Luận án Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và biện pháp kỹ thuật sản xuất hoa đỗ quyên bản địa

Trang 1

Trang 2

Trang 3

Trang 4

Trang 5

Trang 6

Trang 7

Trang 8

Trang 9

Trang 10
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 10 trang mẫu của tài liệu "Luận án Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và biện pháp kỹ thuật sản xuất hoa đỗ quyên bản địa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Luận án Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và biện pháp kỹ thuật sản xuất hoa đỗ quyên bản địa

ọ trĩ (1-3) Thối rễ (1-9) Vàng lá sinh lý (1-9) Gỉ sắt (1-9) Q1 2 2 7 3 3 Q2 2 2 5 3 3 Q3 1 1 3 3 5 Q4 1 1 5 3 1 Q5 1 1 5 5 1 Q6 2 2 5 3 3 Q7 1 1 3 5 1 Q8 1 1 3 3 1 Ghi chú: Cấp 1: Ít phổ biến Cấp 2: Phổ biến Cấp 3: Rất phổ biến Cấp 1: Nhỏ hơn 1% diện tích lá bị hại. Cấp 3: Từ 1-5% diện tích lá bị hại. Cấp 5: Từ 6-25% diện tích lá bị hại. Cấp 7: Từ 26-50% diện tích lá bị hại. Cấp 9: Lớn hơn 50% diện tích lá bị hại. Trước đó, Tiedeken và cs. (2005) đã tìm hiểu cơ chế tương tác giữa các loài côn trùng với hoa của loài R. ponticum (Tiedeken et al., 2015). Về bệnh hại, các bệnh thường gây hại trên loài đỗ quyên là thối rễ (Rhizoctonia solani), vàng lá sinh lý và bệnh rỉ sắt (Phragmidium mucronatum). Trong đó bệnh rỉ sắt ở cấp 5 là Q3, nhẹ ở loài Q1, Q2, Q6 (cấp 3) và rất nhẹ là Q4, Q5, Q7, Q8 (cấp 1). Tương tự bệnh thối rễ nhiễm nhẹ nhất Q3, Q7, Q8 (cấp 3), trung bình Q5, Q4, Q2 (cấp 5) và nặng nhất Q1 (cấp 7). Riêng vàng lá sinh lý mức độ nhiễm Q1, Q2, Q3, Q4, Q6, Q8 (cấp 3), Q5 và Q7 (cấp 5). 70 Rỉ sắt Nhện đỏ Hình 3.9. Các loại sâu bệnh hại các loài đỗ quyên nghiên cứu Nhìn chung, thối rễ và vàng lá sinh lý là 2 loại bệnh ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng phát triển của cây đỗ quyên, nên cần có biện pháp canh tác phù hợp để làm giảm ảnh hưởng của 2 loại bệnh này nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cây hoa đỗ quyên (Nguyễn Thị Kim Lý, 2009). Đây cũng là cơ sở để luận án tác động các biện pháp kỹ thuật như lựa chọn giá thể, chế độ phân bón phù hợp và bổ sung các nguyên tố vi lượng cần thiết cho các loài đỗ quyên nghiên cứu. Kết quả đánh giá một số đặc điểm hình thái và đặc điểm nông học cho thấy, các loài đỗ quyên nghiên cứu rất đa dạng về hình thái từ màu sắc thân, lá, thế lá cũng như đa dạng về màu sắc hoa và cấu trúc hoa. Đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển của 08 loài đỗ quyên nghiên cứu đã cho thấy các loài đều thích nghi khi trồng ở vùng đồng bằng, có tốc độ tăng trưởng cao trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 9 nên trong giai đoạn này cần tác động các biện pháp kỹ thuật (lựa chọn giá thể, chế độ phân bón) để cây sinh trưởng phát triển tối ưu nhất. Trong các loài nghiên cứu, có 4 loài là Q3 (Hồng đậm), Q5 (Tím đậm), Q7 (Đỏ) và Q8 sinh trưởng phát triển tốt, trong đó có 02 loài là Q5 (Tím đậm) và Q8 có triển vọng cho sản xuất. Đặc biệt Q8 (Cà rốt) có các đặc điểm hình thái 71 đáp ứng với yêu cầu thị trường như chiều cao cây 58,4 cm, số cành cấp 1 16,5 cành/cây, cành cứng khỏe, độ mềm dẻo cao, hoa đẹp màu đỏ hồng và độ bền, trang trí dài, làm cơ sở cho việc giới thiệu hoa đỗ quyên Cà rốt (Q8) vào sản xuất và làm đối tượng cho các nghiên cứu tiếp về kỹ thuật nhân giống các biện pháp trồng và chăm sóc loài đỗ quyên này nhằm nâng cao năng suất, chất lượng hoa và tăng hiệu quả kinh tế cho người trồng hoa. 3.1.5. Xác định mối quan hệ di truyền loài đỗ quyên bản địa của Việt Nam Chỉ thị DNA có khả năng ứng dụng rất lớn trong phân tích đa dạng di truyền cũng như ứng dụng trong chọn tạo giống. Cho đến nay, hàng loạt chỉ thị phân tử đã được phát minh và ứng dụng rộng rãi trong đó có chỉ thị ISSR (Collard et al., 2008). Chỉ thị ISSR dựa trên phản ứng PCR nhằm khuếch đại ngẫu nhiên các đoạn ADN ở các vị trí khác nhau trong bộ ADN genome. Do sự đa hình về trình tự ADN giữa các cá thể dẫn tớivị trí bắt mồi là khác nhau và do vậy các locus được khuếch đại của các cá thể có thể cũng khác nhau. Chính vì vậy, ISSR là chỉ thị có mức độ đa hình cao và được sử dụng nhiều trong nghiên cứu đa dạng di truyền giữa các loài thực vật (Collard et al., 2008; Charrier et al., 2014; Xu et al., 2017). Việc khảo sát, đánh giá mức độ đa hình của các mẫu giống đỗ quyên là cần thiết.Với mục đích phân tích mối quan hệ di truyền của các mẫu đỗ quyên thu thập được nhằm xác định các công việc phù hợp cho công tác lai tạo giống sau này, nghiên cứu này đã sử dụng chỉ thị phân tử ISSR nhằm phát hiện mức độ đa hình của 8 mẫu đỗ quyên thu thập được. Kết quả phân tích đa hình của các mẫu đỗ quyên được thể hiện trên bảng 3.11. 72 Bảng 3.11. Tính đa hình của 8 mẫu đỗ quyên dựa trên chỉ thị ISSR tại Học Viện Nông nghiệp Việt Nam, năm 2015-2016 Tên mồi Số locus phát hiện được Tỷ lệ đa hình của các locus Tổng số băng nhân bản được Số băng/ mẫu Chỉ số đa hình PIC Chỉ số sai khác giữa các cặp mồi (RP) UBC_807 10 80,00 47 5,88 0,28 11,75 UBC_808 13 92,31 64 8,00 0,29 16,00 UBC_811 15 73,33 81 10,13 0,19 20,25 UBC_812 6 66,67 27 3,38 0,22 6,75 UBC_813 14 78,57 46 5,75 0,21 11,50 UBC_817 9 66,67 43 5,38 0,25 10,75 UBC_818 4 50,00 19 2,38 0,15 4,75 UBC_819 10 40,00 53 6,63 0,12 13,25 UBC_823 6 50,00 35 4,38 0,16 8,75 UBC_824 4 50,00 16 2,00 0,12 4,00 UBC_827 12 75,00 48 6,00 0,26 12,00 UBC_847 11 81,82 51 6,38 0,26 12,75 UBC_862 4 100,00 15 1,88 0,26 3,75 UBC_864 7 57,14 40 5,00 0,20 10,00 UBC_866 7 71,43 44 5,50 0,22 11,00 UBC_868 8 75,00 44 5,50 0,31 11,00 UBC_869 5 100,00 21 2,63 0,37 5,25 UBC_872 10 90,00 43 5,38 0,31 10,75 UBC_873 3 100,00 13 1,63 0,30 3,25 UBC_876 16 93,75 66 8,25 0,34 16,50 ISSR-T1 13 76,92 67 8,38 0,29 16,75 ISSR-T3 13 61,54 71 8,88 0,19 17,75 Tổng số 200 954 Trung bình/mồi 9,09 74,10 43,36 5,42 0,24 10,84 Giá trị trung bình/mẫu 25,00 119,25 14,91 73 Bảng 3.11 cho thấy 22 chỉ thị ISSR đã phát hiện được tổng số 200 locus với tỷ lệ đa hình của các locus trung bình đạt 74,1%. 22 chỉ thị ISSR đã nhân được tổng số 954 băng vạch ADN, trung bình đạt 43,36 băng vạch/mồi, 119,25 băng vạch ADN/mẫu trung bình đạt 5,42 băng vạch/mồi/mẫu. Nhóm các chỉ thị UBC_808, UBC_876, ISSR-T1, ISSR-T3, UBC_811 cho số băng ADN trung bình tính trên các mẫu đỗ quyên đạt cao nhất, tương ứng 8,00 - 10,13 băng/mẫu. Nhóm chỉ thị ISSR cho số băng ADN trung bình trên mẫu thấp nhất làUBC_873, UBC_862, UBC_824, cho số băng ADN trung bình thấp nhất tương ứng là 1,63 - 2,00 băng/mẫu. Chỉ số đa hình PIC trung bình đạt 0,24 và chỉ số sai khác giữa các cặp mồi (RP) là 10,84. Hệ số tương đồng Sokal và Michener (1958) đã được sử dụng để xác định mối tương đồng di truyền giữa 8 mẫu đỗ quyên. Kết quả được thể hiện ở bảng 3.12. Bảng 3.12. Hệ số tương đồng di truyền của 8 mẫu đỗ quyên tại Học Viện Nông nghiệp Việt Nam, năm 2015-2016 Mẫu Q1 Q2 Q3 Q4 Q5 Q6 Q7 Q8 Q1 1,000 Q2 0,862 1,000 Q3 0,760 0,750 1,000 Q4 0,821 0,816 0,776 1,000 Q5 0,750 0,745 0,755 0,827 1,000 Q6 0,704 0,684 0,821 0,801 0,760 1,000 Q7 0,730 0,663 0,643 0,724 0,689 0,709 1,000 Q8 0,577 0,582 0,571 0,582 0,597 0,536 0,490 1,000 Kết quả ở bảng 3.12 và hình 3.10 cho thấy khi được phân tích bởi 22 chỉ thị ISSR ở mức độ tương đồng di truyền là 75% thì 8 mẫu đỗ quyên được phân tách thành 4 nhóm khác nhau. Nhóm 1 bao gồm 4 mẫu Q1(Trắng), Q2 (Trắng xanh), Q4 (Hồng nhạt) và Q5 (Tím đậm), nhóm 2 bao gồm hai mẫu Q3 (Hồng đậm) và Q6 (Tím nhạt), hai mẫu còn lại là Q7 (Đỏ) và Q8 (Cà rốt) được tách 74 biệt thành 2 nhóm độc lập nhau là nhóm 3 và nhóm 4. Điểm trùng hợp ngẫu nhiên là sự tương đồng di truyền gần như có sự tương quan với màu sắc của các mẫu. Rõ ràng, các mẫu Q1(Trắng), Q2 (Trắng xanh) có màu sắc gần giống nhau nhất trong số các mẫu (đều sáng màu) có hệ số tương đồng di truyền tới 86,2%, mẫu Q8 (Cà rốt) có sự khác biệt rõ rệt về màu sắc với các mẫu còn lại nên có hệ số tương đồng di truyền là nhỏ nhất với 7 mẫu còn lại, trong đó mức độ tương đồng di truyền của mẫu Q7 và Q8 chỉ đạt 49,0% (Bảng 3.12). Hình 3.10. Cây phân loại di truyền giữa 8 loài đỗ quyên bản địa Kết quả phân tích cho hệ số PIC của chỉ thị chỉ đạt 0,24 chứng tỏ mức độ đa dạng của 8 mẫu đỗ quyên là ở mức trung bình. Thực tế thì ngoài hai mẫu Q7 và Q8 có sự khác biệt lớn thì các mẫu còn lại có sự khác biệt khá nhỏ. Cụ thể, sự khác biệt di truyền giữa mẫu Q3 và Q6 là 10,5%, Q2 và Q4 là 11,2% và Q1 và Q2 là 11,4%, Q1 và Q4 là 14,4%. Do mẫu đỗ quyên Cà rốt là mẫu có kiểu hình khá đặc biệt (lá rụng khi ra hoa) nên có thể sử dụng Q8 để lai tạo với 7 mẫu còn lại nhằm tạo nguồn vật liệu, phục vụ công tác chọn tạo giống hoa đỗ quyên mới. Trong các năm gần đây, đã có một số công trình nghiên cứu nhằm phát triển chỉ thị phân tử đặc hiệu cho loài đỗ quyên đặc biệt là loài R. simsii. Li và 75 cộng sự (2016) đã phát triển được 7 cặp mồi EST-SSR và ứng dụng trong phân tích đa dạng nguồn gen của 32 mẫu đỗ quyên thuộc loài R. Simsii thu thập tại tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc (Li và cs., 2016b). Shuzhen và cộng tác viên (2017) cũng phát triển được 14 chỉ thị microsatellite cho loài Rhododendron simsii (Shuzhen và cs., 2017). Việc phân tích đa dạng di truyền của một số mẫu đỗ quyên thuộc loài R. simsii phân bố ở Việt Nam đã được tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng (2011) thực hiện. Tác giả cũng so sánh sự đa dạng di truyền của các mẫu đỗ quyên Việt Nam với các cá thể đỗ quyên cùng loài của Nhật Bản và nghiên cứu khả năng lai tạo giữa các mẫu hoa đỗ quyên Việt Nam và Nhật Bản nhằm phát triển giống hoa đỗ quyên mới (Nguyễn Thị Thu Hằng 2011). Kết quả nghiên cứu này đã chỉ ra 8 mẫu đỗ quyên thuộc nhiều loài khác nhau (mẫu Q2 thuộc loài R. lyi, mẫu Q5 thuộc loài R. chapaensis, mẫu Q8 thuộc loài R. simsii, các mẫu Q1, Q3, Q4, Q6 và Q7 chưa được định danh loài) và sẽ là những nguồn gen quý, góp phần vào mục tiêu bảo tồn, phát triển nguồn gen, phục vụ công tác lai tạo giống đỗ quyên mới tại Việt Nam. Hình 3.11a. Ảnh điện di phân loại di truyền giữa 8 loài đỗ quyên bản địa 76 Hình 3.11b. Ảnh điện di phân loại di truyền giữa 8 loài đỗ quyên bản địa Từ các nghiên cứu trên cho thấy các loài đỗ quyên có mối quan hệ rất gần nhau. Khi nghiên cứu về đặc điểm nông sinh học cho thấy có mối quan hệ giữa các loài đỗ quyên bản địa nghiên cứu thể hiện ở màu sắc hoa, ở loài Q1 (Trắng), Q2 (Trắng xanh) cùng một nhóm sự khác biệt màu sắc không nhiều, 77 chỉ khác nhau là số lượng hoa trên cây. Ở loài Q3 (Hồng đậm), Q4 (Hồng nhạt) có sự khác biệt về độ đậm nhạt màu sắt hoa, tương tự ở loài Q5 (Tím đậm) và Q6 (Tím nhạt). Với loài Q7, Q8 màu đỏ và màu cà rốt có sự khác biệt rõ ràng với nhóm màu còn lại. Điều này cho thấy chỉ thị ISSR rất có ý nghĩa trong việc có thể xác định sự khác biệt giữa các mẫu giống có mối liên hệ về màu sắc hoa, tuy nhiên để có thể khẳng định được điều này cần có các nghiên cứu chuyên sâu hơn cần được thực hiện. Kết quả nghiên cứu này cùng với nghiên cứu về đặc điểm nông sinh học là cơ sở để lựa chọn các cặp bố mẹ phù hợp cho công tác lai tạo giống hoa đỗ quyên ở Việt Nam. 3.2. Nghiên cứu biện pháp nhân giống bằng phương pháp giâm cành hoa đỗ quyên Cà rốt (Rhododendron simsii Planch) Hiện tại trong sản xuất phương pháp nhân giống chủ yếu cho các loài đỗ quyên bản địa là gieo hạt, chiết cành và giâm hom, nhưng hình thức gieo hạt ít sử dụng hơn do khó thụ phấn và hạt cũng khó nảy mầm, thời gian ra hoa lại lâu hơn. Chiết cành hệ số nhân giống thấp lâu ra rễ. Nhân giống bằng phương pháp giâm cành có nhiều lợi thế hơn cho việc cung cấp một số lượng lớn cây giống trong thời gian ngắn, cây đồng đều, chất lượng cây giống tốt nhằm nâng cao hơn nữa năng suất và chất lượng cành giâm. Do vậy, nghiên cứu của đề tài cũng tập trung vào biện pháp này. 3.2.1. Ảnh hưởng của thời vụ giâm cành đến khả năng sinh trưởng và chất lượng của cành giâm Thời vụ giâm cành là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ ra rễ, tỷ lệ sống của cành giâm (Nguyễn Thị Kim Lý, 2009). Ở các tỉnh phía Bắc, đặc biệt là vùng đồng bằng. Thời gian giâm cành có hiệu quả cho hầu hết các loài cây rừng là mùa sinh trưởng (tháng 4 đến tháng 9, tháng 10) (Chu Thị Thơm và cs., 2005). 78 Bảng 3.13. Ảnh hưởng của thời vụ giâm cành đến thời gian qua các gia đoạn vườn ươm cành giâm tại xã Phụng Công, Văn Giang, Hưng Yên, năm 2016-2017 Công thức thí nghiệm Thời gian từ giâm cành đến...... (ngày) Hình thành rễ 10% 90% ra rễ Xuất vườn 90% CT1: 5/2 (đ/c) 20,7 35,3 115,2 CT2: 5/3 18,5 32,1 113,6 CT3: 5/4 16,3 34,5 110,3 CT4: 5/9 14,7 29,5 98,2 CT5: 5/10 13,9 27,8 96,5 Kết quả bảng 3.13 cho thấy thời gian từ giâm cành đến hình thành rễ 10% ở các thời vụ giâm khác nhau có sự chênh lệch, dao động từ 13,9-20,7 ngày. Giâm cành vào tháng 10 có thời gian ngắn nhất là (13,9 ngày) và dài nhất là giâm vào tháng 2 (20,7 ngày). Giâm cành vào tháng 9 và tháng 10 với điều kiện khí hậu gần giống nhau thì thời gian hình thành rễ không chênh nhau nhiều từ 13,9-14,7 ngày. Thời gian từ giâm cành đến ra rễ 90% ở tất cả các công thức đều dưới 4 tuần. Thời gian ra rễ ngắn nhất khi giâm cành vào tháng 10 là (27,8 ngày), tiếp đến là tháng 9 (29,5 ngày) và tháng 3 là (32,1 ngày). Nhìn chung vào các tháng này thời tiết khá thuận lợi cho việc giâm cành. Thời gian cho ra rễ dài nhất 35,3 ngày là khi giâm vào tháng 2, do lúc này thời tiết lạnh, nhiệt độ vẫn còn thấp nên cây khó ra rễ hơn. Bên cạnh đó, giâm cành vào tháng 9 và tháng 10 cho thời gian xuất vườn ngắn nhất 96,5 - 98,2 ngày, còn giâm cành vào tháng 2 và tháng 3 thì thời gian xuất vườn dài hơn 113,6 - 115,2 ngày. 79 Bảng 3.14. Ảnh hưởng của thời vụ giâm cành đến khả năng ra rễ, thời gian ra rễ của đỗ quyên Cà rốt (tại xã Phụng Công, Văn Giang, Hưng Yên, năm 2016-2017) Công thức thí nghiệm Tỷ lệ cây....(%) Hồi xanh Ra rễ Sống Xuất vườn CT1: 5/2 90,7 62,3 37,1 34,5 CT2: 5/3 95,6 78,5 65,8 63,8 CT3: 5/4 94,4 70,7 62,9 60,9 CT4: 5/9 96,3 80,9 73,4 70,5 CT5: 5/10 98,5 82,5 75,3 72,3 Theo dõi tỷ lệ hồi xanh sau giâm 10 ngày cho thấy giâm cành vào tất cả các tháng thí nghiệm đều cho tỷ lệ hồi xanh trên 90%, nhưng giâm vào tháng 9 hoặc tháng 10 cho tỷ lệ hồi xanh cao nhất từ 96,3 - 98,5%, giâm vào tháng 4 tỷ lệ hồi xanh thấp hơn 94,4% và thấp nhất là vào tháng 2 đạt 90,7%. Thời gian thuận lợi cho giâm cành đỗ quyên vào tháng 3, 9 và tháng 10, Trong đó tốt nhất vào tháng 10, cho tỷ lệ ra rễ đạt 82,5%, tỷ lệ cây sống 75,3% và tỷ lệ cây xuất vườn 72,3%. Sở dĩ có kết quả như vậy là do tháng 3, 9 và tháng 10 thời tiết mát mẻ hơn độ ẩm thấp hơn phù hợp với việc giâm cành, đặc biệt tháng 10 thời tiết khô ráo thuận lợi cho việc ra rễ của cành giâm. Trong khi đó các thời vụ giâm cành ở tháng 2, 4 tỷ lệ ra rễ thấp 62,3 - 70,7%, đặc biệt tỷ lệ cây sống giảm 37,1% - 62,9% và tỷ lệ cây xuất vườn chỉ đạt 34,5 - 60,9%, do tháng 2 nhiệt độ còn thấp trung bình 13,2oC và thường xuất hiện các đợt không khí lạnh gây rét đậm rét hại ở cuối tháng 2 nên cành giâm khó ra rễ, còn tháng 4 chuyển mùa nhiệt độ cao hơn nên tỷ lệ ra rễ ở thời điểm này vẫn thấp. Nhất là ở các tháng tiếp theo từ tháng 5-tháng 8. Tương tự như vậy từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau thường xuất hiện các đợt không khí lạnh nhiệt 80 độ thấp dần nên giâm cành vào thời gian này sẽ ảnh hưởng đến khả năng ra rễ và sự phát triển của cành giâm đây cũng là lý do đề tài không nghiên cứu biện pháp giâm cành vào các tháng này. Bảng 3.15. Ảnh hưởng của thời vụ giâm cành đến chất lượng cành giâm đỗ quyên Cà rốt (tại xã Phụng Công, Văn Giang, Hưng Yên, năm 2016-2017) Công thức thí nghiệm Chiều cao cây (cm) Số chồi/ cây Số lá/cây Tỷ lệ thối gốc (%) CT1: 5/2 11,4 2,1 5,6 25,2 CT2: 5/3 12,3 2,3 6,2 20,7 CT3: 5/4 12,8 2,4 6,7 17,8 CT4: 5/9 13,6 3,1 7,5 10,5 CT5: 5/10 15,7 3,4 8,5 7,5 Số liệu bảng 3.15 cho thấy thời vụ giâm cành vào tháng 2 và tháng 4 cho chiều cao, số chồi, số lá cành giâm thấp nhất lần lượt 11,4 cm; 2,1 chồi và 5,6 lá. Đặc biệt, tháng 2 do mưa phùn kéo dài trong nhiều ngày, độ ẩm cao nên tỷ lệ thối gốc cao lên tới 25,2%. Các thời vụ tháng 3, 9, 10 cho chiều cao, số chồi, số lá lần lượt 13,6 - 15,7 cm; 3,1 - 3,4 chồi; 7,5 - 8,5 lá và cho tỷ lệ thối gốc thấp nhất 7,5 - 10,5%. Do vậy, để đáp ứng nhu cầu cây giống cho sản xuất thì có thể giâm đỗ quyên vào tháng 3, 9 và tháng 10, Trong đó, tháng 10 cho kết quả tốt nhất với thời gian hình thành rễ ngắn 27,8 ngày, tỷ lệ cây xuất vườn cao 72,5 %, chiều cao cây đạt 15,7 cm, số lá 8,5 lá. Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Lý (2015) về thời vụ giâm cành cho cây đỗ quyên vào tháng 3 và tháng 9. Tuy nhiên điều kiện nhiệt độ trong tháng của các năm diễn ra khác nhau nên ngoài tháng 3, 9 thì tháng 10 cũng cho kết quả tốt. Theo dõi biến động nhiệt độ giữa các tháng, thì thời gian nghiên cứu của đề 81 tài vào tháng 9/2015 nhiệt độ trung bình từ 27-28oC cao hơn so với nhiệt độ ở tháng 9/2013 của Nguyễn Thị Kim Lý nhiệt độ trung bình từ 26-27oC, nhưng tháng 10 (nhiệt độ trung bình thấp hơn từ 24-25oC). Tháng 3 tương đồng (nhiệt độ trung bình từ 21-22oC) cho thấy có mối quan hệ về ngưỡng nhiệt độ (trung bình từ 24-25oC) là điều kiện thuận lợi để giâm cành. Do vậy, ngoài căn cứ vào thời vụ cũng có thể căn cứ vào nhiệt độ để xác định thời điểm giâm cành, vấn đề này cần có những nghiên cứu tiếp về ảnh hưởng của điều kiện nhiệt độ đến quá trình giâm cành. Từ kết quả nghiên cứu trên cho thấy, thời vụ giâm cành đã ảnh hưởng rất lớn đến kết quả giâm cành. Trong các tháng thí nghiệm, việc giâm cành vào tháng 3, tháng 9 và tháng 10 đều cho kết quả cao, trong đó tháng 10 là tháng có kết quả tốt nhất với tỷ lệ ra rễ 82,5% và tỷ lệ xuất vườn 72,3%. CT1 CT3 CT2 CT4 CT5 Hình 3.12. Ảnh hưởng của thời vụ giâm cành đến khả năng sinh trưởng và chất lượng của cành giâm 82 3.2.2. Ảnh hưởng của giá thể đến sinh trưởng và chất lượng của cành giâm Giá thể là giá đỡ cho cây, giữ ẩm, tạo độ thoáng đồng thời cung cấp chất dinh dưỡng cho từng đối tượng cây hoa (Chu Thị Thơm và cs., 2005). Giá thế phù hợp đối với cây trồng nói chung và cây hoa trồng chậu nói riêng có ý nghĩa quan trọng trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển của cây, đối với cây đỗ quyên yêu cầu giá thể phải có khả năng giữ ẩm tốt, dễ thoát nước, có độ thoáng khí, do vậy giá thể thường là các vật liệu tơi xốp thoáng khí giữ ẩm nhưng lại thoát nước tốt. Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại giá thể giâm cành đến chất lượng cành giống được trình bày ở bảng 3.16. Kết quả ở bảng 3.16 cho thấy giá thể khác nhau đã ảnh hưởng rõ rệt đến các chỉ tiêu theo dõi. CT4 (đất ruộng khô + trấu mục) có thời gian ra rễ ngắn 22,7 ngày, tỷ lệ ra rễ 87,6% và tỷ lệ cây sống 85,3% . Bảng 3.16. Ảnh hưởng của giá thể đến thời gian ra rễ, tỷ lệ ra rễ và xuất vườn của đỗ quyên Cà rốt (tại xã Phụng Công, Văn Giang, Hưng Yên, năm 2016-2017) Công thức thí nghiệm Thời gian từ giâm đến xuất hiện rễ (ngày) Tỷ lệ ra rễ (%) Tỷ lệ cây sống (%) Tỷ lệ cây xuất vườn (%) CT1: CĐ 100% 27,0 78,3 75,1 72,3 CT2: CĐ+TM (7:3) 26,3 85,1 83,4 81,4 CT3: ĐRK+CĐ (7:3) 25,4 84,5 82,6 80,7 CT4: ĐRK+TM(7:3) 22,7 87,6 85,3 83,7 LSD0,05 5,5 - - - CV (%) 2,7 - - - Ghi chú: CĐ: cát đen TM: Trấu mục ĐRK: Đất ruộng khô 83 Tiếp đến CT2 (cát đen + trấu mục, tỷ lệ 7:3), CT3 (Đất ruộng khô + cát đen, tỷ lệ 7:3) với thời gian ra rễ 25,4 - 26,3 ngày, tỷ lệ xuất vườn 80,7 - 81,4%. Thời gian từ khi giâm đến khi ra rễ dài nhất 27 ngày ở CT1 (cát đen); công thức này cũng cho tỷ lệ cây xuất vườn thấp nhất 72,3%. Như vậy CT4 (Đất ruộng khô + trấu mục, tỷ lệ 7:3) tạo được độ tơi xốp thoáng khí giữ nước đồng thời có khả năng thoát nước tốt hơn, nên đã làm tăng khả năng ra rễ, cho tỉ lệ cây xuất vườn cao nhất trong tất cả các công thức thí nghiệm là 83,7%. Số liệu ở bảng 3.18 cho thấy sử dụng giá thể CT4 (đất ruộng khô + trấu mục) cho cây đỗ quyên Cà rốt sinh trưởng tốt nhất, với chiều cao cây 20,5 cm, số lá 13,1 lá và 9,5 rễ. Tiếp đến CT2 (Cát đen +Trấu mục), CT3 (Đất ruộng khô +Cát đen) chiều cao từ 17,2-18,3 cm, số lá 10,4-11,8 lá, số rễ 7,6- 7,8 rễ và thấp nhất là CT1 (Cát đen) với chiều cao cây 15,4 cm, số lá 8,6 lá, 5,8 rễ và chiều dài rễ ngắn nhất 3,4 cm. Bảng 3.17. Ảnh hưởng của giá thể giâm cành đến một số chỉ tiêu sinh trưởng củ
File đính kèm:
luan_an_nghien_cuu_dac_diem_nong_sinh_hoc_va_bien_phap_ky_th.pdf
Thong tin LATS- EN-Do Thi Thu Lai.pdf
Thong tin LATS- VN-Do Thi Thu Lai.pdf
Tom tat LATS-EN- Do Thị Thu Lai.pdf
Tom tat LATS-VI- Do Thị Thu Lai.pdf