Luận án Nghiên cứu biểu hiện gen mã hoá nhân tố phiên mã ZmDREB2A nhằm tăng cường tính chịu hạn ở một số dòng ngô Việt Nam

Trang 1

Trang 2

Trang 3

Trang 4

Trang 5

Trang 6

Trang 7

Trang 8

Trang 9

Trang 10
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 10 trang mẫu của tài liệu "Luận án Nghiên cứu biểu hiện gen mã hoá nhân tố phiên mã ZmDREB2A nhằm tăng cường tính chịu hạn ở một số dòng ngô Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Luận án Nghiên cứu biểu hiện gen mã hoá nhân tố phiên mã ZmDREB2A nhằm tăng cường tính chịu hạn ở một số dòng ngô Việt Nam

hối lượng mẫu x 100 Xử lý số liệu Mỗi thí nghiệm được lặp lại 3 lần. Số liệu được ghi lại và xử lý bằng chương trình Microsoft Excel. 2.4.9. Đánh giá khả năng chịu hạn của cây chuyển gen 2.4.9.1. Đánh giá khả năng chịu hạn ở giai đoạn cây con bằng thí nghiệm gây hạn nhân tạo theo phương pháp của Camacho [43] Hạt ngô được gieo trong xô chứa giá thể xỉ than và đất dinh dưỡng đã tưới nước bão hòa. Tỉa bỏ các cây không đồng đều, giữ lại 6 cây/xô, 3 cây bên phải dòng ngô mang gen ZmDREB2A, 3 cây bên trái là dòng ngô nền tương ứng. Mỗi công thức thí nghiệm được bố trí thành 20 xô (n=60), đối chứng là các dòng nền K3, K7 không chuyển gen tương ứng với 2 công thức thí nghiệm là tưới đủ nước và gây hạn. + Công thức 1: Tưới nước đầy đủ + Công thức 2: Đến giai đoạn cây con 4-5 lá thì tiến hành thí nghiệm chịu hạn nhân tạo bằng cách không tưới nước trong 15 ngày. Sau khi gây hạn 15 ngày, tiến hành phục hồi 7 ngày (tưới nước đầy đủ) để theo dõi khả năng phục hồi của các giống thí nghiệm. Thu thập số liệu sau khi tưới phục hồi bằng cách tiến hành nhổ cả cây và đánh giá các chỉ tiêu liên quan đến khả năng chịu hạn gồm: Đánh giá tỷ lệ phục hồi bằng cách 65 đếm số cây sống sót trên tổng số cây thí nghiệm sau khi tưới nước trở lại và đồng thời tính tỷ lệ số lá phục hồi và tỷ lệ chiều dài lá phục hồi khi phục hồi 7 ngày. Thu mẫu và theo dõi các chỉ tiêu liên quan đến chịu hạn như: + Chiều cao cây (cm); chiều dài rễ (cm): Đo chiều dài từ gốc lên đến ngọn lá dài nhất và từ gốc đến đầu rễ dài nhất, lấy giá trị trung bình 5 cây. + Thể tích rễ (mm3): Được xác định bằng cách đổ một phần nước vào ống đong ta có thể tích V1, sau đó cho rễ ngập nước ta có thể tích V2. Khi đó công thức tính thể tích rễ: V(rễ) = V2 – V1 + Khối lượng thân và rễ tươi, khối lượng thân và rễ khô được cân bằng cân điện tử có độ chính xác 0,01 g. 2.4.9.2. Đánh giá khả năng chịu hạn bằng thí nghiệm gây hạn nhân tạo ở các giai đoạn sinh trưởng khác nhau theo phương pháp của Zaidi [185] Thí nghiệm được thực hiện với 2 công thức: Công thức 1 (Tưới đủ); Công thức 2 (Gây hạn); Trong công thức 2, hạn được được bố trí 4 công thức nhỏ để đánh giá, các công thức nhỏ được ký hiện như sau: I – Gây hạn ở thời kỳ ngô chín sữa đến thu hoạch; II – Gây hạn ở thời kỹ ngô trỗ cờ, thụ phấn đến thu hoạch; III – Gây hạn trước trỗ 7 ngày (Xoắn nõn đến sau thụ phấn 10 ngày); IV – Gây hạn từ thời điểm ngô 10 lá đến sau thụ phấn 10 ngày. Mỗi công thức thí nghiệm được đánh giá trên 30 cây (n=30). Các chỉ tiêu được theo dõi: góc lá, độ cuốn lá, độ tàn lá, chênh lệch trỗ cờ-phun râu, năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất trong điều kiện gây hạn nhân tạo và có tưới. 2.4.10. Các kỹ thuật được dùng đánh giá cây chuyển gen 2.4.10.1. Tách chiết, định lượng DNA a, Tách chiết DNA plasmid DNA tái tổ hợp được tinh sạch từ tế bào vi khuẩn E. coli bằng bộ kit GenJETTM Plasmid Miniprep (Fermentas). Một khuẩn lạc được nuôi lắc trong 5 ml LB lỏng có bổ sung chất kháng sinh thích hợp với tốc độ 220 vòng/phút ở 37°C qua đêm. Tế bào được thu bằng cách ly tâm ở vận tốc 6.000 vòng/phút trong 10 phút, ở 4oC, sau đó được hòa trở lại trong 250 µl đệm P1 (Resuspension solution) đã bổ sung RNAse A. 250 µl đệm 66 P2 (Lysis solution) được bổ sung vào dung dịch tế bào. Hỗn hợp được ủ ở nhiệt độ phòng trong 5 phút, sau đó được trung hòa bởi 350 µl đệm P3(Neutralization solution). Ống được ly tâm với vận tốc 13.000 vòng/phút trong 10 phút, ở 4°C. Dịch nổi sau khi ly tâm được đưa lên cột tinh sạch plasmid và ly tâm 10.000 vòng/phút trong 1 phút. 500 µl đệm rửa (Wash buffer) được bổ sung vào cột; cột được ly tâm 30 – 60 giây. Bước này được lặp lại một lần nữa. 50 µl đệm đẩy (Elution buffer) được bổ sung vào chính giữa màng silica; cột được ủ ở nhiệt độ phòng trong 2 phút. Plasmid được thu bằng cách ly tâm cột với vận tốc 10.000 vòng/phút trong 1 phút. Mẫu DNA plasmid tinh sạch được bảo quản ở - 20°C. b, Tách chiết DNA tổng số từ lá ngô DNA tổng số của ngô được tách chiết theo phương pháp của Saghai- Maroof [133], đồng thời có một số cải biến nhỏ cho phù hợp với phòng thí nghiệm hiện có. Mẫu lá cần nghiên cứu được nghiền nhỏ cho tới dạng bột mịn (trong nitơ lỏng). 0.3g bột mô lá được cho vào mỗi ống eppendorf đã khử trùng. 1,5 ml đệm CTAB 2% (Tris-HCl 10 mM, pH 8,0, EDTA 10 mM, pH 8,0, NaCl 100 mM; CTAB 2%, - Mercatoethanol 0,5 %) đã ủ ở 65oC được bổ sung vào. Tiếp tục mẫu được ủ ở 65oC trong 50 – 60 phút trong bể ổn nhiệt (trong quá trình ủ mẫu được lắc nhẹ 3-4 lần). Mẫu được bổ sung 1,5 ml hỗn hợp phenol: Chloroform: isoamyl alcohol (25:24:1) và được lắc nhẹ, sau đó được ly tâm 13000 v/phút trong 15 phút ở 4oC. Pha trên được chuyển sang ống ly tâm mới và được chiết lại với hỗn hợp Chloroform: isoamyl alcohol (24:1), lắc nhẹ sau đó ly tâm 13000 vòng/phút trong 15 phút ở 4oC. Pha trên được chuyển sang ống Eppendorf mới và DNA tổng số được tủa bằng ethanol 100% (tỉ lệ: 1:1) có bổ sung natri acetate 3 M, pH 5.2 (tỉ lệ:1: 10) trong 3 giờ ở -20oC. Mẫu được ly tâm 13000 vòng/phút trong 15 phút ở 4oC để thu tủa DNA. Tủa DNA được rửa với ethanol 70%, lặp lại bước này 2 lần và được làm khô bằng máy hút chân không. Tủa DNA được hoà tan bằng 100 l ddH2O/ống Eppendorf. RNA được loại bằng cách bổ sung 30 ng Rnase và được ủ ở 37oC trong 1h. Các mẫu DNA tổng số sẽ được kiểm tra độ tinh sạch và nồng độ bằng máy đo quang phổ ở bước sóng λ = 260 nm và λ = 280 nm, khi tỷ lệ OD260/OD280 trong khoảng 1,8-2,0 là phù hợp với yêu cầu về độ tinh sạch của DNA tổng số. Ngoài ra, kiểm tra sản phẩm tách chiết DNA tổng số bằng điện di trên gel agarose 1%. 67 2.4.10.2. Tách chiết, định lượng RNA từ mô thực vật [136] RNA tổng số được tách từ lá ngô ở giai đoạn 4 lá theo non theo quy trình hướng dẫn của hãng Invitrogen. Mẫu thực vật tươi được thu và bảo quản trong N2 lỏng cho tới khi tách chiết. 100 mg mẫu lá được nghiền thành bột mịn trong N2 lỏng và chuyển vào ống eppendorf 1,5 ml. Sau đó, 1 ml Trizol được bổ sung vào ống; ống được đảo đều và ủ trên đá trong 5 phút. Tiếp theo, 200 µl chloroform được bổ sung vào hỗn hợp; ống được ủ trên đá trong 15 phút. Hỗn hợp được ly tâm ở tốc độ 13.000 vòng/phút trong 5 phút, ở 4oC. Dịch nổi được chuyển sang ống eppendorf 1,5 ml mới. 500 µl isopropanol được bổ sung vào dung dịch; ống được ủ trên đá trong 15 phút. Kết tủa RNA được thu lại bằng cách ly tâm với tốc độ 13.000 vòng/phút, trong 15 phút, ở 4oC và được rửa lại trong 1 ml ethanol 70%. Ống được lắc mạnh trong 15 giây, sau đó được ly tâm với tốc độ 13.000 vòng/phút trong 10 phút, ở 4oC. Kết tủa được thu lại và làm khô trong 1 giờ. Kết tủa RNA cuối cùng được hòa tan lại trong 50 µl dung dịch DEPC 0,2% và bảo quản ở nhiệt độ -80oC. Các mẫu RNA tổng số sẽ được kiểm tra độ tinh sạch và nồng độ bằng máy đo quang phổ ở bước sóng λ = 260 nm. Nồng độ RNA được tính dựa trên giá trị OD260 theo công thức sau: Nồng độ RNA = 0,04 x OD260 x f. Trong đó: OD260 là giá trị OD đo được ở bước sóng 260 nm; f là giá trị pha loãng RNA. Tỷ lệ OD260/OD280 phản ánh độ tinh sạch của mẫu. Tỷ lệ này lớn hơn 2 thì RNA được cho là sạch. 2.4.10.3. Điện di DNA/RNA trên gel agarose DNA/RNA trong mẫu thí nghiệm được phát hiện và định lượng tương đối bằng kỹ thuật điện di trên gel agarose và nhuộm Ethidium bromide (EtBr) theo phương pháp của Sambrook và cộng sự [136]. Điện di DNA: 1,0 g agrose được đun nóng trong 100 ml đệm TAE và đúc vào khuôn. Hỗn hợp mẫu gồm 5 µl mẫu DNA được trộn với 1 µl đệm mẫu có chứa bromophenol xanh, xylene cyanol và EtBr (50 µl được tra vào các giếng trên bản gel. Mẫu được điện di với hiệu điện thế 10 V/cm gel. Sau đó, gel được lấy ra và soi dưới ánh sáng tử ngoại, các băng DNA gắn với EtBr xuất hiện dưới dạng các băng màu sáng trên nền gel đen. Điện di RNA: 1,8 g agarose được đun nóng để hòa tan trong 170 ml H2O, sau đó 68 làm mát về 65oC. 10 ml formaldehyde (37%) và 20 ml đệm MOPS 10 X được bổ sung vào dung dịch; hỗn hợp được lắc đều và đổ vào khuôn đúc gel. 10 µl mẫu RNA được trộn với 20 µl đệm mẫu RNA (có chứa formamide, formaldehyde và EtBr); hỗn hợp mẫu được ủ ở 65oC trong 5 phút và làm mát trên đá. Trước khi tra mẫu điện di, gel được điện di khởi động ở hiệu điện thế 5 V/cm trong 5 phút. Mẫu được trộn với 2 µl đệm có chứa chất màu chỉ thị bromophenol xanh, sau đó được tra vào giếng và điện di với hiệu điện thế 100 V trong 10 phút và 65 V trong 90 phút. Sau đó, gel được lấy ra và soi dưới ánh sáng tử ngoại của máy soi gel, các băng gắn với EtBr xuất hiện dưới dạng các băng màu sáng trên nền gel màu đen. 2.4.10.4. Tổng hợp cDNA Sử dụng bộ kit Maxima® First Strand cDNA Synthesis của hãng Fermantas để tổng hợp cDNA từ RNA tổng số đã tách chiết theo quy trình chỉ dẫn của nhà sản xuất. 2.4.10.5. Kỹ thuật PCR khuếch đại gen ZmDREB2A [136] Gen ZmDREB2A được khuếch đại từ DNA hoặc cDNA bằng kỹ thuật PCR với cặp mồi đặc hiệu đã thiết kế. Thành phần phản ứng PCR: 2 µl khuôn mẫu là DNA/cDNA; 2,5 µl 10X Dream Taq Buffer; 2,5 µl dNTP 10pM; 1 µl mỗi loại mồi; 0,6 µl Taq; bổ sung nước đến thể tích cuối cùng là 25 µl. Chu trình nhiệt thực hiện phản ứng đối với gen ZmDREB2A: 94oC: 4 phút; 30 chu kỳ như sau: 94oC: 45s, 58oC: 30s, 72oC: 45s; 72oC: 7 phút; 8oC: ∞. Gen Actin được nhân bản với chu trình nhiệt như sau: 94oC - 4 phút; 35 chu kỳ như sau: 94oC -30 giây; 55oC -30 giây, 72oC – 30 giây, và sau đó 72oC-10 phút. Sản phẩm PCR sau đó được điện di kiểm tra trên gel agarose 1%. 2.4.10.6. Phương pháp giải trình tự và so sánh [136] Khuôn cho phản ứng PCR được chuẩn bị để xác định trình tự: Sản phẩm PCR đoạn gen mã hoá cho gen ZmDREB2A được pha loãng ở nồng độ thích hợp (khoảng 50- 100 pmol). Phản ứng PCR cho xác định trình tự gồm: 6 l hỗn hợp DTCS (Dye terminator cycle sequencing) Master mix, 1 l khuôn, 1 l mồi, H2O vô trùng vừa đủ 20l. Sản phẩm của phản ứng PCR này được xử lý tiếp tục trước khi đưa vào máy đọc trình tự. Quá trình xử lý mẫu gồm các bước sau: i) Dung dịch dừng phản ứng (stop solution) được chuẩn bị ngay trước khi dùng, bao gồm: 20 l kali acetate 3 M pH 5,2; 20 l EDTA 100 M pH 8; 10 l glycogen và trộn đều. 5 l dung dịch dừng phản ứng được 69 bổ sung vào 1 phản ứng PCR 20 l. Sau đó hỗn hợp được trộn đều. Ii) 60 l ethanol 95% giữ ở -20oC được bổ sung và trộn kỹ. Sau đó, hỗn hợp được ly tâm ngay ở 13000 vòng/phút trong 20 phút ở 4oC. Dịch nổi được hút bỏ và thu kết tủa. Kết tủa được rửa 2 lần, mỗi lần bằng 200 l ethanol 70% giữ ở -20oC và được ly tâm ở 13000 vòng/phút trong 5 phút. Dịch nổi cẩn thận được hút bỏ bằng pipet, thu kết tủa và được để khô ở nhiệt độ phòng. Kết tủa được hoà tan trở lại bằng 40 l dung dịch tra mẫu. Iii) Trình tự nucleotide được đọc bằng máy giải trình tự CEQ-8000 của hãng Beckman Coulter, so sánh trình tự bằng phần mềm BioEdit và BLAST trên NCBI. 2.4.10.7. Phương pháp phân lập, tách dòng và xác định trình tự gen Các phương pháp sinh học phân tử như PCR, xử lý DNA plasmid với enzyme giới hạn, ghép nối gen với vector, biến nạp vector vào tế bào vi khuẩn được thực hiện theo[136].Vector pUC57 mang gen ZmDREB2A-S được tổng hợp và nhân dòng vào E.coli DH 5α từ hãng Genscript (Hồng Kông). Phương pháp tinh sạch sản phẩm PCR Sản phẩm PCR sau khi được kiểm tra trên gel agarose, nếu có sẽ được tinh sạch trực tiếp bằng Kit PCR Extraction hoặc tinh sạch gián tiếp bằng việc thôi gel theo kit Gel Extraction của hãng ThermoScientific. Phương pháp giải trình tự và phân tích kết quả Các sản phẩm PCR đã được tinh sạch để loại bỏ các thành phần trong phản ứng PCR dư thừa sẽ được đọc trình tự hai chiều bằng cặp mồi nhân đoạn tương ứng. Quá trình giải trình tự được thực hiện trên máy CEQ-8000 theo phương pháp của Sanger. Kết quả giải trình tự sẽ được xử lí thô trên phần mềm Bioedit và sử dụng công cụ BLAST trên NCBI và một số phần mềm khác. 70 CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1. Đánh giá khả năng tái sinh và đặc điểm nông học của một số vật liệu 3.1.1. Đánh giá khả năng tái sinh của một số vật liệu nghiên cứu Một trong những yếu tố quan trọng dẫn đến sự thành công của chuyển gen thực vật là xây dựng hệ thống tái sinh có hiệu quả cao. Ngô là một trong những cây một lá mầm được cho là khó tái sinh cây trong điều kiện in vitro và khả năng này được biết phụ thuộc vào kiểu gen và loại vật liệu nuôi cấy ban đầu. Vì thế việc lựa chọn nguồn vật liệu cho tỷ lệ tái sinh cao, phù hợp với điều kiện khí hậu Việt Nam là công việc đặc biệt quan trọng. Trong nhiều năm qua, Viện Nghiên cứu Ngô đã thực hiện nhiều thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường đến khả năng tạo mô sẹo từ nuôi cấy phôi non và nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hoà sinh trưởng đến khả năng tái sinh cây từ phôi soma trên nguồn vật liệu ngô Việt Nam. Những nghiên cứu này đã đưa ra được quy trình tái sinh cây ngô từ phôi non [18], [19]. Nhằm xác định vật liệu có khả năng tái sinh cây cao, 20 dòng ngô đã được trồng, thu bắp non sau khi thụ phấn 12 ngày và tái sinh cây in vitro theo quy trình đã có. Kết quả được thể hiện ở bảng 3.1 đã khẳng định khả năng tạo mô sẹo, tái sinh cây và tạo cây hoàn chỉnh phụ thuộc vào kiểu gen. Dòng K5 có khả năng tạo mô sẹo cao nhất (73,5%) tiếp đến dòng K8 (68,7%). Dòng C88N có khả năng tạo mô sẹo thấp nhất (3,2%). Các dòng còn lại có tỷ lệ tạo mô sẹo từ 13,3% - 63,2%. Dòng K3 có khả năng tái sinh cây cao nhất (48,7%), cao hơn dòng K2 (29,5%), tuy nhiên tỷ lệ tạo cây hoàn chỉnh (ra rễ) lại thấp hơn dòng K2 (45,9% so với 68,5%). Ngoài ra tỷ lệ tái sinh cây và tạo cây hoàn chỉnh của các dòng K7 (35,8%; 45,7%). K1 (36,8%; 52,8%); 1257 – TG1 (45,7%; 44,8%) cũng vượt hầu hết các dòng thử nghiệm khác. Dòng C88N không có khả năng tạo mô sẹo, tái sinh cây và tạo cây hoàn thiện. Dòng C433 mặc dù có tỷ lệ tái sinh không thấp (21,0%) nhưng tỷ lệ tạo cây hoàn chỉnh thấp (5,3%). 71 Bảng 3.1. Tỷ lệ tạo cây tái sinh từ phôi non của một số dòng ngô Việt Nam TT Tên dòng Số phôi cấy Tỷ lệ tạo mô sẹo phôi hoá (%) Số mô sẹo tái sinh cây (%) Cây hoàn chỉnh tạo thành (%) 1 V64 1800 23,1 12,4 21,5 2 K2 2550 63,2 29,5 68,5 3 K5 3700 73,5 22,4 33,3 4 C502N 1800 23,4 12,1 13,3 5 C88N 2500 3,2 - - 6 M67 1300 24,4 31,3 13,2 7 C433 690 29,8 21,0 5,3 8 K10 1000 13,3 21,4 15,4 9 K1 600 76,4 36,8 52,8 10 K3 600 75,9 48,7 45,9 11 952 300 68,9 34.1 37.3 12 2224 300 61,9 33.6 44.8 13 N3 300 60,8 28.7 34.8 14 K4 600 48,9 38,9 44,8 15 K7 600 77,5 35,8 45,7 16 K8 600 68,7 31,5 40,4 17 K9 600 34,6 12,8 24,6 18 K17 600 32,9 23,9 25,8 19 1257 300 55,8 45,7 44,8 20 N18 300 56,9 41,5 38,5 Tóm lại, qua kết quả đánh giá khả năng tạo mô sẹo, tái sinh và tạo cây hoàn chỉnh, đã xác định được 12 dòng có khả năng tái sinh cao là K2, K5, K1, K3, 952-TG1, 2224- TG1, N3-TG1, K4, K7, K8, 1257-TG1, N18-TG1 (Hình 3.1). Ngoài phản ứng tốt trên môi trường nuôi cấy, có tỷ lệ tái sinh cao, các dòng này cần được đánh giá đặc điểm hình thái, khả năng sinh trưởng và phát triển, khả năng kết hợp của các dòng để có thể lựa chọn nguồn vật liệu ưu tú nhận gen cho các thí nghiệm chuyển gen sau này. 72 1 2 3 4 5 6 7 8 9 11 Hình 3.1. Một số hình ảnh các nguồn vật liệu có khả năng tái sinh tốt Ghi chú: 1. Phôi non trong môi trường MS; 2. Các nguồn vật liệu tái sinh ở giai đoạn mô sẹo; 3. Mô sẹo phôi hoá của nguồn vật liệu 952; 4,7. Ttái sinh chồi của nguồn vật liệu 952, N3; 5,8. Vật liệu 952, N3 trong môi trường ra rễ; 6,9. Luyện cây ngoài ánh sáng tự nhiên; 11. Buồng sinh trưởng cây nuôi cấy mô. 73 3.1.2. Đặc điểm nông, sinh học của các dòng có tỷ lệ tái sinh cao 3.1.2.1. Thời gian sinh trưởng Thời gian sinh trưởng của các dòng, giống ngô có ý nghĩa quan trọng cho việc xác định thời vụ, thời gian gieo trồng và lai tạo phù hợp. Nhìn chung, vụ Xuân và Thu 2014 thời tiết khá thuận lợi cho quá trình sinh trưởng và phát triển của các dòng. Kết quả được ghi nhận trên bảng 3.2 cho thấy: Các dòng có thời gian sinh trưởng trung bình, dao động từ 111 đến 118 ngày trong vụ Xuân và từ 103-107 ngày trong vụ Thu. Vụ Thu, các dòng ngắn ngày hơn trong vụ Xuân ở tất cả các thời kỳ sinh trưởng do giai đoạn đầu của vụ Xuân thường có nhiệt độ thấp, số giờ nắng thấp nên cây ngô sinh trưởng khá chậm dẫn đến tổng thời gian sinh trưởng thường dài hơn trong các vụ khác. Bảng 3.2. Thời gian sinh trưởng và đặc điểm của các dòng năm 2014 Thời gian từ gieo đến các giai đoạn (ngày) TT Tên dòng Trỗ cờ Tung phấn Phun râu Chín Vụ Xuân Vụ Thu Vụ Xuân Vụ Thu Vụ Xuân Vụ Thu Vụ Xuân Vụ Thu 1 K1 70 55 71 56 73 58 113 103 2 K2 71 55 73 57 75 59 115 104 3 K3 70 54 72 56 74 58 115 103 4 K4 72 56 73 57 74 58 114 103 5 952-TG1 75 58 77 60 78 62 118 107 6 2224-TG1 69 53 70 55 71 58 111 103 7 K7 71 55 73 58 74 60 114 105 8 K8 72 55 73 56 75 59 115 104 9 N3-TG1 75 57 76 59 78 61 118 106 10 K5 70 55 73 57 75 60 115 105 11 1257-TG1 72 56 74 58 76 60 116 105 12 N18-TG1 71 56 73 58 76 61 116 106 74 Trong cả 2 vụ, ở tất cả các dòng đều cho thấy thời gian giữa trỗ cờ với tung phấn và tung phấn với phun râu chỉ chênh lệch từ 1 – 3 ngày. Đặc điểm này là rất quan trọng đối với bất cứ giống ngô nào, bởi đây là điều kiện thuận lợi cho quá trình thụ phấn, thụ tinh đặc biệt trong điều kiện thời tiết không tốt. Nhiều nghiên cứu chịu hạn về cây ngô đã chỉ ra rằng, trong điều kiện hạn làm gia tăng khoảng cách giữa thời gian tung phấn và thời gian phun râu là nguyên nhân gián tiếp gây giảm năng suất. 3.1.2.2. Đặc điểm hình thái Khả năng sinh trưởng, phát triển của vật liệu còn thể hiện qua chiều cao cây, độ cao đóng bắp. Mặc các đặc điểm hình thái này của cây được quy định bởi đặc tính di truyền, tuy nhiên phụ thuộc khá nhiều vào điều kiện sinh thái, thời tiết và mức độ chăm sóc. Kết quả theo dõi chiều cao cây, cao đóng bắp của 12 dòng trong năm 2014 tại Viện Nghiên cứu Ngô được thể hiện tại bảng 3.3. Bảng 3.3. Một số đặc điểm sinh trưởng phát triển của các dòng ngô năm 2014 TT Dòng Cao cây (cm) Cao đóng bắp (cm) Vụ Xuân CV% Vụ Thu CV% Vụ Xuân CV% Vụ Thu CV 1 K1 154,5 8,7 150,2 7,6 80,5 6,6 81,2 7,5 2 K2 142,3 6,5 148,7 7,2 75,4 6,3 80,5 8,5 3 K3 162,4 6,7 163,5 7,3 92,1 9,5 85,4 6,7 4 K4 151,4 7,4 155,5 9,2 87,6 8,5 90,5 8,1 5 952- TG1 147,6 10,2 151,4 9,5 81,5 6,4 85,7 7,8 6 2224- TG1 152,2 9,5 158,7 8,2 88,3 7,4 92,4 6,8 7 K7 163,5 7,6 165,8 8,3 100,3 7,5 98,6 6,5 8 K8 154,5 9,2 157,6 9,5 92,4 8,2 95,3 8,4 9 N3- TG1 156,7 8,5 160,2 6,7 88,2 9,4 92,4 8,2 10 K5 145,2 8,1 150,4 7,2 79,6 7,6 85,7 8,5 11 1257- TG1 155,7 7,4 160,3 8,1 92,5 5,6 93,5 7,6 12 N18- TG1 162,4 7,3 161,7 8,4 98,1 6,8 102,3 8,4 75 Các dòng đều có chiều cao cây trung bình, trong vụ Xuân chiều cao cây dao động từ 142,3 - 163,5 cm, cao đóng bắp từ 75,4 - 100,3 cm. Trong đó dòng K2 có chiều cao cây và cao đóng bắp thấp nhất (142,3 cm và 75,4 cm) và cao nhất là K7 (163,5 cm và 100,3 cm). Trong vụ Thu chiều cao cây của các nguồn vật liệu dao động từ 148,7- 165,8 cm và cao đóng bắp từ 80,5- 102,3 cm. Trong đó dòng V152 cũng có chiều cao cây và cao đóng bắp thấp nhất (148,7 cm và 80,5 cm), nguồn K7 có chiều cao cây cao nhất (165,8 cm), cao đóng bắp cao nhất là dòng N18-TG1(102,3 cm). Trong vụ Xuân, đa số chiều cao cây và cao đóng bắp của các nguồn vật liệu thấp hơn vụ Thu. 3.1.2.3. Khả năng chống chịu Bên cạnh đánh giá các đặc điểm sinh trưởng phát triển, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lý thuyết của các nguồn vật liệu nghiên cứu, thì khả năng chống chịu với với sâu bệnh là chỉ tiêu rất quan trọng. Đánh giá đặc điểm sinh trưởng phát triển, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lý thuyết có thể dự đoán được tiềm năng năng suất của nguồn vật
File đính kèm:
luan_an_nghien_cuu_bieu_hien_gen_ma_hoa_nhan_to_phien_ma_zmd.pdf
02. TT LA TV.pdf
03. TT LA TA.pdf
04. TRANG-THÔNG-TIN-VỀ-LA.pdf
04. TRANG-THÔNG-TIN-VỀ-LA.docx