Luận án Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm phức kim loại (sắt, đồng, kẽm, selen) đến khả năng sản xuất của gà thương phẩm

Luận án Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm phức kim loại (sắt, đồng, kẽm, selen) đến khả năng sản xuất của gà thương phẩm trang 1

Trang 1

Luận án Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm phức kim loại (sắt, đồng, kẽm, selen) đến khả năng sản xuất của gà thương phẩm trang 2

Trang 2

Luận án Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm phức kim loại (sắt, đồng, kẽm, selen) đến khả năng sản xuất của gà thương phẩm trang 3

Trang 3

Luận án Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm phức kim loại (sắt, đồng, kẽm, selen) đến khả năng sản xuất của gà thương phẩm trang 4

Trang 4

Luận án Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm phức kim loại (sắt, đồng, kẽm, selen) đến khả năng sản xuất của gà thương phẩm trang 5

Trang 5

Luận án Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm phức kim loại (sắt, đồng, kẽm, selen) đến khả năng sản xuất của gà thương phẩm trang 6

Trang 6

Luận án Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm phức kim loại (sắt, đồng, kẽm, selen) đến khả năng sản xuất của gà thương phẩm trang 7

Trang 7

Luận án Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm phức kim loại (sắt, đồng, kẽm, selen) đến khả năng sản xuất của gà thương phẩm trang 8

Trang 8

Luận án Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm phức kim loại (sắt, đồng, kẽm, selen) đến khả năng sản xuất của gà thương phẩm trang 9

Trang 9

Luận án Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm phức kim loại (sắt, đồng, kẽm, selen) đến khả năng sản xuất của gà thương phẩm trang 10

Trang 10

Tải về để xem bản đầy đủ

pdf 182 trang nguyenduy 28/08/2025 90
Bạn đang xem 10 trang mẫu của tài liệu "Luận án Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm phức kim loại (sắt, đồng, kẽm, selen) đến khả năng sản xuất của gà thương phẩm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Luận án Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm phức kim loại (sắt, đồng, kẽm, selen) đến khả năng sản xuất của gà thương phẩm

Luận án Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm phức kim loại (sắt, đồng, kẽm, selen) đến khả năng sản xuất của gà thương phẩm
án. Nhiệt độ phản ứng khảo sát lần lượt là 6; 15; 
22 và 30
o
C; pH phản ứng được cố định = 9; thời gian phản ứng cố định là 1giờ. 
Kết quả kiểm tra hình thái và kích thước của mẫu hạt đồng được thực hiện 
bằng phương pháp SEM. Kết quả được thể hiện tại hình 4.5 và bảng 4.5 
 56 
Ảnh SEM của bột Cu được chế tạo 
tại nhiệt độ 6oC 
Ảnh SEM của bột Cu được chế tạo 
tại nhiệt độ 15oC 
Ảnh SEM của bột Cu được chế tạo tại nhiệt 
độ 22oC 
Ảnh SEM của bột Cu được chế tạo 
 tại nhiệt độ 30oC 
Hình 4.5. Ảnh SEM của bột đồng đƣợc chế tạo tại nhiệt độ khác nhau 
Kết quả tại bảng 4.5 cho thấy kích thước hạt đồng siêu phân tán trung bình 
20-50 nm. Điều này hoàn phù hợp với kết quả của một số nhóm nghiên cứu đã 
công bố (Larry, 2006; Church, 1989 kích thước hạt đồng siêu phán tán thu được 
dao động từ 10 nm đến 90 nm. Về cơ bản, tốc độ phản ứng khử ion Cu2+ tăng khi 
nhiệt độ phản ứng tăng, do đó tốc độ của phản ứng tổng hợp tăng nhanh nên khó 
kiểm soát sự hình thành kích thước hạt. Khi chất khử được thêm vào hỗn hợp 
phản ứng tại nhiệt độ 30oC, tốc độ hình thành hạt kim loạisiêu phân tán và kết tụ 
tăng lên. Những kết quả này dẫn đến hình thành các hạt kim loại siêu phân tán 
với kích thước trung bình cao hơn. Với nhiệt độ phản ứng là 30oC, kích thước hạt 
đồng siêu phân tán nhỏ nhất, đồng đều nhất (20±1,07 nm . Do đã chế tạo được 
hạt đồng có kích thước nano ở nhiệt độ 30oC nên chúng tôi lựa chọn nhiệt độ 
phản ứng là 30oC để thực hiện các nghiên cứu tiếp theo. 
Bảng 4.5. Sự phụ thuộc kích thƣớc hạt đồng theo nhiệt độ của phản ứng (n=10) 
Nhiệt độ (oC) Kích thƣớc hạt (nm) 
Mean±SE 
Cv (%) 
6 50
a
±1,42 8,99 
15 30
c
±1,44 15,15 
22 40
b
±2,02
15,98 
30 20
d
±1,07 16,99 
Ghi chú: Các giá trị trên cùng một cột mang các chữ cái khác nhau thì giữa chúng sai khác có ý nghĩa 
thống kê (P<0,01 
 57 
4.1.2.3. Xác định tỷ lệ nồng độ mol [Na3C6H5O7]/[CuSO4] thích hợp để chế tạo 
hạt đồng siêu phân tán 
Tỷ lệ nồng độ mol [Na3C6H5O7(Citratrat)]/[CuSO4(Cu
2+)
] từ 0,6; 1,2; 1,8; 
2,4 và 3,0 ảnh hưởng đến quá trình hình thành hạt đồng siêu phân tán đã được 
khảo sát. Kiểm tra hình thái và kích thước của hạt đồng siêu phân tánđược chế 
tạo với tỷ lệ [Citrat]/[Cu2+] khác nhau được thể hiện tại hình 4.6 và bảng 4.6. 
Ảnh SEM của bột Cu được 
chế tạo với tỷ lệ 
[Citrat]/[Cu2+] = 0,6 
Ảnh SEM của bột Cu được 
chế tạo với tỷ lệ 
[Citrat]/[Cu2+] = 1,2 
Ảnh SEM của bột Cu được 
chế tạo với tỷ lệ 
[Citrat]/[Cu2+] = 1,8 
Ảnh SEM của bột Cu được 
chế tạo với 
tỷ lệ [Citrat]/[Cu2+] = 2,4 
Ảnh SEM của bột Cu được 
chế tạo với tỷ lệ 
[Citrat]/[Cu2+] = 3,0 
Hình 4.6. Ảnh SEM của bột Cu đƣợc chế tạo đƣợc theo các tỷ lệ 
[Citrat]/[Cu
2+
] khác nhau 
Bảng 4.6. Sự phụ thuộc kích thƣớc hạt đồng theo tỷ lệ nồng độ mol 
[Na3C6H5O7]/[CuSO4] (n=10) 
tỷ lệ nồng độ mol 
[Na3C6H5O7]/[CuSO4] 
Kích thƣớc hạt (nm) 
Mean±SE 
CV (%) 
0,6 30
a
±1,83 19,37 
1,2 25
b
±1,29 16,43 
1,8 20
c
±1,16 18,40 
2,4 20
c
±0,84 13,33 
3,0 30
a
±1,43 15,15 
Ghi chú: Các giá trị trên cùng một cột mang các chữ cái khác nhau thì giữa chúng sai khác có ý nghĩa 
thống kê (P<0,01 
 58 
Kết quả tại bảng 4.6 cho thấy với tỷ lệ [Citrat]/[Cu2+] = 1,8 và tỷ lệ 
[Citrat]/[Cu
2+
] = 2,4 cho kết quả hạt đồng siêu phân tán tốt nhất; kích thước hạt 
đồng siêu phân tán nhỏ nhất. Điều này có thể được giải thích như sau: trong quá 
trình phản ứng, do các ion Cu2+ đã được gắn lên trên các polyme nên không thể 
lớn lên một cách tự do. Hơn nữa các hạt khi vừa hình thành đã được ngăn cách 
với nhau bởi lớp vỏ polyme lớn và không thể kết tụ được với nhau. Điều này đã 
khống chế cả quá trình lớn lên và tập hợp của các hạt đồng siêu phân tán, do đó 
dễ tạo hạt đồng đều. Tuy nhiên khi nồng độ natri citrat trong dung dịch cao, 
([Citrat]/[Cu
2+] = 3,0 , kích thước trung bình của hạt đồng siêu phân tán sẽ lớn 
hơn. Khi tỷ lệ [Citrat]/[Cu2+] quá thấp, các hạt đồng siêu phân tán mới hình thành 
không được bảo vệ và do vậy chúng dễ dàng tập hợp với nhau thành hạt lớn hơn. 
Với kết quả nghiên cứu trên, chúng tôi chọn tỷ lệ [Citrat]/[Cu2+] = 1,8 để chế tạo 
hạt đồng siêu phân tán. 
 .1. . . ết quả thiết lập các điều kiện thích hợp chế tạo hạt đồng siêu phân 
tán, sử dụng chất khử NaBH4 
Cơ chế hình thành hạt đồng siêu phân tán trải qua hai giai đoạn: giai đoạn 
một là giai đoạn hình thành các mầm tinh thể; giai đoạn hai là giai đoạn phát triển 
mầm để hình thành hạt siêu phân tán. Hạt đồng siêu phân tán sau khi mới hình 
thành có năng lượng bề mặt rất lớn, chúng dễ dàng phản ứng với oxi trong môi 
trường xung quanh để hình thành lớp màng oxit bảo vệ, nếu không có sự hỗ trợ 
của môi trường khí trơ được sục liên tục vào hệ phản ứng. Trong công trình 
nghiên cứu của Hassan (1991 đã sục khí nitơ và khí argon vào hệ phản ứng 
trong suốt quá trình điều chế để tránh hiện tượng oxy hóa. 
Các hạt đồng siêu phân tán đã được chế tạo thành công bằng phương pháp 
khử hóa học, sử dụng NaBH4 làm chất khử. Xác định điều kiện tối ưu chế tạo vật 
liệu đồng siêu phân tán: Tỷ lệ nồng độ mol [Na3C6H5O7]/[CuSO4] = 1,8, pH phản 
ứng = 9,0, nhiệt độ phản ứng ở 30oC. Kích thước hạt đồng thu được là nhỏ nhất 
(khoảng 20 nm . 
Với kích thước hạt đồng siêu phân tán đã thu được có thể khẳng định rằng: 
bằng phương pháp khử hóa học, sử dụng NaBH4 làm chất khử với điều kiện trên, 
có thể chế tạo được hạt nano đồng (kích thước trung bình là khoảng 20 nm). 
4.1.3. Kết quả nghiên cứu chế tạo các hạt o it kẽm siêu ph n tán 
4.1.3.1. Xác định pH thích hợp để tạo hạt oxit kẽm siêu phân tán 
Nghiên cứu ảnh hưởng của pH đến quá trình hình thành hạt oxit kẽm siêu 
phân tán, cụ thể khảo sát pH từ 9,0; 10,0; 11,0; 12,0; 13,0. Mẫu oxit kẽm được 
 59 
chế tạo với nhiệt độ phản ứng là 180oC và thời gian phản ứng là 7 giờ cố định. 
Kết quả kiểm tra hình thái và kích thước của hạt oxit kẽm được thực hiện 
bằng phương pháp SEM. Kết quả chụp SEM của hạt oxit kẽm siêu phân tán được 
thể hiện trên hình 4.7. Các ảnh SEM (hình 4.7) cho thấy các hạt oxit kẽm được 
tổng hợp với pH phản ứng khác nhau có cấu trúc tinh thể, các hạt có kích thước 
tương đối đồng đều, biên hạt tương đối rõ ràng. 
Ảnh SEM của bột ZnO được 
chế tạo tại pH = 9 
Ảnh SEM của bột ZnO được 
chế tạo tại pH = 10 
Ảnh SEM của bột ZnO được 
chế tạo tại pH = 11 
Ảnh SEM của bột ZnO được 
chế tạo tại pH = 12 
Ảnh SEM của bột ZnO được 
chế tạo tại pH = 13 
Hình 4.7. Ảnh SEM của bột o it kẽm đƣợc chế tạo tại các pH khác nhau 
Từ ảnh SEM của hạt oxit kẽm có thể xác định được kích thước trung bình 
của các hạt oxit kẽm, kết quả được thể hiện tại bảng 4.7. 
Bảng 4.7. Sự phụ thuộc kích thƣớc hạt oxit kẽm theo pH của phản ứng (n=10) 
pH 
Kích thƣớc hạt (nm) 
Mean±SE 
CV (%) 
9 170
d
±2,61 4,86 
10 60
e
±2,90 15,31 
11 180
c
±2,80 4,92 
12 190
b
±3,44 5,73 
13 220
a
±1,90 2,73 
Ghi chú: Các giá trị trên cùng một cột mang các chữ cái khác nhau thì giữa chúng sai khác có ý nghĩa 
thống kê (P<0,01 
 60 
Qua bảng 4.7 cho thấy kích thước của các hạt oxit kẽm được chế tạo trong 
điều kiện pH = 13 là lớn nhất (220±1,90 nm , trong khi đó các hạt oxit kẽm được 
chế tạo với điều kiện pH = 10, kích thước hạt oxit kẽm trung bình đạt 60 ± 2,90 
nm. Điều này có thể giải thích là khi tăng pH của phản ứng, làm cho lực hút tĩnh 
điện mạnh hơn dẫn đến sự hình thành các hạt oxit kẽm lớn hơn (Byrappa, 2007 . 
Do đó pH = 10 sẽ được chọn để tiến hành trong các khảo sát tiếp theo. 
4.1.3.2. Xác định nhiệ độ dung dịch phản ứng thích hợp để tạo hạt oxit kẽm 
siêu phân tán 
Sau khi xác định được pH phản ứng thích hợp (pH=10) để tổng hợp các hạt 
oxit kẽm, chúng tôi tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ phản ứng đến quá 
trình hình thành hạt oxit kẽm. Nhiệt độ phản ứng được khảo sát là: 100; 120; 140; 
160; 180
o
C. Mẫu oxit kẽm được chế tạo với trong điều kiện pH phản ứng là 10 và 
thời gian phản ứng là 7 giờ giữ cố định. 
Kết quả kiểm tra hình thái và kích thước của hạt oxit kẽm được thực hiện 
bằng phương pháp SEM. Kết quả chụp SEM của hạt oxit kẽm siêu phân tán được 
thể hiện trên hình 4.8. 
Ảnh SEM của bột ZnO được 
chế tạo tại nhiệt độ ủ 100oC 
Ảnh SEM của bột ZnO được 
chế tạo tại nhiệt độ ủ 120oC 
Ảnh SEM của bột ZnO được 
chế tạo tại nhiệt độ ủ 140oC 
Ảnh SEM của bột ZnO được 
chế tạo tại nhiệt độ ủ 160oC 
Ảnh SEM của bột ZnO được 
chế tạo tại nhiệt độ ủ 180oC 
Hình 4.8. Ảnh SEM của bột o it kẽm đƣợc chế tạo tại các nhiệt độ khác nhau 
 61 
Từ ảnh SEM cho thấy hạt oxit kẽm được tổng hợp với nhiệt độ phản ứng 
khác nhau có cấu trúc tinh thể, các hạt có kích thước tương đối khác nhau. Các 
mẫu vật liệu ZnO được điều chế theo phương pháp thủy nhiệt có nhiệt độ phản 
ứng 100; 120; 140; và 160 có dạng hình que. Từ các ảnh SEM của hạt oxit kẽm 
siêu phân tán, chúng tôi có thể xác định được kích thước trung bình của các hạt 
oxit kẽm siêu phân tán, kết quả được trình bày tại bảng 4.8. 
Bảng 4.8. Sự phụ thuộc kích thƣớc hạt oxit kẽm theo nhiệt độ của phản ứng (n=10) 
Nhiệt độ (oC) Kích thƣớc hạt (nm) 
Mean±SE 
Cv (%) 
100 300
c
±3,46 3,65 
120 480
a
±2,31 1,52 
140 450
b
±2,24 1,57 
160 200
d
±2,68 4,24 
180 70
e
±1,73 6,10 
Ghi chú: Các giá trị trên cùng một cột mang các chữ cái khác nhau thì giữa chúng sai khác có ý nghĩa 
thống kê (P<0,01 
Kết quả tại bảng 4.8 cho thấy kích thước của các hạt oxit kẽm được chế 
tạo trong điều kiện nhiệt độ phản ứng 180oC có kích thước nhỏ nhất, trung bình 
đạt 70±1,73 nm. Như vậy khi tăng nhiệt độ của phản ứng, làm cho phản ứng 
trong bình Teflon diễn ra mãnh liệt hơn và tạo ra sự xáo trộn mạnh hơn dẫn đến 
sự phân tán các hạt oxit kẽm tốt hơn. 
Nhiệt độ của dung dịch phản ứng là 180oC đã chế tạo được hạt oxit kẽm 
có kích thước nano (70±1,73 nm), trên cơ sở đó chúng tôi lựa chọn nhiệt độ phản 
ứng là 180oC để thực hiện các nghiên cứu tiếp theo. 
4.1.3.3. Xác định thời gian phản ứng thích hợp để tạo hạt o it ẽm siêu phân 
tán 
Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian phản ứng đến quá trình hình thành hạt 
oxit kẽm siêu phân tán, thời gian được khảo sát: 1; 2; 3; 5 và 7 giờ. Mẫu oxit kẽm 
được chế tạo với pH =10 và nhiệt độ phản ứng là 180oC giữ cố định. Kết quả 
chụp SEM của hạtoxit kẽm được thể hiện trên hình 4.9. Kết quả chụp SEM (hình 
4.9) cho thấy các hạt oxit kẽm siêu phân tán được tổng hợp với nhiệt độ phản 
ứng khác nhau có các hạt có kích thước hạt khác nhau. 
 62 
Ảnh SEM của bột ZnO được 
chế tạo tại thời gian phản 
ứng 1 giờ 
Ảnh SEM của bột ZnO được 
chế tạo tại thời gian phản 
ứng 2 giờ 
Ảnh SEM của bột ZnO được 
chế tạo tại thời gian phản 
ứng 3 giờ 
Ảnh SEM của bột ZnO được 
chế tạo tại thời gian phản 
ứng 5 giờ 
Ảnh SEM của bột ZnO được 
chế tạo tại thời gian phản 
ứng 7 giờ 
Hình 4.9. Ảnh SEM của bột o it kẽm đƣợc chế tạo theo các thời gian phản 
ứng khác nhau 
Từ các ảnh SEM (hình 4.9) có thể xác định được kích thước trung bình của 
các hạt oxit kẽm siêu phân tán, kết quả được trình bày tại bảng 4.9. 
Bảng 4.9. Sự phụ thuộc kích thƣớc hạt oxit kẽm theo thời gian của phản ứng 
(n=10) 
Thời gian (giờ) 
Kích thƣớc hạt (nm) 
Mean±SE 
Cv (%) 
1 350
a
±2,24 2,02 
2 250
b
±2,85 3,60 
3 200
c
±3,17 5,02 
5 150
d
±2,36 5,00 
7 60
e
±1,30 6,85 
Ghi chú: Các giá trị trên cùng một cột mang các chữ cái khác nhau thì giữa chúng sai khác có ý nghĩa 
thống kê (P<0,01 
 63 
Kết quả tại bảng 4.9 cho thấy kích thước hạt oxit kẽm siêu phân tán được 
chế tạo trong điều kiện thời gian phản ứng là 7 giờ có kích thước nhỏ nhất, trung 
bình đạt 60±1,30 nm. Khi tăng thời gian của phản ứng đã làm cho sự phân tán 
các hạt oxit kẽm tốt hơn nên kích thước oxit kẽm sẽ nhỏ hơn. 
Thời gian phản ứng 7 giờ đã chế tạo được hạt oxit kẽm có kích thước nano 
(60±1,03 nm , do vậy chúng tôi lựa chọn thời gian phản ứng là 7 giờ. 
4.1.3.4. ết quả thiết lập điều kiện thích hợp của quá trình chế tạo các hạt oxit 
kẽm siêu phân tán bằng phương pháp thủy nhiệt 
Qua kết quả khảo sát ảnh hưởng của pH, nhiệt độ và thời gian phản ứng đến 
kích thước hạt oxit kẽm siêu phân tán, cho thấy bằng phương pháp thủy nhiệt, hạt 
oxit kẽm được chế tạo với điều kiện pH = 10, nhiệt độ phản ứng là 180oC, thời 
gian phản ứng là 7 giờ sẽ cho kích thước hạt oxit kẽm siêu phân tán thu được là 
nhỏ nhất trung bình từ 60-70 nm. 
Với kích thước hạt oxit kẽm siêu phân tán đã thu được có thể khẳng định 
rằng: bằng phương pháp thủy nhiệt với điều kiện pH = 10, nhiệt độ phản ứng là 
180
oC, thời gian phản ứng là 7 giờ, có thể chế tạo được hạt nano oxit kẽm (kích 
thước trung bình là 60-70 nm). 
4.1.4. Chế tạo các hạt selen siêu ph n tán bằng phƣơng pháp khử, sử dụng 
chất khử L-Ascorbic 
4.1.4.1. Xác định tỷ lệ nồng độ mol [L-Ascorbic]/[Se4+] thích hợp để tạo hạt 
selen siêu phân tán 
Về mặt hoá học, axit ascorbic là γ-lacton. Lacton là dạng este nội phân tử: liên 
kết este xuất hiện giữa nhóm (-CO) và (-OH) của một trong những cacbon, tuỳ vị 
trí mà đánh dấu α, β, γ tính từ nhóm carboxyl. Dạng γ - lacton (ở C4 thường bền 
hơn cả của axit hexonic với một liên kết kép gắn hai gốc rượu (-OH) ở vị trí 
cacbon 2 và 3. Nhờ khả năng nhường electron nên axit L-Ascorbic được ứng dụng 
để điều chế hạt selen siêu phân tán. Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng axit L- 
Ascorbic như là chất khử Se4+ về dạng Seo kim loại. Do đó nồng độ axit L-Ascorbic 
là một trong những yếu tố quyết định và ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình 
thành sản phẩm hạt selen siêu phân tán. Nồng độ axit L-Ascorbic không được quá 
lớn để tránh quá trình phản ứng xảy ra quá nhanh, các hạt selen tạo thành dễ có khả 
 64 
năng keo tụ. Vì vậy tiến hành khảo sát tỷ lệ nồng độ mol [L-Ascorbic]/[Se4+] theo 
các tỷ lệ từ 3,0-10,0, nhiệt độ tiến hành phản ứng tại nhiệt độ phòng. 
Chụp TEM mẫu đại diện để đánh giá hình thái và kích thước của hạt selen 
siêu phân tán. Ảnh TEM (hình 4.10 của mẫu dung dịch selen siêu phân tán với 
nồng độ 200 ppm với tỷ lệ nồng độ mol [L-Ascorbic]/[Se4+] tăng dần từ 3,0 - 
10,0 cho thấy có sự xuất hiện của các hạt selen có hình cầu, kích thước 60-80 nm 
đồng đều, tuy nhiên khi nồng độ axit L-Ascorbic tăng lên 6,0 và 10,0 các hạt 
selen siêu phân tán bắt đầu có sự co cụm tạo thành những hạt lớn hơn và dung 
dịch không bền theo thời gian. 
a- [L-Ascorbic]/[Se
4+
]: 3,0 
b - [L-Ascorbic]/[Se
4+
]: 4,0 
c-[L-Ascorbic]/[Se
4+
]: 5,0 
d-[L-Ascorbic]/[Se
4+
]: 6,0 
e-[L-Ascorbic]/[Se
4+
]: 10,0
Hình 4.10. Ảnh TEM dung dịch selen siêu ph n tán 200 ppm tƣơng ứng 
Sự hình thành các hạt selen siêu phân tán theo phương pháp này có thể 
được giải thích như sau: 
Se + 4HNO3 = H2SeO3 + 4NO2 + H2O(1) 
H2SeO3 + C6H8O8 = Se + C6H8O6(2) 
Bên cạnh đó các yếu tố khác như: pH, nồng độ chất tham gia phản ứng, 
nhiệt độ của phản ứng, tốc độ, thời gian phản ứng cũng ảnh hưởng tới chất 
 65 
lượng sản phẩm tạo thành. Đặc biệt khi pH cao, ion OH- làm mỏng lớp điện kép 
bao ngoài hạt selen làm các hạt selen dễ tập hợp lại tạo thành các hạt có kích 
thước lớn. Vì vậy, chúng ta cần khảo sát thêm một số yếu tố khác như: pH, nồng 
độ chất ổn định, để thu được được dung dịch selen siêu phân tán kích thước nhỏ 
và đồng đều hơn. Từ những kết quả thu được ở trên, chúng tôi chọn tỷ lệ nồng độ 
mol [L-Ascorbic]/[Se
4+
] là 4,0 để thực hiện các nghiên cứu tiếp theo. 
Qua ảnh TEM (hình 4.10 , chúng tôi xác định được kích thước hạt selen 
siêu phân tán. Kết quả được trình bày tại bảng 4.10. 
Bảng 4.10. Sự phụ thuộc kích thƣớc hạt selen theo tỷ lệ nồng độ mol 
[L-Ascorbic]/[Se
4+
] (n=10) 
Tỷ lệ nồng độ mol 
[L-Ascorbic]/[Se
4+
] 
Kích thƣớc hạt (nm) 
Mean±SE 
Cv (%) 
3 65
d
±1,96 9,53 
4 60
e
±1,25 6,62 
5 70
c
±1,93 8,75 
6 75
b
±1,65 6,99 
10 80
a
±1,55 6,15 
Ghi chú: Các giá trị trên cùng một cột mang các chữ cái khác nhau thì giữa chúng sai khác có ý nghĩa 
thống kê (P<0,01 
Kết quả tại bảng 4.10 cho thấy, kích thước hạt selen siêu phân tán nhỏ nhất 
khi tỷ lệ nồng độ mol [L-Ascorbic]/[Se4+]= 4 (kích thước hạt là 60±1,25 nm). 
4.1.4.2. Xác định nồng độ chất ổn định chitosan thích hợp để tạo hạt selen siêu 
phân tán 
Vai trò của chất ổn định chitosan là rất quan trọng trong quá trình điều chế 
hạt selen siêu phân tán. Để tăng nồng độ của hạt selen trong dung dịch và tăng độ 
đồng đều của các hạt selen siêu phân tán, chống lại quá trình co cụm của các hạt 
thì cần khảo sát ảnh hưởng của hàm lượng chất ổn định. Tiến hành điều chế dung 
dịch selen siêu phân tán 200 ppm với nồng độ chitosan tương ứng: 300 ppm, 400 
ppm, 500 ppm, 600 ppm, 700 ppm. Kết quả chụp ảnh TEM mẫu đại diện để đánh 
giá hình thái và kích thước của các hạt selen thu được sau 24 giờ điều chế cụ thể 
tại hình 4.11. 
 66 
a-Chitosan: 300 ppm 
b-Chitosan: 400 ppm 
c-Chitosan: 500 ppm 
d-Chitosan: 600 ppm 
e-Chitosan: 700 ppm 
Hình 4.11. Ảnh TEM của dung dịch selen với nồng độ chitosan khác nhau 
Qua ảnh TEM (hình 4.11 , chúng tôi xác định được kích thước hạt selen 
siêu phân tán. Kết quả được trình bày tại bảng 4.11. 
Kích thước của các hạt selen trong các mẫu khoảng 55-70 nm. Tuy nhiên 
khi nồng độ chitosan cao thì độ nhớt trong dung dịch tăng cũng ảnh hưởng đến quá 
trình phản ứng, làm phản ứng xảy ra chậm các hạt selen tạo thành có điều kiện để 
co cụm với nhau dẫn đến kích thước các hạt tăng. Vậy nồng độ chitosan tối ưu 
cho quá trình điều chế dung dịch selen siêu phân tán được chọn là 500 ppm, kích 
thước trung bình là 55±1,79 nm. 
Bảng 4.11. Sự phụ thuộc kích thƣớc hạt selen theo nồng độ chất ổn định 
chitosan (n=10) 
Nồng độ chất ổn 
định chitosan 
Kích thƣớc hạt (nm) 
Mean ± SE 
Cv (%) 
300 65
b 
± 1,71 8,33 
400 60
c 
± 1,34 7,07 
500 55
d 
± 1,79 10,32 
600 65
b 
± 1,53 7,46 
700 70
a 
± 1,41 6,38 
Ghi chú: Các giá trị trên cùng một cột mang các chữ cái khác nhau thì giữa chúng sai khác có ý nghĩa 
thống kê (P<0,01 
 67 
4.1.4.3. Xác định pH thích hợp để tạo hạt selen siêu phân tán 
Amoni hydroxyl (NH4OH) và axit axetic (CH3COOH được sử dụng như 
môi trường đệm để duy trì sự ổn định pH của dung dịch. Để khảo sát ảnh hưởng 
của pH đến quá trình hình thành dung dịch selen siêu phân tán, chúng tôi tiến 
hành khảo sát với dung dịch selen với nồng độ 100 ppm, nồng độ chitosan trong 
dung dịch là 500 ppm, tỷ lệ [L-Ascorbic]/[Se4+] = 4,0. Phản ứng được duy trì ở 
nhiệt độ phòng thí nghiệm. Khi pH =7,0 và 8,0: dung dịch selen siêu phân tán bị 
tủa ngay sau điều chế. 
Chúng tôi tiến hành đo TEM ba mẫu đại diện dung dịch selen 200 ppm 
với pH = 4, pH = 5 và pH = 6. Kết quả được thể hiện tại hình 4.12. 
a-pH=4 
b-pH=5 
b-pH=6 
Hình 4.12. Ảnh TEM của dung dịch selen đƣợc điều chế theo điều kiện pH 
Qua ảnh TEM (hình 4.12 , chúng tôi xác định được kích thước hạt selen 
siêu phân tán. Kết quả được trình bày tại bảng 4.12. 
Bảng 4.12. Sự phụ thuộc kích thƣớc hạt selen theo pH của phản ứng (n=10) 
pH 
Kích thƣớc hạt (nm) 
Mean±SE 
Cv (%) 
4 65
c
±2,39 11,67 
5 80
a
±1,55 6,15 
6 70
b
±1,71 7,76 
Ghi chú: Các giá trị trên cùng một cột mang các chữ cái khác nhau thì giữa chúng sai khác có ý nghĩa 
thống kê (P<0,01 
Kết quả tại bảng 4.12 cho thấy kích thước hạt selen thu được khá đồng đều 
và nhỏ nhất ở pH = 4 (với kích thước là 65±2,39 nm . Tuy nhiên, khi pH tăng lên 
 68 
các hạt selen tạo thành có xu hướng kết tụ lại với nhau, dẫn đến độ ổn định của 
dung dịch selen siêu phân tán giảm. Chúng tôi chọn pH = 4 để thực hiện nghiên 
cứu tiếp theo. 
4.1.4.4. Xác định nồng độ selen thích hợp để tạo hạt selen siêu phân tán 
Sau khi chọn được các điều kiện thích hợp: nồng độ chất khử, giá trị pH, 
nồng độ chất ổn định chitosan trong dung dịch. Chúng tôi tiến hành khảo sát ảnh 
hưởng của nồng độ Se4+ đến hình thái và kích thước của hạt selen siêu phân tán. 
Kết quả đo TEM của hai mẫu đại diện hạt selen siêu phân tán nồng độ 100 
ppm và 500 ppm tương ứng được chỉ ra trong hình 4.13. 
Từ kết quả đo TEM cho thấy mẫu dung dịch selen có nồng độ 100 ppm 

File đính kèm:

  • pdfluan_an_nghien_cuu_anh_huong_cua_che_pham_phuc_kim_loai_sat.pdf
  • pdfDD&TACN - TTLA - Ha Van Huy.pdf
  • docTTT - Ha Van Huy.doc
  • pdfTTT - Ha Van Huy.pdf