13,7% đến 39,6%, vùng núi từ 14,7% đến 44,0%). 94 4.1.2 Kết quả mổ khám xác định tình hình nhiễm SLGL trên bò tại các tỉnh ĐBSCL Bảng 4.7 Tỷ lệ nhiễm sán lá gan trên bò tại các tỉnh ĐBSCL Tỉnh SCKT SCN TLN(%) CĐN(X±SE) An Giang 279 75 26,88 a 12,88±0,79 Đồng Tháp 257 70 27,24 a 12,37±0,88 Vĩnh Long 263 68 25,86 a 11,91±0,83 Bến Tre 270 48 17,78 b 7,02±0,48 Trà Vinh 257 45 17,51 b 6,71±0,56 Sóc Trăng 246 40 16,26 b 6,40±0,61 Tổng 1.572 346 22,01 9,93±0,34 Chú thích: các giá trị trên cùng 1 cột có các chữ cái khác nhau thì khác nhau, có ý nghĩa thống kê P< 0,05; SCKT: số conu kiểm tra; SCN: số con nhiễm; TLN(%): tỷ lệ nhiễm (%); CĐN: cường độ nhiễm. Hình 4.7 Biểu đồ so sánh tỷ lệ nhiễm sán lá gan trên bò ở các tỉnh ĐBSCL Qua mổ khảo sát 1.572 con bò tại 6 tỉnh của ĐBSCL, Bảng 4.7 và Hình 4.7 cho thấy bò tại 6 tỉnh có tỷ lệ nhiễm chung là 22,01% với cường độ nhiễm 9,93±0,34. Trong đó, bò ở các tỉ
File đính kèm:
luan_an_mot_so_dac_diem_dich_te_hoc_va_sinh_hoc_benh_san_la.pdf
TOM TAT-LA-TIENG VIET- HHHVU.pdf
TOMTAT-LA-TIENG ANH- HHH VU.pdf
Trang thong tin LA tieng anh-HHH VU.doc
Trang thong tin LA tieng Viet-HHH VU.doc