Luận án Nghiên cứu ảnh hưởng của loài cây mẹ và biến dị, di truyền về sinh trưởng và tính chất gỗ trong chọn giống keo lai tự nhiên

Trang 1

Trang 2

Trang 3

Trang 4

Trang 5

Trang 6

Trang 7

Trang 8

Trang 9

Trang 10
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 10 trang mẫu của tài liệu "Luận án Nghiên cứu ảnh hưởng của loài cây mẹ và biến dị, di truyền về sinh trưởng và tính chất gỗ trong chọn giống keo lai tự nhiên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Luận án Nghiên cứu ảnh hưởng của loài cây mẹ và biến dị, di truyền về sinh trưởng và tính chất gỗ trong chọn giống keo lai tự nhiên

iống đã được công nhận, nhưng lại có 25% số dòng có sinh trưởng tương đương và vượt so với giống được công nhận. Nhóm các dòng Keo lai từ mẹ là Keo lá tràm có sinh trưởng kém hơn các giống đã được công nhận nhưng có một số dòng sinh trưởng tương đương. 73 Biểu đồ 3.2. Biểu đồ phân bố của các nhóm dòng keo lai theo thể tích thân cây tại Yên Thế c. Tại Đông Hà Kết quả đánh giá sinh trưởng và chất lượng thân cây tại khảo nghiệm ở Đông Hà giai đoạn 3 tuổi cho thấy, có sự sai khác rõ rệt về các chỉ tiêu sinh trưởng và chất lượng thân cây giữa các nhóm dòng. Nhóm các dòng keo lai từ cây mẹ Keo tai tượng có sinh trưởng về thể tích đạt 17,5 dm3/cây, cao hơn nhóm các dòng keo lai từ Keo lá tràm đạt 9,2 dm3/cây (Fpr < 0,001 và Lsd = 2,1 dm3). Chỉ tiêu chất lượng tổng hợp của nhóm các dòng keo lai từ Keo tai tượng cũng cao hơn các dòng từ Keo lá tràm (bảng 3.17). 74 Bảng 3.17. Sinh trưởng và chất lượng thân cây của keo lai từ các nhóm loài cây mẹ tại Đông Hà (12/2011 - 08/2014) TT Nhóm D1.3 (cm) H (m) V (dm 3 ) TLS (%) Dtt (điểm) Dttt (điểm) Icl (điểm) 1 Aa x Am 5,4 7,1 9,2 83,1 3,1 3,1 10,3 2 Am x Aa 7,1 7,8 17,5 64,2 3,5 3,4 12,7 3 GCN 8,9 8,8 29,6 85,0 3,8 3,6 14,7 4 Aa hạt 5,8 7,3 10,2 96,6 3,3 3,4 11,6 5 Am hạt 7,8 7,7 19,9 76,6 3,8 4,2 16,5 TB 5,9 7,3 11,6 79,2 3,3 3,2 11,0 Fpr <0,001 <0,001 <0,001 <0,001 <0,001 <0,001 <0,001 Lsd 0,4 0,2 2,1 13,3 0,1 0,2 1,5 Biểu đồ 3.3. Biểu đồ phân bố của các nhóm dòng keo lai theo thể tích thân cây tại Đông Hà 75 Tại các địa điểm Ba Vì, Yên Thế và Đông Hà, hầu hết các dòng vô tính có sinh trưởng trong nhóm tốt đều có nguồn gốc từ mẹ là Keo tai tượng. Cụ thể, trong nhóm các dòng có sinh trưởng tốt nhất ở Ba Vì thì hầu hết là các dòng keo lai có nguồn gốc từ mẹ là Keo tai tượng, chỉ có 2 dòng keo lai từ mẹ là Keo lá tràm (dòng BV106 và dòng BV175) đứng thứ 1 và thứ 3 về sinh trưởng. Tại Yên Thế, không có dòng nào có nguồn gốc từ Keo lá tràm xếp hạng về sinh trưởng trong nhóm 10 dòng vô tính tốt nhất. Trong số 20 dòng tốt tại Yên Thế thì chỉ có 2 dòng BV471 xếp hạng 22 và BV466 xếp hạng 20 về thể tích thân cây. Nhóm các dòng có sinh trưởng kém nhất thuộc về các dòng keo lai có nguồn gốc từ mẹ là Keo lá tràm. Điều này cho thấy keo lai từ mẹ là Keo lá tràm có sinh trưởng không thật sự tốt (ngoại trừ hai dòng BV106 và BV175), điều này phần nào phản ánh ảnh hưởng của loài cây mẹ đến khả năng sinh trưởng của cây lai. Kết quả này có thể cho thấy, loài cây mẹ có ảnh hưởng mạnh đến khả năng sinh trưởng của cây lai. Ở miền Bắc và Bắc Trung Bộ là nơi có điều kiện khí hậu lạnh về mùa đông, không phù hợp với Keo lá tràm, do đó cây lai từ cây mẹ là Keo lá tràm sinh trưởng kém hơn so với cây lai từ cây mẹ là Keo tai tượng, mặc dù vẫn có một số trường hợp đặc biệt được ghi nhận là có triển vọng. Kết quả này cho thấy, trong tương lai có thể tập trung vào chọn lọc cây lai từ cây mẹ là Keo tai tượng cho khảo nghiệm ở miền Bắc và Bắc Trung Bộ. d. Tại Bầu Bàng Kết quả đánh giá khảo nghiệm tại Bầu Bàng ở giai đoạn 2 tuổi cho thấy giữa các nhóm loài có sự sai khác rõ rệt về các chỉ tiêu sinh trưởng và chất lượng thân cây. Nhóm các dòng keo lai đã được công nhận giống vẫn đứng đầu về sinh trưởng, tuy nhiên không có sự khác biệt rõ rệt với nhóm các dòng keo lai mới từ mẹ là Keo tai tượng với thể tích đạt 16,1 dm3/cây. Nhóm các dòng keo lai từ mẹ là Keo lá tràm có sinh trưởng kém nhất, thể tích thân cây chỉ đạt 10,2 dm3/cây (Fpr < 0,001 và Lsd = 3,4). Nhóm các dòng keo lai từ Keo tai tượng cũng có chỉ tiêu chất lượng tổng hợp cao hơn các dòng keo lai từ Keo lá tràm (bảng 3.18). 76 Bảng 3.18: Sinh trưởng và chất lượng thân cây của keo lai từ các nhóm loài cây mẹ tại Bầu Bàng (09/2012 - 11/2014) TT Nhóm D1.3 (cm) H (m) V (dm 3 ) TLS (%) Dtt (điểm) Dttt (điểm) Icl (điểm) 1 Aa x Am 4,9 7,8 10,2 84,3 3,2 4,8 16,2 2 Am x Aa 6,3 9,0 16,1 82,3 3,4 5,0 17,6 3 GCN 6,6 9,3 17,5 90,0 3,7 5,2 19,7 TB 5,8 8,5 13,9 83,2 3,4 4,9 17,1 Fpr <0,001 <0,001 <0,001 0,404 <0,001 0,015 <0,001 Lsd 0,7 0,7 3,4 14,7 0,2 0,4 1,9 Biểu đồ 3.4 Biểu đồ phân bố của các nhóm dòng keo lai theo thể tích thân cây tại Bầu Bàng 77 Tại Bầu Bàng, một số dòng tốt nhất thuộc nhóm dòng từ cây mẹ là Keo lá tràm và Keo tai tượng có sinh trưởng vượt trội so với giống đã được công nhận, 50% số dòng keo lai từ cây mẹ là Keo tai tượng có sinh trưởng tương đương hoặc vượt hơn so với giống công nhận. Trong nhóm các dòng keo lai từ cây mẹ là Keo lá tràm cũng có đến 25% số dòng có sinh trưởng tương đương với nhóm sinh trưởng trung bình đến tốt của các dòng keo lai từ cây mẹ là Keo tai tượng (biểu đồ 3.4). Kết quả này có thể phản ánh ảnh hưởng của thành phần mẹ đến khả năng thích nghi của cây lai, theo đó tại vùng Đông Nam Bộ là nơi có điều kiện khí hậu ấm, phù hợp với Keo lá tràm nên keo lai từ cây mẹ là Keo lá tràm cũng có sinh trưởng nhanh. Nguyễn Hoàng Nghĩa (2010, 2015) [25] [26] đã chọn lọc được các dòng keo lai từ cây mẹ là Keo lá tràm như AH7, AH1 và AH4 có sinh trưởng nhanh, tương đương với các giống đã được công nhận BV10, BV16, BV32, đạt năng suất từ 30 – 35 m 3/ha/năm ở Bình Dương, với chỉ số bệnh trung bình bằng 0. Kết quả đánh giá trên 4 khảo nghiệm trên các vùng sinh thái khác nhau cho thấy loài cây mẹ có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng của giống lai. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng giúp tiết kiệm công sức, thời gian và kinh phí trong nghiên cứu chọn tạo giống Keo lai tự nhiên. Đối với vùng có điều kiện khí hậu ấm quanh năm như ở Đông Nam bộ có thể tiến hành chọn lọc keo lai từ cây mẹ là Keo lá tràm và cây mẹ là Keo tai tượng. Ngược lại tại miền Bắc và Bắc Trung Bộ là nơi có điều kiện khí hậu không thực sự phù hợp cho Keo lá tràm thì nên tập trung lai giống và chọn giống keo lai có mẹ là Keo tai tượng cho các vùng này. 3.2.2. Ảnh hưởng của loài cây mẹ đến tính chất gỗ Tại Ba Vì, giữa các nhóm loài không có sự sai khác về khối lượng riêng cơ bản của gỗ (Fpr > 0,05) nhưng có sự sai khác rõ rệt về mô đun đàn hồi (Fpr < 0,001). Mô đun đàn hồi cây hạt Keo lá tràm có trị số lớn nhất (7,58 GPa), sau đó đến nhóm dòng cây mẹ là Keo lá tràm và Keo tai tượng lần lượt là 7,29 GPa và 7,06 GPa, cao hơn so với các giống được công nhận (6,87 GPa) và thấp nhất là nhóm cây hạt Keo tai tượng đối chứng (6,82 GPa). 78 Kết quả phân tích khoảng sai dị đảm bảo cho thấy đối chứng cây hạt Keo lá tràm và nhóm keo lai từ cây mẹ là Keo lá tràm cùng trong một nhóm, các nhóm giống được công nhận, keo lai từ cây mẹ là Keo tai tượng và đối chứng cây hạt Keo tai tượng thuộc cùng một nhóm. Mô đun đàn hồi của các nhóm tại Ba Vì thể hiện tương đối rõ sự trung gian của keo lai so với các loài bố mẹ. Bên cạnh đó mặc dù sự khác biệt là chưa rõ ràng nhưng có thể thấy nhóm keo lai từ cây mẹ là Keo lá tràm có khối lượng riêng và mô đun đàn hồi cao hơn so với keo lai từ cây mẹ là Keo tai tượng (bảng 3.19). Bảng 3.19: Khối lượng riêng cơ bản và mô đun đàn hồi của keo lai từ các nhóm loài cây mẹ tại Ba Vì TT Nhóm V (dm 3 ) KLR (g/cm 3 ) MoEd (GPa) TB PVBĐ TB PVBĐ 1 Aa x Am 27,84 0,424 0,31 - 0,57 7,29 5,7 – 10,3 2 Am x Aa 44,52 0,412 0,31 – 0,56 7,06 5,2 – 9,4 3 GCN 49,40 0,419 0,34 – 0,53 6,87 6,1 – 7,8 4 Aa hạt 31,31 0,413 0,39 – 0,44 7,58 6,3 – 8,9 5 Am hạt 64,36 0,409 0,39 – 0,43 6,82 6,3 – 7,3 TB 38,020 0,418 7,16 Fpr <0,001 0,051 <0,001 Lsd 12,408 0,025 0,38 Tại Yên Thế, kết quả phân tích có sự sai khác rõ rệt giữa các nhóm loài về cả khối lượng riêng cơ bản và mô đun đàn hồi (bảng 3.20). Khối lượng riêng cơ bản của các giống công nhận cao nhất (0,468 g/cm3), sau đó đến nhóm dòng cây mẹ là Keo lá tràm, Keo tai tượng tương ứng là 0,434 g/cm 3 và 0,420 g/cm 3 . Khoảng sai dị đảm bảo cho sự sai khác về khối lượng riêng cơ bản (Lsd = 0,03 g/cm3) cho thấy ngoại trừ sự vượt trội của của nhóm các giống được công nhận, các nhóm còn lại không có sự sai khác rõ rệt. 79 Mô đun đàn hồi của các giống công nhận vẫn cao nhất (11,69 GPa), tiếp đến là các dòng keo lai từ cây mẹ là Keo tai tượng (9.85 GPa), điểm khác biệt ở đây đó là nhóm dòng keo lai từ cây mẹ là Keo lá tràm có mô đun đàn hồi là 9,37 GPa, thấp hơn so với nhóm dòng có cây mẹ là Keo tai tượng, cây hạt Keo lá tràm đối chứng trong khảo nghiệm này có mô đun đàn hồi nằm trong nhóm kém nhất (7,66 GPa). Căn cứ vào khoảng sai dị đảm bảo có thể thấy nếu không xét đến nhóm các giống được công nhận thì sự khác biệt về tính chất gỗ giữa nhóm các dòng keo lai từ mẹ là Keo tai tượng và các dòng keo lai từ mẹ là Keo lá tràm là không đáng kể (bảng 3.20). Bảng 3.20: Khối lượng riêng cơ bản và mô đun đàn hồi của keo lai từ các nhóm loài cây mẹ tại Yên Thế TT Nhóm V (dm 3 ) KLR (g/cm 3 ) MoEd (GPa) TB PVBĐ TB PVBĐ 1 Aa x Am 17,95 0,434 0,33 – 0,52 9,37 6,7 – 12,2 2 Am x Aa 42,62 0,420 0,30 – 0,57 9,85 7,2 – 13,5 3 GCN 46,61 0,468 0,41 – 0,55 11,69 9,7 – 13,6 4 Aa hạt 18,44 0,415 7,66 5 Am hạt 24,97 0,410 9,20 TB 34,63 0,430 9,72 Fpr <0,001 <0,001 <0,001 Lsd 9,18 0,030 1,34 Tại Bầu Bàng, ở giai đoạn 2 tuổi, không có sự sai khác giữa các nhóm về khối lượng riêng cơ bản. Nhóm dòng có cây mẹ là Keo lá tràm có khối lượng riêng cơ bản cao nhất (0,389 g/cm3), trong khi nhóm dòng cây mẹ là Keo tai tượng có khối lượng riêng cơ bản (0,380 g/cm3), thấp hơn so với các giống công nhận (bảng 3.21). Khác so với khối lượng riêng cơ bản, mô đun đàn hồi lại có sự sai khác giữa các nhóm (Fpr < 0,001), nhưng cũng giống như tại Yên Thế, nhóm giống được công 80 nhận thể hiện sự vượt trội về mô đun đàn hồi. Căn cứ theo khoảng sai dị đảm bảo thì không có sự sai khác về trị số MoEd giữa nhóm các dòng keo lai từ mẹ là Keo tai tượng (8,0 GPa) và các dòng keo lai từ mẹ là Keo lá tràm (7,7 GPa). Bảng 3.21: Khối lượng riêng cơ bản và mô đun đàn hồi của keo lai từ các nhóm loài cây mẹ tại Bầu Bàng TT Nhóm V (dm 3 ) KLR (g/cm 3 ) MoEd (GPa) TB PVBĐ TB PVBĐ 1 Aa x Am 18,25 0,389 0,30 – 0,48 7,73 4,7 – 9,8 2 Am x Aa 17,74 0,380 0,30 – 0,50 8,00 5,1 – 11,5 3 GCN 19,88 0,384 0,34 – 0,45 10,49 8,5 – 13,2 TB 17,95 0,382 8,02 Fpr 0,365 0,069 <0,001 Lsd 2,28 0,046 1,54 Kết quả đánh giá về khối lượng riêng cơ bản và mô đun đàn hồi của keo lai từ các loài cây mẹ khác nhau tại Ba Vì thể hiện tính trung gian giữa hai loài bố mẹ. Tại Yên Thế thì cho thấy sự vượt trội của giống lai so với hai loài bố mẹ. Tuy nhiên kết quả này mới chỉ là bước đầu ở giai đoạn 2 – 3 tuổi, cần tiếp tục được đánh giá ở tuổi cao hơn nhằm có được những kết luận chính xác hơn. Khi nghiên cứu mô đun uốn cho keo lai, Lê Đình Khả (1999c) [17] cũng chỉ ra rằng mô đun uốn theo chiều xuyên tâm và tiếp tuyến của keo lai có giá trị trung gian giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm. Không giống như các chỉ tiêu sinh trưởng, trên các địa điểm khảo nghiệm chưa ghi nhận sự sai khác rõ rệt giữa nhóm keo lai từ cây mẹ là Keo lá tràm và nhóm keo lai từ cây mẹ là Keo tai tượng về khối lượng riêng cơ bản và mô đun đàn hồi ở giai đoạn 2 – 3 tuổi. Kết quả này cho thấy ảnh hưởng của loài cây mẹ đến các tính chất gỗ của keo lai là không thật sự rõ rệt. Tuy nhiên kết quả này mới chỉ là bước đầu ở giai đoạn 2 – 3 tuổi, cần tiếp tục được đánh giá ở tuổi cao hơn nhằm có được những kết luận chính xác hơn. 81 3.2.3. Ảnh hưởng của gia đình đến sinh trưởng và tính chất gỗ của dòng vô tính Số liệu được tính toán thông qua phép thử dựa vào phân số khả năng, để đánh giá ảnh hưởng của gia đình đến sinh trưởng và tính chất gỗ của cây lai, luận án đã tiến hành đánh giá các dòng thuộc các gia đình đã chọn lọc cây lai tại các vườn giống thế hệ 2 của Keo tai tượng và Keo lá tràm ở Ba Vì (Hà Nội) và Sơn Dương (Tuyên Quang) và chỉ tiến hành phân tích với những gia đình có từ 3 dòng trở lên. Chính vì thế luận án chỉ tiến hành phân tích trên 2 khảo nghiệm có đủ số mẫu cần thiết là khảo nghiệm giống lai tại Ba Vì và Đông Hà, trên mỗi khảo nghiệm này có từ 20 – 25 gia đình Keo lá tràm và 6 – 8 gia đình Keo tai tượng có từ 3 dòng vô tính trở lên. Kết quả ở bảng 3.22 cho thấy, tại khảo nghiệm giống lai ở Ba Vì, thành phần phương sai gia đình chiếm tỷ lệ rất thấp trong tổng phương sai kiểu hình và không có ý nghĩa đối với tất cả các tính trạng sinh trưởng và tính chất gỗ (ns: mức ý nghĩa của giá trị χ2 > 0,05), chứng tỏ ảnh hưởng của gia đình đến sinh trưởng và tính chất gỗ của keo lai là thấp và không có ý nghĩa. Có thể thấy rằng, tỷ lệ đóng góp của gia đình chiếm từ 0 – 4,47% là rất thấp so với đóng góp của các yếu tố dòng và sai số. Tỷ lệ này thể hiện ở tất cả các chỉ tiêu và ở các tuổi khác nhau, nhưng lại tăng theo tuổi với chỉ tiêu đường kính và chiều cao, tỷ lệ cao nhất là của KLR và bằng 0 đối với mô đun đàn hồi. Kết quả phân tích tại khảo nghiệm giống lai ở Đông Hà (bảng 3.22), cho thấy, chỉ có ở chỉ tiêu chiều cao tại tuổi 1 thể hiện sự đóng góp có ý nghĩa của phương sai gia đình trong tổng phương sai kiểu hình (*: mức ý nghĩa của giá trị χ2 < 0,05), chứng tỏ tại tuổi này có ảnh hưởng của gia đình đến sinh trưởng. Với chỉ tiêu đường kính và chiều cao ở các tuổi 2 và 3 thì đóng góp của thành phần gia đình trong tổng phương sai kiểu hình là không có ý nghĩa. Tương tự như tại Ba Vì, tỷ lệ đóng góp của gia đình ở khảo nghiệm Đông Hà chiếm từ 0,91 – 5,13%, rất thấp so với đóng góp của yếu tố dòng và sai số, tỷ lệ này thể hiện ở tất cả các chỉ tiêu và ở các tuổi khác nhau. 82 Bảng 3.22. Mức ý nghĩa của gia đình trong phương sai kiểu hình Khảo nghiệm giống lai Ba Vì Chỉ tiêu Tuổi 1 Tuổi 2 Tuổi 3 H D1,3 H D1,3 H KLR MoEd Giá trị Tỷ lệ Giá trị Tỷ lệ Giá trị Tỷ lệ Giá trị Tỷ lệ Giá trị Tỷ lệ Giá trị Tỷ lệ Giá trị Tỷ lệ Gia đình 0,004 1,28ns 0,024 1,48ns 0,039 3,14ns 0,052 1,11ns 9,78 3,17ns 79,6 4,47ns 0 0ns Hàng – lặp 0,008 2,47 0,05 3,29 0,05 4,39 0 0 0,01 0,53 30,3 1,7 0 6,05 Cột – lặp 0,01 3,17 0,06 4,21 0,03 2,47 0,12 2,59 0,008 0,28 0 0 0 0 Dòng – gia đình 0,06 18,2 0,33 20,1 0,27 21,43 1,0 21,49 0,53 17,44 964,5 54,09 0,001 27,52 Sai số 0,24 74,89 1,16 70,92 0,87 68,58 3,51 74,82 2,42 78,58 708,7 39,74 0,003 66,43 Tổng 100 100 100 49,33 51,38 100 100 Khảo nghiệm giống lai Đông Hà Gia đình 0,006 4,68* 0,008 0,94ns 0,027 3,53ns 0,015 0,91ns 0,037 5,13ns Hàng – lặp 0,003 2,41 0,005 0,59 0,008 1,13 0,003 0,17 0 0 Cột – lặp 0,018 13,36 0,17 19,84 0,17 21,85 0,14 8,41 0,09 13,08 Dòng – gia đình 0,018 12,94 0,15 17,49 0,18 23,01 0,52 30,33 0,21 28,82 Sai số 0,094 66,61 0,54 61,14 0,39 50,48 1,04 60,18 0,38 52,96 Tổng 100 100 100 100 100 (ghi chú: Tỷ lệ: tỷ lệ % trong tổng phương sai kiểu hình, ns: không có sai khác, * mức ý nghĩa < 0,05, ** mức ý nghĩa < 0,01) 83 Ảnh hưởng của gia đình đến một số tính trạng sinh trưởng và tính chất gỗ của các dòng vô tính keo lai là không có ý nghĩa, chứng tỏ trong một gia đình kém vẫn có thể có những dòng keo lai sinh trưởng tốt và ngược lại. Vì vậy, việc chọn lọc dòng vô tính keo lai sinh trưởng nhanh nên được tiến hành trên nhiều gia đình. Tuy nhiên kết quả đánh giá này mới chỉ là bước đầu, cần tiến hành thêm những đánh giá ở giai đoạn tuổi cao hơn với số dòng vô tính/gia đình nhiều hơn để có thể rút ra những kết luận chính xác hơn. 3.3. Ƣớc lƣợng thông số di truyền, tƣơng tác kiểu gen – hoàn cảnh và tƣơng quan giữa các tính trạng 3.3.1. Hệ số di truyền theo nghĩa rộng và hệ số biến động kiểu gen của các tính trạng sinh trưởng và chất lượng thân cây Trong nghiên cứu chọn lọc dòng vô tính, hai thông số di truyền (genetic parameters) quan trọng nhất cần phải định lượng là hệ số di truyền theo nghĩa rộng (H 2 ) thể hiện khả năng lặp lại các tính trạng ưu việt của cây trội ở dòng vô tính, khi trị số này cao khả năng lặp lại là cao, và hệ số biến động kiểu gen (CVG) thể hiện mức độ biến dị, mức độ phân hóa giữa các dòng vô tính trong quần thể, giá trị này cao thể hiện mức độ biến dị cao, từ đó có thể chọn lọc được những dòng ưu trội. Việc định lượng các trị số này là cơ sở quan trọng để quyết định chiến lược cải thiện dòng vô tính. Giá trị ước lượng của các thông số này phụ thuộc vào tính trạng, quần thể đánh giá, địa điểm khảo nghiệm và thiết kế thí nghiệm. Hệ số di truyền theo nghĩa rộng và hệ số biến động kiểu gen của các tính trạng sinh trưởng, độ thẳng thân và độ duy trì trục thân ở các dòng keo lai mới được thực hiện trong cả 4 khảo nghiệm giống lai tại Ba Vì, Yên Thế, Đông Hà và Bầu Bàng được trình bày ở bảng 3.23. Kết quả phân tích tại Ba Vì cho thấy hệ số di truyền theo nghĩa rộng của các tính trạng sinh trưởng ở mức trung bình (0,16 – 0,23) trong khi hệ số tương ứng cho các chỉ tiêu chất lượng thân cây ở mức thấp (0,08 – 0,10). Hệ số di truyền của chỉ tiêu đường kính không thay đổi theo tuổi, nhưng hệ số di truyền của chỉ tiêu chiều cao lại biến động mạnh theo tuổi, từ 0,16 đến 0,23. Hệ số biến động kiểu gen (CVG) của đường kính (11,7 – 12,2%) cao hơn so với chiều cao (7,1 – 9,9%) nhưng đều ổn 84 định theo tuổi cho cả hai chỉ tiêu, hệ số này của các chỉ tiêu chất lượng thân cây là 6,7% đến 7,84%. Hệ số di truyền theo nghĩa rộng và hệ số biến động kiểu gen ở mức trung bình và ổn định theo tuổi tại Ba Vì cho thấy có thể tiến hành chọn lọc các dòng vô tính sinh trưởng nhanh ở giai đoạn 2 tuổi mà vẫn cho tăng thu di truyền thỏa đáng đồng thời rút ngắn được thời gian chọn lọc (bảng 3.23). Bảng 3.23. Hệ số di truyền theo nghĩa rộng và hệ số biến động kiểu gen của các tính trạng sinh trưởng và chất lượng thân cây ở các dòng vô tính keo lai Tuổi Tính trạng Đơn vị tính Trung bình Hệ số di truyền (H 2 ) CVG (%) Ba Vì (3 tuổi) 1 H m 3,31 0,16 ± 0,02 7,15 2 D1.3 cm 4,83 0,20 ± 0,02 12,25 2 H m 5,42 0,23 ± 0,02 9,94 3 D1.3 cm 8,27 0,19 ± 0,02 11,72 3 H m 8,84 0,16 ± 0,02 7,92 3 Dtt điểm 3,2 0,10 ± 0,02 6,70 3 Dttt điểm 3,2 0,08 ± 0,02 7,84 Yên Thế (3 tuổi) 1 H m 3,11 0,07 ± 0,02 5,28 2 D1.3 cm 7,28 0,38 ± 0,03 14,47 2 H m 9,51 0,35 ± 0,03 10,83 3 D1.3 cm 8,34 0,36 ± 0,03 13,08 3 H m 11,47 0,39 ± 0,03 10,17 3 Dtt điểm 3,45 0,17 ± 0,02 8,30 3 Dttt điểm 3,25 0,14 ± 0,02 12,31 Đông Hà (3 tuổi) 1 H m 1,56 0,22 ± 0,02 10,92 2 D1.3 cm 3,39 0,22 ± 0,02 12,52 2 H m 4,68 0,30 ± 0,02 9,56 3 D1.3 cm 5,92 0,33 ± 0,02 13,19 3 H m 7,35 0,32 ± 0,02 7,77 3 Dtt điểm 3,36 0,20 ± 0,02 7,93 3 Dttt điểm 3,27 0,20 ± 0,02 12,23 Bầu Bàng (2 tuổi) 1 H m 3,18 0,47 ± 0,03 15,72 2 D1.3 cm 5,79 0,42 ± 0,03 19,99 2 H m 8,39 0,33 ± 0,03 11,74 2 Dtt điểm 3,42 0,09 ± 0,02 5,15 2 Dttt điểm 4,99 0,07 ± 0,02 5,81 85 Tại Yên Thế, trong năm đầu tiên chiều cao có hệ số di truyền theo nghĩa rộng và hệ số biến động kiểu gen đạt thấp. Tuy nhiên khi bước vào năm thứ hai thì hệ số di truyền theo nghĩa rộng của các chỉ tiêu sinh trưởng đều đạt khá cao cho cả đường kính và chiều cao (0,35 – 0,39) đồng thời hệ số biến động kiểu gen cũng đạt khá cao (10,0 – 14,5%) ở cả năm thứ hai và thứ ba. Tính trạng chất lượng thân cây có hệ số di truyền thấp (0,14 – 0,17), nhưng lại có hệ số biến động kiểu gen ở mức trung bình và cao từ 8,3 – 12,31%. Cũng như tại Ba Vì, hệ số di truyền theo nghĩa rộng và hệ số biến động kiểu gen ở mức tương đối cao và ổn định ở năm thứ hai tại Yên Thế cho thấy có thể tiến hành chọn lọc các dòng vô tính sinh trưởng nhanh ở giai đoạn 2 tuổi mà vẫn cho tăng thu di truyền thỏa đáng đồng thời rút ngắn được thời gian chọn lọc (bảng 3.23). Tại Đông Hà, hệ số di truyền theo nghĩa rộng của các chỉ tiêu sinh trưởng ở mức trung bình, đồng đều cho cả hai tính trạng đường kính và chiều cao (0,22 – 0,33). Hệ số di truyền theo nghĩa rộng cho đường kính có xu hướng tăng dần theo tuổi trong khi chiều cao ổn định ở tuổi 2 và tuổi 3. Hệ số biến động kiểu gen của
File đính kèm:
luan_an_nghien_cuu_anh_huong_cua_loai_cay_me_va_bien_di_di_t.pdf
2. Tom tat luan an Do Huu Son 2017.pdf
3. Summary of thesis Do Huu Son 2017.pdf
4. Thong tin luan an Tien si Do Huu Son 2017.pdf
5. Information of doctoral thesis Do Huu Son 2017.pdf
6. Trich yeu luan an Do Huu Son 2017.pdf