Luận án Năng suất sinh sản của lợn nái GF24 được phối với các dòng đực GF337, GF280, GF399 và sức sản xuất thịt của đời con nuôi tại miền Trung

Trang 1

Trang 2

Trang 3

Trang 4

Trang 5

Trang 6

Trang 7

Trang 8

Trang 9

Trang 10
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 10 trang mẫu của tài liệu "Luận án Năng suất sinh sản của lợn nái GF24 được phối với các dòng đực GF337, GF280, GF399 và sức sản xuất thịt của đời con nuôi tại miền Trung", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Luận án Năng suất sinh sản của lợn nái GF24 được phối với các dòng đực GF337, GF280, GF399 và sức sản xuất thịt của đời con nuôi tại miền Trung

uật phát hiện động dục, thụ tinh, kỹ thuật chăm sóc lợn nái mang thai cũng như khả năng đề kháng với các yếu tố ngoại cảnh của lợn nái. Kết quả bảng 3.2 cho thấy, thông số về các chỉ tiêu này của lợn nái GF24 phối với các dòng đực GF337, GF280 và GF399 đều cao. Số con sơ sinh dao động từ 12,70 đến 13,23 con/ổ, số con sơ sinh sống dao động từ 11,91 đến 12,31 con/ổ. Trong đó, chỉ số này đạt cao hơn khi lợn nái GF24 được phối với dòng đực GF337 so với khi được phối với 2 dòng đực còn lại (P<0,05). Số con sơ sinh và số con sơ sinh sống của lợn nái GF24 trong nghiên cứu này cao hơn so với của lợn nái F1(LxY) và F1(YxL) theo công bố của nhiều tác giả trong và ngoài nước. Theo Phan Xuân Hảo và Hoàng Thị Thúy (2009) [18], số con sơ sinh và số con sơ sinh sống của lợn nái F1(LxY) khi được phối với đực F1(Pi x Du) lần lượt là 11,75 và 11,50 con/ổ. Theo Đoàn Văn Soạn và Đặng Vũ Bình (2011) [36], số con sơ sinh và số con sơ sinh còn sống của lợn nái F1(LxY) và F1(YxL) tương ứng là 11,6 và 11,2 con/ổ; 12,1 và 11,5 con/ổ. Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2006) [38], Lê Đình Phùng và Đậu Thị Tương (2012) [30], Lukač (2013) [188], Lê Thị Mến (2015) [22], Lê Đình Phùng và cs (2016) [33] nghiên cứu trên lợn nái F1(LxY) khi phối giống với các dòng đực khác nhau cho số con sơ sinh và số con sơ sinh sống tương ứng là 9,95-11,39 và 9,68-11,03 con/ổ. Bảng 3.2. Năng suất sinh sản của lợn nái GF24 khi được phối tinh các dòng đực GF337, GF280, GF399 Tính trạng GF337 GF280 GF399 P n LSM [95%CI] n LSM [95%CI] n LSM [95%CI] Thời gian nuôi con (ngày) 589 21,64 [21,44-21,83] 649 21,63 [21,46-21,80] 1905 21,84 [21,71-21,96] 0,06 Thời gian phối lại sau cai sữa (ngày) 540 6,64 [6,04-7,23] 634 7,49 [6,95-8,03] 1779 7,13 [6,71-7,54] 0,09 Khoảng cách lứa đẻ (ngày) 530 145,81b [144,15-147,48] 512 148,08a [146,42-149,74] 1657 147,23ab [145,94-148,53] 0,03 Hệ số lứa đẻ (lứa/năm) 530 2,51a [2,49-2,54] 512 2,48b [2,46-2,50] 1657 2,50ab [2,48-2,51] 0,02 Số con sơ sinh (con/ổ) 826 13,23a [12,99-13,48] 863 12,70b [12,47-12,93] 3048 12,78b [12,62-12,93] < 0,01 Số con sơ sinh sống (con/ổ) 826 12,31a [12,06-12,55] 863 11,92b [11,69-12,15] 3044 11,91b [11,75-12,06] 0,01 Số con cai sữa (con/ổ) 540 11,58 [11,43-11,73] 634 11,39 [11,26-11,53] 1905 11,38 [11,28-11,48] 0,06 Khối lượng sơ sinh (kg/con) 761 1,40a [1,38-1,41] 853 1,39ab [1,38-1,41] 2807 1,37b [1,36-1,38] 0,03 Khối lượng cai sữa (kg/con) 540 5,89b [5,82-5,95] 634 6,00a [5,95-6,06] 1905 5,99a [5,95-6,03] 0,01 Số con cai sữa/nái/năm (con/nái/năm) 372 29,05 [28,30-29,80] 411 28,43 [27,69-29,17] 1197 28,58 [27,96-29,19] 0,18 Khối lượng lợn con cai sữa/nái/năm (kg/nái/năm) 372 172,72 [167,69-177,75] 411 172,85 [167,88-177,82] 1197 171,78 [167,64-175,92] 0,82 Ghi chú: LSM = Trung bình bình phương bé nhất; 95%CI = Khoảng tin cậy 95%; abc = Các giá trị trung bình trong cùng một hàng mang các chữ cái khác nhau là khác nhau với P<0,05. Số con cai sữa là chỉ tiêu phản ánh khả năng tiết sữa và tính khéo nuôi con của lợn mẹ, khả năng đề kháng của lợn con và kỹ thuật chăn nuôi lợn con theo mẹ. Số con cai sữa của lợn nái GF24 khi phối với các dòng đực GF337, GF280 và GF399 đạt từ 11,38 đến 11,58 con/ổ, trong đó phép lai với dòng đực GF337 có tính trạng này đạt cao hơn so với khi lai với 2 dòng đực còn lại, sự sai khác này ở mức P=0,06. Kết quả này là phù hợp vì số con sơ sinh và số con sơ sinh sống của lợn nái GF24 cũng đạt cao hơn khi được phối với dòng đực GF337 so với khi được phối với 2 dòng đực còn lại. Kết quả về chỉ tiêu này của lợn nái GF24 cao hơn kết quả công bố của nhiều tác giả trên lợn nái F1(LxY) với số lợn con cai sữa/ổ dao động từ 8,58-10,9 con [17], [36], [30], [175], [22], [33]. Chỉ tiêu về khối lượng sơ sinh của lợn con thể hiện khả năng nuôi dưỡng thai của lợn mẹ. Trong nghiên cứu này, khối lượng lợn con sơ sinh của lợn nái GF24 khi phối với 3 dòng đực GF337, GF280 và GF399 đều đạt ở mức cao, lần lượt là 1,39; 1,40 và 1,37 kg/con, sự sai khác giữa các công thức lai có ý nghĩa thống kê với P=0,03. Kết quả này tương đương với kết quả một số nghiên cứu khác trên lợn nái F1(LxY) khi phối với các dòng đực khác nhau. Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2006) [38] cho biết, khối lượng lợn con sơ sinh của lợn nái F1(LxY) phối với lợn đực Du và Pi đạt từ 1,39 đến 1,42 kg/con. Nguyễn Văn Thắng và Vũ Đình Tôn (2010) [39] báo cáo, chỉ tiêu này của lợn nái F1(LxY) khi phối với các đực giống L, Du và F1(Pi x Du) là 1,37 đến 1,41 kg/con. Khối lượng lợn con cai sữa phản ánh sản lượng và chất lượng sữa của lợn mẹ. Khối lượng lợn con cai sữa của lợn nái GF24 trong công thức lai với các dòng đực GF337, GF280 và GF399 đạt 5,89 đến 6,00 kg/con, trong đó công thức lai GF280xGF24 và GF399xGF24 có chỉ tiêu này đạt cao hơn công thức lai GF337xGF24 (P=0,009). Điều này là phù hợp với số con cai sữa của công thức lai GF337xGF24 cao hơn của hai công thức lai còn lại, vì hai tính trạng này có mối tương quan nghịch với nhau. Trong khi khối lượng lợn con sơ sinh của lợn nái GF24 trong nghiên cứu này tương đương với của lợn nái F1(LxY) khi phối với các đực giống L, Du và F1(Pi x Du) theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Thắng và Vũ Đình Tôn (2010) [39] thì khối lượng lợn con cai sữa của lợn nái GF24 đạt cao hơn của lợn nái F1(LxY) trong các công thức lai trên (5,89-6,00 kg/con với thời gian nuôi con là 21,6-21,8 ngày so với 5,45-5,79 kg/con với thời gian nuôi con là 22,5 đến 22,7 ngày). Khối lượng lợn con cai sữa của lợn nái GF24 trong nghiên cứu này thấp hơn kết quả của Lê Đình Phùng và Nguyễn Trường Thi (2009) [29] trên lợn nái F1(YxL) với 6,35kg/con; Vũ Đình Tôn và Nguyễn Công Oánh (2010) [46] trên lợn nái F1(LxY) với 6,09-6,35 kg/con; Lê Đình Phùng và cs (2016) [33] trên lợn nái F1(LxY) với 6,51-6,61 kg/con. Điều này có thể là do lợn nái GF24 có số con cai sữa nhiều hơn và thời gian nuôi con ngắn hơn so với lợn nái F1(YxL) và F1(LxY) trong các nghiên cứu kể trên. Hai chỉ tiêu tổng hợp đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái là số lượng và khối lượng lợn con cai sữa/nái/năm. Lợn nái GF24 khi phối với các dòng đực GF337, GF280 và GF399 có số lượng và khối lượng lợn con cai sữa/nái/năm đạt lần lượt là 28,43; 29,05; 28,58 con/nái/năm và 172,85; 172,72; 171,78 kg/nái/năm. Không có sự sai khác về 2 chỉ tiêu này giữa 3 công thức lai (P>0,05). Như vậy, mặc dù tồn tại sự sai khác về một vài tính trạng sinh sản đơn lẻ của lợn nái GF24 khi được phối tinh của 3 dòng đực giống khác nhau, nhưng khi đánh giá theo 2 tính trạng tổng hợp thì năng suất sinh sản của lợn nái GF24 khi phối với các dòng đực GF337, GF280 và GF399 là tương đương (P>0,05). Kết quả về 2 chỉ tiêu này của lợn nái GF24 được tính thông qua các chỉ tiêu: hệ số lứa đẻ, số lợn con và khối lượng lợn con cai sữa/ổ của lợn nái GF24. Vì vậy, như đã được thảo luận về kết quả của chỉ tiêu hệ số lứa đẻ ở trên thì kết quả về hai chỉ tiêu này của lợn nái GF24 cũng có thể cao hơn trung bình chung của toàn đàn lợn nái sinh sản trong các trang trại công nghiệp. So sánh với kết quả về hai chỉ tiêu này của các đối tượng lợn nái ngoại lai khác trong các nghiên cứu trong nước thì năng suất sinh sản của lợn nái GF24 trong nghiên cứu này là tương đương hoặc cao hơn. Theo Lê Đình Phùng và Nguyễn Trường Thi (2009) [26], lợn nái lai F1(YxL) được phối tinh đực F1(DuxL) sản xuất khối lượng lợn con cai sữa/nái/năm là 144,5 kg/nái/năm. Đoàn Văn Soạn và Đặng Vũ Bình (2011) [36] công bố năng suất sinh sản của lợn nái F1(LxY) và F1(YxL) lần lượt là 26,2 và 26,5 con/nái/năm và 175,6 và 173,2 kg/nái/năm. Lê Đình Phùng và Trương Tấn Huệ (2011) [27] nghiên cứu năng suất sinh sản của lợn nái lai cấp giống ông bà C1230 và C1050 trong sản xuất lợn nái lai cấp giống bố mẹ 3 máu tại Quảng Bình cho biết, khối lượng lợn con cai sữa/nái/năm của 2 giống này khi phối với dòng đực L19 (Du) tương ứng là 152,03 và 145,88 kg/nái/năm. Lê Đình Phùng và Đậu Thị Tương (2012) [30] báo cáo, lợn nái F1(LxY) khi phối với các dòng đực PIC337 và PIC408 có số lượng và khối lượng lợn con cai sữa/nái/năm lần lượt là từ 25,5 đến 26,3 con/nái/năm và từ 164,8 đến 171,9 kg/nái/năm. Như vậy, kết quả theo dõi trên các chỉ tiêu riêng lẻ cũng như ước tính trên hai chỉ tiêu tổng hợp cho thấy, lợn nái GF24 có năng suất sinh sản cao khi được phối giống với cả 3 dòng đực GF337, GF280, GF399 và tương đương hoặc cao hơn so với một số đối tượng lợn nái ngoại lai khác đang được nuôi phổ biến trong chăn nuôi công nghiệp ở Việt Nam. 3.1.3. Năng suất sinh sản của lợn nái GF24 khi phối với các dòng đực GF337, GF280 và GF399 qua các lứa đẻ Lứa đẻ liên quan đến tuổi và hoạt động sinh lý của cơ thể nên ảnh hưởng lớn đến năng suất sinh sản. Năng suất sinh sản của lợn nái GF24 theo lứa đẻ được trình bày ở bảng 3.3. Kết quả bảng 3.3 cho thấy, lứa đẻ ảnh hưởng đến hầu hết các tính trạng sinh sản được nghiên cứu của lợn nái GF24. Thời gian nuôi con của lợn nái GF24 ở các lứa đẻ từ 1 đến 4 dao động trong khoảng 20,92 đến 22,29 ngày, ở các lứa 1, 2 là cao hơn ở các lứa 3, 4 (P<0,001). Thời gian phối lại sau cai sữa lợn con của lợn nái GF24 ở lứa đẻ 1 là 8,73 ngày, giảm dần ở các lứa đẻ tiếp theo, đến lứa đẻ 3, 4 khoảng thời gian này còn 5,69-6,41 ngày. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Koketsu và cs (2017) [152] rằng trong suốt thời gian nuôi con, lợn nái đẻ lứa thứ nhất có khả năng thu nhận thức ăn thấp hơn so với khi đẻ các lứa sau. Điều này có thể ảnh hưởng xấu tới khả năng cho sữa của lợn mẹ và dẫn đến tăng trưởng của lợn con thấp hoặc kéo dài thời gian nuôi con của lợn mẹ. Lợn nái đẻ lứa thứ nhất cũng có thời gian từ cai sữa đến phối lại dài hơn do chúng có hệ thống nội tiết chưa phát triển hoàn thiện và có khả năng thu nhận thức ăn thấp hơn trong suốt thời gian nuôi con dẫn đến giảm sự bài tiết gonadotropin và dẫn đến hạn chế sự phát triển của các nang trứng trong buồng trứng. Khi lứa đẻ tăng lên, thời gian nuôi con và thời gian phối lại sau cai sữa giảm đã dẫn đến làm giảm khoảng cách lứa đẻ. Kết quả bảng 3.3 cho thấy, khoảng cách lứa đẻ của lợn nái GF24 đã giảm từ 150,38 ngày giữa lứa thứ nhất đến lứa thứ 2 xuống 144,40 ngày giữa lứa thứ 4 đến lứa thứ 5 (P<0,001). Nguyễn Hoài Nam và Nguyễn Văn Thanh (2018) [23] nghiên cứu về ảnh hưởng của lứa đẻ đến một số chỉ tiêu năng suất sinh sản của lợn nái F1(LxY) đã báo cáo, không có sự sai khác về thời gian nuôi con giữa các lứa đẻ từ lứa thứ nhất đến lứa trên 6 với thời gian nuôi con dao động từ 22,0 đến 22,4 ngày. Cũng theo nghiên cứu này, không có sự sai khác về thời gian từ cai sữa đến động dục trở lại giữa lứa thứ nhất so với lứa thứ 2 đến lứa thứ 6 nhưng các lứa >6 lại có khoảng thời gian này ngắn hơn so với lứa lứa thứ nhất và lứa thứ 2 đến lứa thứ 6 (5,0 ngày so với 6,2-6,3 ngày). Lê Đình Phùng và Trương Tấn Huệ (2011) [27] báo cáo, thời gian phối lại thành công sau cai sữa của hai dòng lợn nái C1230 và C1050 không có sự khác nhau giữa các nhóm lứa đẻ (P > 0,05). Ngược lại, Lê Đình Phùng và cs (2016) [33] báo cáo thời gian phối giống lại có chửa sau cai sữa của lợn nái F1(LxY) có xu hướng giảm dần về các lứa sau. Trong một số nghiên cứu ngoài nước, Cavalcante Neto và cs (2008) [73], Leite và cs (2011) [168], Stanimir Dimitrov và cs (2018) [222] công bố, thời gian phối giống lại sau cai sữa của lợn nái ở lứa thứ nhất và thứ 2 có xu hướng dài hơn so với các lứa đẻ sau. Như vậy, các kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của lứa đẻ đến thời gian nuôi con và thời gian phối giống lại sau cai sữa lợn con của lợn nái là không thống nhất. Kết quả nghiên cứu này phù hợp với các kết quả nghiên cứu của Cavalcante Neto và cs (2008) [73], Leite và cs (2011) [168], Lê Đình Phùng và cs (2016) [33], Koketsu và cs (2017) [152], Stanimir Dimitrov và cs (2018) [222], tuy nhiên, không phù hợp với kết quả của Lê Đình Phùng và Trương Tấn Huệ (2011) [27] và Nguyễn Hoài Nam và Nguyễn Văn Thanh (2018) [23]. Sự khác biệt này có thể là do sự khác biệt về hệ thống chăm sóc nuôi dưỡng và tổ chức quản lý giữa các nghiên cứu. Bảng 3.3. Năng suất sinh sản theo lứa đẻ của lợn nái GF24 khi phối với các dòng đực GF337, GF280 và GF399 Tính trạng Lứa đẻ P 1 2 3 4 n LSM [95%CI] n LSM [95%CI] n LSM [95%CI] n LSM [95%CI] Thời gian nuôi con (ngày) 1141 22,13a [21,98-22,27] 980 22,29a [22,14-22,44] 750 20,92c [20,75-21,08] 308 21,47b [21,22-21,73] < 0,001 Thời gian phối giống lại sau cai sữa (ngày) 1105 8,73a [8,28-9,19] 962 7,51b [7,03-8,00] 717 6,41c [5,88-6,93] 233 5,69c [4,79-6,58] < 0,001 Khoảng cách lứa đẻ (ngày)* 913 150,38a [149,36-151,39] 1048 148,14b [147,15-149,12] 700 145,25c [144,16-146,34] 38 144,40c [139,87-148,93] < 0,001 Số con sơ sinh (con/ổ) 1522 12,87b [12,69-13,06] 1516 12,57c [12,37-12,76] 1189 12,79bc [12,58-13,00] 510 13,39a [13,08-13,69] < 0,001 Số con sơ sinh sống (con/ổ) 1522 12,18a [11,99-12,37] 1514 11,84b [11,65-12,04] 1188 11,81b [11,61-12,02] 509 12,35a [12,04-12,65] 0,001 Số con cai sữa (con/ổ) 1041 11,67a [11,55-11,78] 980 11,51b [11,39-11,63] 750 11,24c [11,11-11,37] 308 11,38bc [11,18-11,58] < 0,001 Khối lượng lợn con sơ sinh (kg/con) 1435 1,32c [1,31-1,34] 1458 1,43a [1,42-1,44] 1046 1,42a [1,40-1,43] 482 1,37b [1,35-1,39] < 0,001 Khối lượng lợn con cai sữa (kg/con) 1041 5,94b [5,89-5,99] 980 6,10a [6,05-6,15] 750 5,88b [5,82-5,93] 308 5,93b [5,84-6,01] < 0,001 Ghi chú: LSM = Trung bình bình phương bé nhất; 95%CI = Khoảng tin cậy 95%; abc = Các giá trị trung bình trong cùng một hàng mang các chữ cái khác nhau là khác nhau với P<0,05 *: Kết quả về khoảng cách lứa đẻ được trình bày trong các cột của lứa 1, 2, 3 và 4 tương ứng là khoảng cách lứa đẻ từ lứa 1 đến lứa 2, từ lứa 2 đến lứa 3, từ lứa 3 đến lứa 4 và từ lứa 4 đến lứa 5. Tính trạng số con sơ sinh và số con sơ sinh sống của lợn nái GF24 sai khác nhau đáng kể giữa các lứa đẻ từ lứa 1 đến lứa 4 (P6 là tương đương nhau. Sự thay đổi này có lẽ là do người chăn nuôi ngày càng làm tốt hơn công tác chọn lọc và loại thải các lợn nái già, có năng suất sinh sản kém, những lợn nái đẻ từ lứa 6 trở đi được giữ lại đều là những nái có năng suất sinh sản cao. Sự không phù hợp giữa kết quả nghiên cứu này với kết quả của các nghiên cứu khác như đã chỉ ra có lẽ là do: i) lợn nái GF24 trong nghiên cứu này có số con sơ sinh ở lứa 1 cao hơn so với các đối tượng lợn nái trong các nghiên cứu ở trên (12,87 so với 10,5-11,3 con/ổ); ii) lợn nái GF24 có tuổi phối giống lần đầu và đẻ lứa đầu sớm nên có thể chịu ảnh hưởng của sự cân bằng năng lượng âm trong thời gian nuôi con như đã giải thích ở trên lớn hơn so với các lợn nái khác trong các nghiên cứu được so sánh. Điều này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Iida và cs (2015) [127]. Theo công bố của các tác giả này, nhóm lợn nái có số con sơ sinh sống ở lứa 1 dưới 7 con/ổ và 8-11 con/ổ có chỉ tiêu này tăng dần từ lứa 1 đến lứa 5 và bắt đầu giảm từ lứa 6. Trong khi đó, nhóm lợn nái có số con sơ sinh sống ở lứa 1 đạt từ 12 đến 14 và ≥ 15 con/ổ có chỉ tiêu này cao ở lứa 1, thấp nhất ở lứa 2, đạt cao nhất ở lứa 3,4 và bắt đầu giảm dần từ lứa 5. Nhóm tác giả này cũng đã kết luận rằng, lợn nái có số con sơ sinh sống cao ở lứa 1 sẽ có số con sơ sinh sống và số con cai sữa cao ở các lứa sau và kết quả về số con sơ sinh sống ở lứa 1 cao có thể được sử dụng để dự đoán lợn nái có năng suất sinh sản trọn đời cao. Số con cai sữa của lợn nái GF24 giảm dần từ lứa 1 đến lứa 3 và bắt đầu tăng trở lại vào lứa 4, tuy nhiên số con cai sữa của lứa 4 là thấp hơn lứa 1 và lứa 2 (P<0,001). Kết quả này phù hợp với kết quả tổng hợp của Iida và cs (2015) [127] trên 476.816 ổ đẻ từ lứa 1 đến lứa 6 của 109.373 con lợn nái trong 125 (trong tổng số 160) trang trại chăn nuôi lợn nái công nghiệp ở Nam Âu. Theo công bố của các tác giả này, nhóm lợn nái có số con sơ sinh sống ở lứa 1 dưới 7 con/ổ và 8-11 con/ổ có số con cai sữa ở các lứa 2, 3, 4 ổn định và cao hơn lứa 1, bắt đầu giảm từ lứa 5. Trong khi đó, nhóm lợn nái có số con sơ sinh sống ở lứa 1 đạt từ 12-14 và ≥ 15 con/ổ có số con cai sữa giảm dần từ lứa 1 đến lứa 6. Điều này được giải thích là do: i) thực tế ở các trang trại, lợn con được nuôi ghép mẹ để có sự tương đồng về số lượng và khối lượng lợn con giữa các ổ và phù hợp với khả năng cho sữa của lợn mẹ; ii) tỷ lệ tử vong trước cai sữa có mối quan hệ dương tính với số lợn con sơ sinh sống và lứa đẻ của lợn nái [151]. Khối lượng lợn con sơ sinh của lợn nái GF24 đạt cao nhất ở lứa 2 và lứa 3 (1,42-1,43kg/con), tiếp theo là lứa 4 (1,37kg/con) và thấp nhất là lứa 1 (chỉ đạt 1,32kg/con) (P<0,001). Kết quả này là phù hợp với kết quả về số lợn con sơ sinh sống ở lứa 2 và lứa 3 là thấp hơn lứa 1 và lứa 4 vì hai tính trạng này có mối tương quan nghịch lẫn nhau. Tuy nhiên, số lợn con sơ sinh sống ở lứa 1 và lứa 4 là tương đương nhưng khối lượng lợn con sơ sinh ở lứa 1 thấp hơn đáng kể so với lứa 4. Điều này có lẽ là do sự chưa thành thục về thể vóc và chưa hoàn thiện về hệ thống nội tiết của lợn nái khi đẻ lứa đầu. Khối lượng lợn con cai sữa của lợn nái GF24 ở các lứa 1, 3 và 4 là tương đương nhau (5,88-5,94 kg/con) và thấp hơn so với ở lứa 2 (P<0,001). Khối lượng lợn con cai sữa trong nghiên cứu này ở lứa 2 cao hơn ở lứa 3, 4 có lẽ là do thời gian cai sữa lợn con ở lứa 2 dài hơn lứa 3 và lứa 4, mặt khác số con cai sữa của lợn nái ở lứa 4 cao hơn lứa 2 (vì khối lượng cai sữa có mối tương quan âm với số con cai sữa). Mặc dù thời gian cai sữa ở lứa 1 và lứa 2 tương đương nhau nhưng khối lượng cai sữa ở lứa 2 cao hơn lứa 1. Điều này có lẽ là do khả năng thu nhận thức ăn trong thời gian nuôi con của lợn nái khi đẻ lứa đầu thấp hơn so với khi đẻ các lứa khác [152], điều này gây ảnh hưởng xấu tới khả năng cho sữa của lợn mẹ và dẫn đến giảm sinh trưởng của lợn con. Như vậy, kết quả nghiên cứu đã cho thấy, lợn nái GF24 khi được phối với các dòng đực GF337, GF280 và GF399, trong điều kiện chăn nuôi công nghiệp chuồng kín ở miền Trung, đều đạt năng suất sinh sản cao và không có sự khác nhau giữa ba dòng đực. Theo lứa đẻ, các tính trạng thời gian nuôi con và thời gian phối lại sau cai sữa lợn con của lợn nái GF24 giảm dần từ lứa thứ nhất đến lứa thứ tư, các tính trạng về số con và khối lượng lợn con đều đạt cao ngay từ lứa đẻ đầu tiên và duy trì ít nhất là đến lứa thứ tư. 3.2. SỨC SẢN XUẤT THỊT CỦA 3 TỔ HỢP LAI GIỮA LỢN NÁI GF24 VỚI 3 DÒNG ĐỰC GF337, GF280 VÀ GF399 TRONG ĐIỀU KIỆN CHUỒNG KÍN 3.2.1. Khả năng sinh trưởng và chuyển hóa thức ăn của 3 tổ hợp lợn lai GF337xGF24, GF280xGF24 và GF399xGF24 trong điều kiện chuồng kín 3.2.1.1. Khối lượng của 3 tổ hợp lợn lai GF337xGF24, GF280xGF24 và GF399xGF24 ở các độ tuổi trong điều kiện chuồng kín Kết quả theo dõi diễn biến về khối lượng qua các giai đoạn tuổi của 3 tổ hợp lợn lai GF337xGF24, GF280xGF24 và GF399xGF24 trong điều kiện chuồng kín được thể hiện ở Bảng 3.4. Số liệu bảng 3.4 cho thấy, khối lượng của cả 3 tổ hợp lai ở các giai đoạn tuổi đều đạt ở mức cao. Khối lượng 60 ngày tuổi của 3 tổ hợp lai GF337xGF24, GF280xGF24 và GF399xGF24 lần lượt là 23,1; 20,1 và 19,9 kg (P<0,01) và sau 90 ngày nuôi thịt (150 ngày tuổi), khối lượng xuất chuồng lần lượt đạt 97,2; 93,5 và 91,4 kg (P = 0,01). Tổ hợp lai GF337xGF24 có khối lượng cao hơn 2 tổ hợp còn lại ở mỗi giai đoạn và cả quá trình nuôi thịt. Trong nghiên cứu này, khối lượng của 3 tổ hợp lai lúc đưa vào thí nghiệm (60 ngày tuổi) đã có sai khác, sự sai khác ban đầu này cũng là do ảnh hưởng của giống (tổ hợp lai) bởi vì các yếu tố ảnh hưởng khác đến sinh trưởng của các tổ hợp lai trước khi đưa vào thí nghiệm là giống nhau. Bảng 3.4. Khối lượng (trung bình [khoảng tin cậy 95%]) của 3 tổ hợp lai GF337xGF24, GF280xGF24 và GF399xGF24 ở các độ tuổi (kg) trong điều kiện chuồng kín Độ tuổi (ngày) Tổ hợp lai P GF337 x GF24 (n=6) GF280 x GF24 (n=6) GF399 x GF24 (n=6) 60 23,3a [22,8-23,9] 20,0b [19,3-20,7] 19,9b [19,5-20,3] < 0,01 90 44,6a [43,3-45,9] 40,3b [38,3-42,4] 39,7b [38,6-40,8] < 0,01 120 66,8a [65,3-68,3] 62,8b [60,2-65,3] 62,2b [58,9-65,5] 0,01 150 97,2a [94,4-99,9] 93,5ab [89,6-97,5] 91,4b [89,0-93,8] 0,01 Ghi chú: ab = Các giá trị trung bình trong cùng một hàng mang các chữ cái khác nhau là khác nhau với P<
File đính kèm:
luan_an_nang_suat_sinh_san_cua_lon_nai_gf24_duoc_phoi_voi_ca.docx
THONG TIN MOI LA MAI-tieng anh.doc
THONG TIN MOI LA MAI-tieng viet.doc
TOM TAT LA-MAI-tieng viet.doc
TOM TAT LA-MAI-tienganh.docx
TRICH YEU LA-MAI.docx