Luận án Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, ứng dụng kit chẩn đoán bệnh tiên mao trùng do trypanosoma evansi gây ra ở trâu, bò một số tỉnh miền núi phía Bắc và đề xuất biện pháp phòng trị

Trang 1

Trang 2

Trang 3

Trang 4

Trang 5

Trang 6

Trang 7

Trang 8

Trang 9

Trang 10
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 10 trang mẫu của tài liệu "Luận án Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, ứng dụng kit chẩn đoán bệnh tiên mao trùng do trypanosoma evansi gây ra ở trâu, bò một số tỉnh miền núi phía Bắc và đề xuất biện pháp phòng trị", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Luận án Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, ứng dụng kit chẩn đoán bệnh tiên mao trùng do trypanosoma evansi gây ra ở trâu, bò một số tỉnh miền núi phía Bắc và đề xuất biện pháp phòng trị

ày chiếm đa số diện tích, còn lại là một số vùng có địa hình tương đối bằng phẳng. Đặc điểm địa hình gắn liền với chế độ nhiệt, độ ẩm và dẫn đến sự khác nhau về khí hậu giữa các vùng. Cả 4 tỉnh nghiên cứu đều nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm, chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 với đặc trưng là nóng, ẩm, mưa nhiều. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4, thời tiết khô và lạnh do các đợt gió lạnh từ đông bắc tràn xuống. Nhiệt độ không khí thể hiện hai mùa rõ rệt: nóng và lạnh. Độ ẩm không khí cũng thay đổi theo mùa: Mùa mưa, độ ẩm không khí cao (có thể tới > 90 %); mùa khô, độ ẩm không khí thấp (có khi tới 50 - 60 %). Sự khác nhau về địa hình, đất đai, thời tiết khí hậu dẫn đến sự khác nhau về khu hệ động, thực vật giữa các vùng và ảnh hưởng đến số lượng và tỷ lệ các loài ruồi, mòng hút máu - môi giới truyền bệnh tiên mao trùng. 64 Đặc điểm kinh tế - xã hội của 4 tỉnh Thái Nguyên, Lạng Sơn, Hòa Bình và Lai Châu cũng đặc trưng cho đặc điểm kinh tế - xã hội của các tỉnh miền núi phía Bắc. Thành phần dân tộc tương đối đa dạng: ngoài dân tộc Kinh, Tày còn có các dân tộc khác như Nùng, Mường, Dao, Hoa, Sán Chay, H'Mông Mỗi dân tộc có tập quán riêng về sinh hoạt và sản xuất, trình độ canh tác và tập quán chăn nuôi cũng có những đặc điểm riêng. Ở cả 4 tỉnh, bà con nông dân miền núi đều chăn nuôi trâu, bò với qui mô nhỏ, lẻ. Tuy nhiên, phương thức chăn nuôi tương tự nhau: chuồng nuôi quây tạm bợ bằng tre, nứa; có những hộ làm sàn chuồng, có hộ còn để chuồng nền đất; hàng ngày thả trâu, bò vào buổi sáng, buổi tối đưa trâu, bò về chuồng; trâu, bò sống hoàn toàn dựa vào điều kiện tự nhiên, thức ăn bổ sung cho trâu, bò rất ít hoặc không có; vấn đề phòng trị các bệnh ký sinh trùng đường máu rất ít khi được quan tâm. Điều kiện tự nhiên và đặc điểm kinh tế - xã hội như đã trình bày ở trên có ảnh hưởng lớn tới sự lưu hành bệnh tiên mao trùng và vật môi giới truyền bệnh. Đó chính là nguyên nhân làm cho tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu, bò khá cao và khác nhau giữa các tỉnh nghiên cứu. Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu, bò tại 4 tỉnh được thể hiện rõ hơn qua hình 3.1. Hình 3.1. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu, bò tại 4 tỉnh miền núi phía Bắc 65 Hình 3.1 cho thấy: - Các cột biểu thị tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu, bò tại 4 tỉnh nghiên cứu cao thấp khác nhau, cao nhất là trâu, bò nuôi ở tỉnh Hòa Bình, thấp nhất là trâu nuôi tại Thái Nguyên và bò nuôi tại Lạng Sơn. - Các cột biểu thị tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu đều cao hơn các cột biểu thị tỷ lệ nhiễm ở bò. Như vậy, trâu nhiễm tiên mao trùng nhiều hơn khá rõ rệt so với bò (P luôn < 0,05). Sở dĩ tỷ lệ nhiễm có sự khác nhau ở các địa phương là do ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên và kinh tế của các địa phương là khác nhau. Tại một số huyện thành thuộc 4 tỉnh có địa hình cao, đất rộng, có nhiều đồi núi, kinh tế kém phát triển, trình độ dân trí thấp, việc chuyển giao khoa học kỹ thuật đến từng hộ chăn nuôi còn gặp nhiều khó khăn. Mặt khác, người chăn nuôi trâu, bò sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp nên nhiều hộ gia đình đã sử dụng trâu, bò để cày kéo; chăn nuôi chủ yếu là theo phương thức chăn thả hoàn toàn, trâu, bò không được chăm sóc chu đáo; không có biện pháp diệt ruồi, mòng hút máu.... Vì vậy, trâu, bò tại các địa phương này nhiễm tiên mao trùng với tỷ lệ cao hơn các địa phương khác. Trâu là loại gia súc ưa điều kiện ẩm ướt hơn bò, vì vậy dễ bị ruồi, mòng hút máu và truyền bệnh hơn bò. Đồng thời do đặc điểm loài nên trâu mẫn cảm với tiên mao trùng hơn so với bò. Có thể đó là những lý do giải thích về tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu cao hơn ở bò. 3.1.2.2. Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu, bò theo lứa tuổi Tuổi của vật nuôi là một trong những yếu tố có thể ảnh hưởng đến tính cảm thụ đối với bệnh ký sinh trùng. Vì vậy, tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng theo tuổi trâu, bò là một chỉ tiêu xác định trâu, bò ở lứa tuổi nào dễ cảm nhiễm tiên mao trùng nhất để có kế hoạch phòng trị thích hợp. Kết quả tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng theo tuổi trâu, bò được trình bày ở bảng 3.3 và hình 3.2. Qua bảng 3.3 và hình 3.2 chúng tôi nhận thấy: tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo độ tuổi có sự khác nhau, tỷ lệ nhiễm thấp nhất là ở trâu dưới 2 năm tuổi (4,55 %); ở độ tuổi trên 2 - 5 năm tỷ lệ nhiễm tăng lên 12,70 %; trâu trên 5 năm tuổi có tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng cao nhất (20,00 - 21,13 %). 66 Bảng 3.3. Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu, bò theo lứa tuổi Trâu Bò Lứa tuổi (năm) Số trâu kiểm tra (con) Số trâu nhiễm (con) Tỷ lệ nhiễm (%) So sánh sự sai khác giữa các độ tuổi Số bò kiểm tra (con) Số bò nhiễm (con) Tỷ lệ nhiễm (%) So sánh sự sai khác giữa các độ tuổi ≤ 2 88 4 4,55 χ2≤2, >2-5 = 4,392 P = 0,036 17 1 5,88 χ2≤2, >2-5 = 0,062 P = 0,803 > 2 - 5 189 24 12,70 χ2>2-5, >5-8 = 3,943 P = 0,047 52 4 7,69 χ2>2-5, >5-8 = 0,046 P = 0,831 > 5 - 8 225 45 20,00 χ2>5-8, >8 = 0,042 P = 0,837 45 4 8,89 χ2>5-8, >8 = 0,653 P = 0,419 > 8 71 15 21,13 χ2≤2, >8 = 10,268 P = 0,001 19 3 15,79 χ2≤2, >8 = 0,892 P = 0,345 Tính chung 573 88 15,36 133 12 9,02 Hình 3.2. Đồ thị tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu, bò theo lứa tuổi 67 Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở bò cũng có xu hướng tăng dần theo tuổi. Tỷ lệ nhiễm thấp nhất là ở bò dưới 2 năm tuổi (5,88 %); bò trên 2 - 8 năm tuổi có tỷ lệ nhiễm tăng lên 7,69 - 8,89 %; bò trên 8 năm tuổi nhiễm tiên mao trùng với tỷ lệ cao nhất (15,79 %). Sự khác nhau về tỷ lệ nhiễm ở hầu hết các lứa tuổi của trâu là rõ rệt (P < 0,01 đến P < 0,05), song giữa trâu 5 - 8 năm tuổi và trâu trên 8 năm tuổi thì sự khác nhau chưa rõ rệt (P > 0,05). Đối với bò, do số lượng mẫu ít (12 bò nhiễm) nên sự sai khác về tỷ lệ nhiễm giữa các lứa tuổi đều chưa rõ rệt (P > 0,05). Trâu, bò dưới 2 năm tuổi nhiễm tiên mao trùng với tỷ lệ thấp là do tuổi còn ít, chưa có nhiều thời gian tiếp xúc với côn trùng hút máu. Đồng thời, ở tuổi này con vật chạy nhảy nhiều nên vật môi giới truyền bệnh khó bám và hút máu hơn. Từ 2 năm tuổi trở đi trâu, bò đã có thời gian tiếp xúc với môi trường xung quanh nhiều hơn, đồng thời trong quá trình chăn thả cũng ít vận động hơn nên ruồi, mòng dễ tiếp cận để hút máu và truyền bệnh. Kết quả của chúng tôi phù hợp với kết quả nghiên cứu của Phan Lục và cs. (1996) [25]: ở mọi lứa tuổi, trâu và bò đều bị nhiễm ký sinh trùng đường máu Trypanosoma, song tuổi càng tăng thì tỷ lệ nhiễm càng tăng. Trịnh Văn Thịnh (1967) [39] cho biết, bê và nghé ít bị ruồi, mòng đốt hơn trâu, bò nên dẫn tới tỷ lệ nhiễm T. evansi ở lứa tuổi này thấp. Ngoài ra, khả năng tái tạo máu ở lứa tuổi này cũng nhanh hơn. Giai đoạn 4 - 8 năm tuổi trâu, bò ở nhiều địa phương thường tập trung theo bầy, đàn. Do phạm vi kiếm ăn của trâu, bò rộng và xa hơn, nên cơ hội tiếp xúc và bị ruồi, mòng hút máu, truyền tiên mao trùng nhiều hơn. Một điều quan trọng là ở tuổi này, trâu, bò thường được sử dụng vào nhiều mục đích như: vắt sữa, cày kéo, sinh sản, giết thịt, bán đi, mua về từ nhiều nơi khác nhau, làm cho số lượng thường xuyên thay đổi. Chính sự thay đổi đó đã làm cho đàn gia súc không ổn định, góp phần dẫn tới tỷ lệ nhiễm T. evansi cao. 3.1.2.3. Tỷ lệ nhiễm và phát bệnh tiên mao trùng ở trâu theo mùa vụ Để công tác phòng và trị bệnh tiên mao trùng cho đàn trâu, bò mang lại hiệu quả cao, ngoài việc theo dõi tỷ lệ nhiễm theo lứa tuổi, chúng tôi cũng tiến hành theo dõi tỷ lệ nhiễm theo mùa. Kết quả về tỷ lệ nhiễm theo mùa được thể hiện ở bảng 3.4 và hình 3.3. 68 Bảng 3.4. Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo mùa vụ (Qua tiêm truyền chuột bạch) Mùa Số trâu kiểm tra (con) Số trâu nhiễm (con) Tỷ lệ nhiễm (%) So sánh sự sai khác giữa các mùa Xuân 107 6 5,61 χ2Xuân, Hè = 4,754 P = 0,029 Hè 149 22 14,77 χ2Hè, Thu = 7,120 P = 0,008 Thu 172 45 26,16 χ2Thu, Đông = 11,587 P = 0,001 Đông 145 15 10,34 χ2Đông, Xuân = 2,276 P = 0,131 Tính chung 573 88 15,36 Hình 3.3. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo mùa vụ Kết quả bảng 3.4 cho thấy: Kiểm tra 107 trâu vào mùa Xuân chỉ có 6 trâu nhiễm tiên mao trùng, chiếm tỷ lệ 5,61 %. Kiểm tra 149 trâu vào mùa Hè có 22 trâu nhiễm tiên mao trùng, chiếm 14,77 %. Ở mùa Thu, kiểm tra 172 trâu có 45 con nhiễm, chiếm tỷ lệ 26,16 %. Ở mùa Đông, kiểm tra 145 trâu có 15 con nhiễm, chiếm tỷ lệ 10,34 %. 69 Như vậy, ở mùa Thu tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng cao nhất (26,16 %), mùa Hè tỷ lệ này thấp hơn (14,09 %), mùa Đông (11,03 %), mùa Xuân tỷ lệ nhiễm thấp nhất (5,61 %). So sánh theo từng cặp mùa trong năm, chúng tôi thấy sự khác nhau về tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở các mùa có ý nghĩa thống kê (P < 0,001 đến P < 0,05), song sự khác nhau giữa mùa Đông và mùa Xuân không rõ rệt (P > 0,05). Hình 3.3 phản ánh sự khác nhau về tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo mùa vụ tại 4 tỉnh nghiên cứu, cao nhất là cột biểu thị tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu trong mùa Thu, sau đó đến cột biểu thị tỷ lệ nhiễm trong mùa Hè và mùa Đông, thấp nhất là cột biểu thị tỷ lệ nhiễm trong mùa Xuân. Sở dĩ, vào mùa Thu và mùa Hè trâu nhiễm tiên mao trùng với tỷ lệ cao hơn là do: mùa Hè và mùa Thu là mùa ruồi, mòng (côn trùng môi giới truyền bệnh), chúng hút máu và truyền tiên mao trùng cho trâu, bò. Ngược lại, mùa Đông và mùa Xuân là mùa côn trùng hút máu không hoạt động hoặc hoạt động rất ít nên gia súc bị nhiễm tiên mao trùng ít hơn so với mùa Hè và mùa Thu. Sau khi xác định được tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo mùa vụ, chúng tôi tiếp tục theo dõi những trâu nhiễm tiên mao trùng để xác định tỷ lệ phát bệnh theo mùa vụ. Kết quả thể hiện ở bảng 3.5 và hình 3.4. Bảng 3.5. Tỷ lệ phát bệnh tiên mao trùng ở trâu theo mùa vụ Mùa Số trâu nhiễm (con) Số trâu phát bệnh (con) Tỷ lệ phát bệnh (%) So sánh sự sai khác giữa các mùa Xuân 6 3 50,00 χ2Xuân, Hè = 5,379 P = 0,020 Hè 22 2 9,09 χ2Hè, Thu = 5,267 P = 0,022 Thu 45 16 35,56 χ2Thu, Đông = 4,434 P = 0,035 Đông 15 10 66,67 χ2Xuân, Đông = 0,505 P = 0,477 Tính chung 88 31 35,23 70 Hình 3.4. Biểu đồ tỷ lệ phát bệnh tiên mao trùng ở trâu theo mùa vụ Bảng 3.5 và hình 3.4. cho thấy: Trong 88 trâu nhiễm tiên mao trùng có 31 trâu phát bệnh, chiếm tỷ lệ 35,23 % (biến động từ 9,09 - 66,67 % theo các mùa). Cụ thể: Có 3/6 trâu nhiễm tiên mao trùng phát bệnh vào mùa Xuân, chiếm 50,00 %. Có 2/22 trâu nhiễm tiên mao trùng phát bệnh vào mùa Hè, chiếm 9,09 %. Có 16/45 trâu nhiễm tiên mao trùng phát bệnh vào mùa Thu, chiếm 35,56 %. Có 10/15 trâu nhiễm tiên mao trùng phát bệnh vào mùa Đông, chiếm 66,67 %. So sánh sự sai khác về tỷ lệ phát bệnh theo mùa, chúng tôi thấy hầu hết đều có ý nghĩa thống kê (sự khác nhau là rõ rệt, với P < 0,05), chỉ có tỷ lệ phát bệnh vào mùa Đông và Xuân là không khác nhau rõ rệt (P > 0,05). Tỷ lệ trâu nhiễm tiên mao trùng phát bệnh cao nhất trong mùa Đông là do, vào mùa Đông, điều kiện thời tiết bất lợi cho gia súc: giá lạnh, thức ăn khan hiếm, gia súc phải làm việc nặng, sức đề kháng suy giảm, làm cho bệnh phát ra. Nếu không được điều trị và chăm sóc kịp thời con vật rất dễ bị tử vong. Như vậy, mùa Hè và mùa Thu là mùa nhiễm bệnh nhiều nhưng mùa Đông lại là mùa phát bệnh nhiều nhất, tỷ lệ phát bệnh tiên mao trùng vào mùa Đông cao hơn so với mùa Thu. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với nhận xét của Luckins (1988) [104]: sự xuất hiện số lượng lớn ruồi, mòng trong mùa mưa nóng ẩm luôn có liên 71 quan đến tình hình dịch tễ bệnh tiên mao trùng ở trâu, bò, dê, lạc đà. Từ cuối mùa thu, mùa đông và đầu mùa xuân, gia súc nhiễm tiên mao trùng phải sống trong điều kiện thời tiết lạnh, thiếu thức ăn nên sức đề kháng giảm, bệnh thường phát ra vào thời gian này làm trâu bò bị đổ ngã hàng loạt. 3.1.3. Nghiên cứu về ruồi, mòng hút máu truyền bệnh tiên mao trùng 3.1.3.1. Định danh các loài ruồi, mòng hút máu ở các địa phương nghiên cứu Thái Nguyên, Lạng Sơn, Lai Châu và Hòa Bình là các tỉnh thuộc khu vực miền núi phía Bắc, có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, mưa nhiều, là điều kiện thuận lợi cho các loài côn trùng phát triển, trong đó có các loài ruồi, mòng hút máu - môi giới truyền bệnh tiên mao trùng. Để định danh và xác định quy luật hoạt động của ruồi, mòng, chúng tôi đã thu thập mẫu ruồi, mòng hút máu tại 9 huyện, thành thuộc 4 tỉnh nghiên cứu. Kết quả được trình bày ở bảng 3.6. Bảng 3.6. Kết quả định danh, sự phân bố và tần suất xuất hiện các loài ruồi, mòng hút máu Loài ruồi, mòng hút máu Tỉnh Huyện, thành Stomoxys calcitrans Tabanus kiangsuensis Tabanus rubidus Đồng Hỷ + + + Phú Bình + + + Thái Nguyên Võ Nhai + + + Hòa Bình Kim Bôi + + + Tam Đường + + + Lai Châu Than Uyên + + + TP Lạng Sơn + + + Chi Lăng + + + Lạng Sơn Văn Lãng + + + Tần suất xuất hiện (%) 100 100 100 Kết quả bảng 3.6 cho thấy: 72 Có 3 loài ruồi, mòng hút máu là môi giới truyền bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò tại các địa phương nghiên cứu, đó là: ruồi Stomoxys calcitrans, mòng Tabanus kiangsuensis và mòng Tabanus rubidus. Cả 3 loài đều xuất hiện ở tất cả các địa phương nghiên cứu, tần suất xuất hiện là 100 %. Đặc điểm hình thái của các loài ruồi, mòng hút máu mà chúng tôi thu thập ở 4 tỉnh như sau: * Loài 1: Loài này có kích thước trung bình 5 - 8 mm. Đầu có mắt kép màu nâu óng ánh, trán rất rộng, chiều rộng trán bằng 1/4 chiều rộng của đầu, chiều rộng của trán giữa gấp 3 lần của trán cạnh. Con cái chính giữa trán có một dải màu nhạt. Lông trán cạnh có hai hang trở lên. Ruồi có một vòi hút dài, cứng để châm hút. Khi đậu nghỉ thì vòi chĩa về phía trước, khi đốt thì vòi chĩa xuống dưới làm thành góc thẳng với đầu. Cánh có hàng lông mọc ở gần gốc, phía dưới gân không vượt quá gân ngang. Bụng: mặt lưng vàng xám, có hai đốm nâu đen hoặc xanh đen ở hai bên đốt thứ hai, thứ ba; mặt dưới bụng vàng hơi nâu. Hai khiên lưng của đốt bụng thứ ba, thứ tư có một vết ngang rõ rệt. Chân có đốt ống vàng hoặc vàng nâu. Như vậy, loài này có đặc điểm phù hợp với mô tả của Phan Địch Lân (1983) [21] về hình thái cấu tạo của loài ruồi Stomoxys calcitrans. * Loài 2: - Con cái: Thân có màu xám, xám hơi xanh hoặc trắng nhạt. Kích thước lớn, thân dài 14 - 24 mm. Mắt kép màu xám xanh hơi nâu có lấp lánh phản chiếu ánh sáng hoặc màu xanh đen hơi vàng có ánh biếc. Trán màu nâu đỏ, lông vàng và lông đen. Chai chán gốc hình đầu đạn, không tiếp xúc với mắt kép màu đen bóng, có màu cà phê nâu, bóng. Chai trán giữa kéo dài từ chai trán gốc tới 1/2 hoặc 2/3 trán màu đen, xung quanh chai trán giữa về phía đỉnh có lông đen. Đỉnh trán màu trắng xám pha đen hoặc đen xám, lông đen. Chai trán phụ màu trắng vàng hơi đỏ. Má màu trắng xám phơn phớt đỏ ở má trên, lông trắng xám. Mặt màu trắng xám, lông trắng xám. Râu hàm dưới, màu trắng vàng, lông trắng vàng có xen một ít lông đen. Anten đốt thứ nhất và đốt thứ hai nâu đỏ mận, đốt thứ ba nâu đen. Ngực xám, xám xanh hoặc phơn phớt hồng, có ba sọc dọc không rõ màu xám trắng. Cánh: màng 73 cánh trong suốt, gân cánh nâu đen không có nhánh phụ. Mặt lưng của bụng có ba sọc dọc, sọc giữa chạy từ đốt thứ nhất tới đốt thứ sáu không thẳng cạnh mà thành hình răng cưa màu trắng xám do các tam giác nối tiếp tạo thành. Sọc bên cạnh không nối nhau mà do các đốm bên cạnh sắp xếp hơi chếch với sọc giữa, cùng màu với sọc giữa. Mặt bụng của bụng màu xám tro bếp. + Đầu: Hai mắt kép màu xám xanh hơi nâu, có ánh biếc xanh đen hơi vàng có ánh biếc. Khi khô màu xanh đen. Trán tương đối rộng, gốc trán gần bằng đỉnh trán và bằng 0,83 độ rộng đỉnh trán, chỉ số trán 5,2 - 6,2. Trán có màu vàng xám, vàng nâu, có lông vàng và lông đen, lông đen tập trung ở xung quanh chai trán giữa và đỉnh trán. Chai trán gốc hình đầu đạn, không tiếp xúc với mắt kép, màu đen nâu bóng hoặc nâu gụ, nâu cà phê hoặc nâu đỏ bóng. Chai trán giữa kéo dài từ chai trán gốc tới 1/2 hoặc 2/3 trán về phía đỉnh, màu đen nâu hoặc nâu gụ, hình lưỡi mác. Chai trán phụ màu vàng hung đỏ hoặc màu nâu cà phê. Má trên màu xám trắng hơi hung đỏ, má dưới màu trắng xám, lông trắng xám. Mặt màu trắng xám, lông trắng xám. Râu miệng màu trắng xám. Anten màu đỏ nâu tới nâu đen, lông đen. Đốt thứ nhất và thứ hai màu nâu đỏ đậm. Ở đốt thứ nhất mặt dưới màu đỏ đậm, sườn bên và mặt trên nâu đỏ hơi vàng, lông vàng, đầu trên và mặt lưng có lông đen. Đốt thứ hai màu đỏ nâu, lông vàng và lông đen chỉ tập trung ở đường viền xung quanh mép dưới của đốt, gai lưng nhọn và dài. Đốt thứ ba màu nâu gụ hơi đen, gai chồi rõ, vòng gốc đốt ba nhạt màu hơn. Độ dài vòng gốc đốt ba bằng 2,19 chiều rộng đốt và bằng 1,33 chiều dài các vòng đốt. Vòi màu đen nâu nhạt, lông trắng bạc. Râu hàm dưới màu trắng vàng hoặc vàng nhạt, lông trắng vàng có xen lẫn một ít lông đen. Đốt thứ nhất màu trắng vàng nhạt, lông trắng xám. Đốt thứ hai màu vàng hơi trắng, hơi cong, đầu nhọn, lông vàng mịn có xen lẫn một ít lông đen đầu cuối và mặt lưng. + Ngực: Khiên lưng ngực giữa màu xám xanh, hoặc trắng xám phơn phớt hồng có 3 sọc màu xám trắng tro. Sọc giữa mảnh chạy tới giữa lưng thì mờ dần và màu chuyển sang phơn phớt vàng nâu. Hai sọc bên cạnh rộng hơn chạy tới khiên nhỏ. Trên lưng mọc lông đen lẫn lông trắng, ở cạnh khiên lưng và xung quanh rãnh khiên nhỏ có lông vàng. 74 Khiên nhỏ màu xám tro hơi đen, giữa mọc lông đen, xung quanh mọc lông trắng có xen lẫn một ít lông đen. Sườn ngực màu xám tro hơi trắng, lông trắng và lông đen xen lẫn. Khiên cạnh màu xám tro hơi phơn phớt vàng da cam, mọc lông đen, cạnh sau trên có mọc lông vàng. Khiên lưng trước xám trắng, lông trắng dài có xen một vài lông đen. Khiên gốc cánh và khiên cạnh sau có túm lông trắng dài mọc thành hàng ở bờ sau. Tấm thăng bằng: thân nâu đen nhạt, đầu cuối trắng vàng hoặc vàng nhạt. Cánh: màng cánh trong suốt, gân cánh màu nâu mận chín, không có nhánh phụ, chỗ mở cửa buồng sau thứ nhất (R5) trung bình hoặc hơi hẹp. Ở một số mẫu, dọc theo các gân cánh ở mép trước cánh hơi phơn phớt nâu. Chân: có 3 đôi chân. Đôi chân thứ nhất: đốt háng màu xám tro, lông trắng xám; đốt chuyển màu nâu cà phê đen; đốt đùi màu xám tro, mặt trong và cạnh trước hơi đậm màu hơn, lông đen chủ yếu ở mặt trong, lông trắng xám ở cạnh ngoài, cạnh trước và cạnh sau. Đốt ống chân màu nâu vàng ở 2/3 phía gốc, lông trắng bạc có xen một số lông đen, 1/3 đầu cuối màu nâu đen, lông đen. Bàn chân và các đốt bàn màu đen, lông đen. Đôi chân thứ hai: đốt háng màu xám tro, lông trắng; đốt chuyển màu nâu mận; đốt đùi mặt ngoài màu xám tro, mặt trong đậm màu hơn, đầu cuối màu vàng nâu nhạt, lông trắng bạc, mặt lưng và đầu cuối có mọc ít lông đen. Bàn chân và các đốt bàn màu nâu đen, lông đen có xen lẫn một ít lông trắng bạc, ở phía dưới có một ít lông cùng màu đỏ nâu. Vuốt màu nâu, đệm màu vàng nâu. Đôi chân thứ ba: đốt háng màu xám tro, lông trắng xám hoặc trắng bạc; đốt chuyển màu nâu mận chín; đốt đùi gồm mặt trước, mặt trong và mặt ngoài, màu xám tro, lông trắng bạc, cạnh sau nâu đen, đầu cuối vàng nâu có lông đen. Đốt ống chân màu vàng hơi đỏ; mặt sau, phía trong và ngoài có lông trắng bạc, mặt trước nhiều lông đen, đầu cuối hơi đậm màu hơn và có một số ít lông trắng, mặt dưới có lông cứng màu đỏ nâu. Vuốt màu nâu, đệm màu vàng. + Bụng: Mặt lưng của bụng màu trắng tro, phơn phớt hồng hoặc màu xám tím hơi xanh, lông trắng và lông đen. Trên bụng có 3 sọc: sọc giữa từ đốt thứ nhất tới đốt thứ 6 màu trắng xám hoặc trắng bạc, cạnh răng cưa do các tam giác nối tiếp 75 tạo thành; hai sọc bên cạnh không nối tiếp nhau mà xếp lệch như bậc thang có các đốm hình bốn cạnh ở mọi đốt bụng họp lại tạo thành. Bụng T. rubidus gồm các đốt: Đốt bụng thứ nhất: màu trắng tro hoặc trắng xám, mép sau phơn phớt hồng, một số mẫu màu xám tím pha xanh, mép sau nhạ
File đính kèm:
luan_an_nghien_cuu_dac_diem_dich_te_ung_dung_kit_chan_doan_b.pdf
Tom tat LA English NCS Do T. Van Giang 03-2014.pdf
Tom tat LA Ttieng Viet NCS Do Thi Van Giang 03-2014.pdf
Trang TT LA NCS Do Thi Van Giang DHTN 03-2014.doc