Luận án Nghiên cứu kỹ thuật che phủ rơm rạ trong trồng lạc tại một số tỉnh miền Bắc Việt Nam

Trang 1

Trang 2

Trang 3

Trang 4

Trang 5

Trang 6

Trang 7

Trang 8

Trang 9

Trang 10
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 10 trang mẫu của tài liệu "Luận án Nghiên cứu kỹ thuật che phủ rơm rạ trong trồng lạc tại một số tỉnh miền Bắc Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Luận án Nghiên cứu kỹ thuật che phủ rơm rạ trong trồng lạc tại một số tỉnh miền Bắc Việt Nam

.7). Bảng 3.7. Đánh giá của các hộ dân về hiệu quả sử dụng rơm rạ che phủ cho cây trồng tại các tỉnh điều tra (%) Địa phƣơng Hiệu quả thấp Hiệu quả trung bình Hiệu quả rõ rệt 1. Huyện Hiệp Hòa - Bắc Giang 3,7 21,5 74,8 2. Huyện Việt Yên - Bắc Giang 4,1 26,0 69,9 3. Huyện Ý Yên - Nam Định 6,3 40,4 53,3 4. Huyện Vụ Bản - Nam Định 5,6 37,8 56,6 5. Huyện Hậu Lộc - Thanh Hóa 2,8 31,9 65,3 6. Huyện Hoằng Hóa - Thanh Hóa 3,4 35,0 61,6 Trung bình 4,3 32,1 63,3 Ghi chú: Hiệu quả thấp: năng suất cây trồng tăng < 5 % so với không che phủ; Hiệu quả trung bình: năng suất cây trồng tăng 5 - 10 % so với không che phủ; Hiệu quả rõ rệt: năng suất cây trồng tăng >10 % so với không che phủ. 84 3.1.1.5. Nhu cầu và khuynh hướng sử dụng rơm rạ trong sản xuất nông nghiệp của người dân tại các tỉnh điều tra Bảng 3.8. Nhu cầu sử dụng rơm rạ trong sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân trong những năm tiếp theo tại các tỉnh điều tra (%) Địa phƣơng Không có nhu cầu Có nhu cầu Cao Tr. bình Thấp 1. Huyện Hiệp Hòa – Bắc Giang 56,6 18,5 17,8 7,1 2. Huyện Việt Yên – Bắc Giang 52,5 15,3 26,0 6,2 3. Huyện Ý Yên – Nam Định 66,3 18,9 10,3 4,5 4. Huyện Vụ Bản – Nam Định 71,2 13,0 5,6 10,2 5. Huyện Hậu Lộc – Thanh Hóa 48,7 23,5 21,5 6,3 6. Huyện Hoằng Hóa – Thanh Hóa 56,2 20,8 14,8 8,2 Trung bình 58,6 18,3 16,0 7,1 Ghi chú: Nhu cầu cao: > 70% số hộ lựa chọn; Nhu cầu trung bình 50 - 70% số hộ lựa chọn; Nhu cầu thấp: < 50% số hộ lựa chọn. Số liệu ở bảng 3.8 cho thấy: trong 180 hộ đƣợc phỏng vấn có 58,6% số hộ không có nhu cầu sử dụng rơm rạ trong sản xuất ở những năm tiếp theo; 51,4% số hộ còn lại có nhu cầu sử dụng với các mức độ khác nhau, trong đó số hộ có nhu cầu từ trung bình đến cao chiếm 34,3%. Các hình thức sử dụng rơm rạ tại các tỉnh miền Bắc trong vụ xuân và vụ đông vẫn khá đa dạng, phụ thuộc điều kiện canh tác của mỗi hộ cũng nhƣ tập quán canh tác tại mỗi địa phƣơng. Bên cạnh hình thức đốt rơm trực tiếp trên đồng ruộng vẫn chiếm tỷ lệ lớn (trung bình 58,6%) thì hình thức sử dụng rơm rạ phổ biến trong vụ xuân là vùi tại ruộng (22,2%), vụ mùa là tủ gốc cho cây trồng (11,3%) và phục vụ chăn nuôi (9,3%). Các hình thức còn lại chiếm tỷ lệ nhỏ (4,7 - 5,9%) (bảng 3.9). 85 Bảng 3.9. Khuynh hƣớng sử dụng rơm rạ của ngƣời dân trong những năm tiếp theo tại các tỉnh điều tra Hình thức sử dụng Số hộ (%) Vụ Xuân Vụ Mùa Trung bình Đốt 45,3 71,8 58,6 Vùi tại ruộng 22,2 2,3 12,3 Che phủ cho cây trồng 8,8 11,3 10,1 Chăn nuôi 7,9 9,3 8,6 Ủ phân, than sinh học 9,5 2,2 5,9 Khác (bán, làm nấm, đun..) 6,3 3,1 4,7 Nguồn: Tổng hợp số liệu kết quả điều tra năm 2014 3.1.2. Hiện trạng sử dụng rơm rạ làm vật liệu che phủ trong sản xuất lạc tại các tỉnh điều tra Kết quả điều tra các nguồn vật liệu che phủ trong sản xuất lạc tại các tỉnh Bắc Giang, Nam Định và Thanh Hóa đƣợc trình bày tại bảng 3.10. Bảng 3.10. Các nguồn vật liệu chính che phủ cho lạc tại các tỉnh điều tra (%) Vật liệu Địa phƣơng Ni lông chuyên dụng phủ lạc Rơm rạ, xác thực vật Màng phủ nông nghiệp, màng nhựa Vật liệu khác (hạt giữ ẩm) Bắc Giang 84,2 9,8 6,0 - Nam Định 87,4 5,5 3,7 3,4 Thanh Hóa 77,8 12,7 7,2 2,3 Trung bình 83,1 9,3 5,6 1,9 Nguồn: Tổng hợp số liệu kết quả điều tra năm 2014 86 Số liệu ở bảng 3.10 cho thấy: tại các tỉnh điều tra vật liệu chính đƣợc sử dụng che phủ cho lạc là màng PE và ni lông chuyên dụng với tỷ lệ số hộ sử dụng đạt 83,1%, tiếp đến là xác hữu cơ, rơm rạ với tỷ lệ 9,3%; màng phủ nông nghiệp và màng nhựa chiếm 5,6%. Các vật liệu khác (hạt giữ ẩm, màng hóa học....) đƣợc sử dụng với tỷ lệ nhỏ (1,9%). Nhƣ vậy, cùng với sự phát triển của xã hội, đã xuất hiện nhiều giải pháp hơn trong việc chọn lựa các vật liệu che phủ cho cây lạc. Với những hạn chế và bất cập của việc sử dụng ni lông trong sản xuất lạc (yêu cầu điều kiện gieo trồng khắt khe, giá thành cao, tốn công lao động, gây ô nhiễm đất và môi trƣờng...) thì việc sử dụng rơm rạ để bổ sung nguồn vật liệu phủ có thể đƣợc coi nhƣ một giải pháp hữu hiệu cho sản xuất lạc tại các tỉnh miền Bắc. Tuy nhiên, thực trạng sản xuất cho thấy mức độ sử dụng của ngƣời nông dân tại các tỉnh vẫn còn thấp so với che phủ bằng ni lông. Bảng 3.11. Những nguyên nhân, hạn chế của việc sử dụng rơm rạ che phủ trong trồng lạc tại các tỉnh điều tra TT Nguyên nhân, hạn chế Đánh giá cụ thể Tỷ lệ đánh giá (%) 1 Hạn chế về khoa học công nghệ - Chƣa đƣợc các cơ quan nghiên cứu một cách có hệ thống, bài bản. - Chƣa có nhiều các mô hình trình diễn, quảng bá để ngƣời dân thăm quan, học tập. - Chƣa đƣợc chuyển giao sâu rộng tới ngƣời nông dân...v.v 29,9 2 Hạn chế về nhận thức - Tập quán canh tác truyền thống (không phủ) - Sử dụng rơm rạ chủ yếu theo kinh nghiệm. - Trình độ nhận thức hạn chế (mới chỉ quan tâm đến yếu tố che phủ mà chƣa kết hợp đồng bộ với các yếu tố khác). - Tốn thời gian, không tiện lợi (so với che phủ bằng ni lông)...vv 42,6 87 3 Hạn chế về chính sách - Công tác thông tin, tuyên truyền. - Các chính sách khuyến khích sản xuất nông nghiệp theo hƣớng hữu cơ, bền vững; sản xuất nông nghiệp theo hƣớng hàng hóa, tập trung. - Chính sách về tích tụ đất đai...v.v 10,2 4 Nguyên nhân khác (điều kiện đất đai, cơ sở vật chất, kinh tế các hộ ...) - Diện tích sản xuất lạc của mỗi hộ tại địa phƣơng còn ít, chƣa đƣợc tập trung. - Tốn công thu gom, vận chuyển và xử lý. - Thiếu các công cụ thu gom, vận chuyển...v.v 17,3 Số liệu ở bảng 3.11 cho thấy: có nhiều nguyên nhân dẫn tới việc sử dụng rơm rạ trong trồng lạc tại các tỉnh còn chiếm tỷ lệ thấp so với biện pháp che phủ bằng ni lông. Trong đó các hạn chế về trình độ nhận thức (chỉ sử dụng rơm rạ theo kinh nghiệm mà không quan tâm kết hợp với các biện pháp kỹ thuật khác...) và các hạn chế về khoa học công nghệ là những nguyên nhân chính khiến cho kỹ thuật sử dụng rơm rạ trong trồng lạc chƣa thật sự phổ biến tại các tỉnh miền Bắc. Bảng 3.12. Hiệu quả của một số nguồn vật liệu che phủ trong sản xuất lạc vụ thu đông năm 2013 tại các tỉnh điều tra Tỉnh điều tra Biện pháp kỹ thuật NS lạc tr.bình (tấn/ha) Tổng thu (tr. đ) Tổng chi (tr. đ) Lợi nhuận (tr. đ) Tăng so đ/c (tr. đ) Bắc Giang Không phủ (đ/c) 2,01 56,280 51,480 4,800 - Phủ ni lông 2,64 73,920 59,280 14,640 9,840 Phủ rơm, xác TV 2,38 66,640 50,480 16,160 11,360 Nam Định Không phủ (đ/c) 2,46 68,880 51,480 17,400 - Phủ ni lông 3,34 93,520 59,280 34,240 16,840 Phủ rơm, xác TV 3,06 85,680 50,480 35,200 17,800 Thanh Hóa Không phủ (đ/c) 2,15 60,200 51,480 8,720 - Phủ ni lông 2,84 79,520 59,280 20,240 11,520 Phủ rơm, xác TV 2,53 70,840 50,480 20,360 11,640 88 Ghi chú: - NS lạc trung bình lấy thống kê tại các huyện điều tra, vụ thu đông năm 2013. - Vụ thu đông năm 2013, giá lạc (bán giống): 25.000 đ/kg; đạm urê: 10.000 đ/kg, lân super: 4000 đ/kg, kali clorua: 12.000 đ/kg, phân HCVS sông Gianh 3000 đ/kg, vôi bột 1000 đ/kg, thuốc BVTV: 750.000 đ/ha, công lao động: 110.000 đ/công. Số liệu ở bảng 3.12 cho thấy: Biện pháp che phủ cho lạc đã làm tăng năng suất lạc đáng kể và cho hiệu quả kinh tế cao hơn đối chứng một cách rõ rệt. Theo đó biện pháp che phủ bằng ni lông và che phủ bằng rơm rạ cho hiệu quả kinh tế tƣơng đƣơng. Điều này lý giải nguyên nhân phần lớn tỷ lệ ngƣời dân chọn lựa ni lông để che phủ cho lạc (do hiệu quả và đƣợc các cơ quan nghiên cứu, chuyển giao khuyến cáo trong nhiều năm). Trong khi việc sử dụng rơm rạ thƣờng đƣợc áp dụng theo kinh nghiệm mà chƣa có quy trình hƣớng dẫn cụ thể, lƣợng che phủ còn thấp và chƣa đáp ứng yêu cầu kỹ thuật nhằm giữ nhiệt, giữ ẩm đất, hạn chế sâu bệnh hại và đảm bảo sự sinh trƣởng, phát triển và tạo năng suất cây lạc về sau. Tóm lại: Nguồn rơm rạ từ sản xuất nông nghiệp tại các tỉnh có diện tích trồng lạc chính (Bắc Giang, Nam Định, Thanh Hóa) ở miền Bắc rất lớn (2,941 triệu tấn). Các hình thức sử dụng chủ yếu hiện nay là đốt (54,8%), vùi tại ruộng (12,1%), phục vụ chăn nuôi (11,7%) và che phủ cho cây trồng (8,8%). Các hình thức sử dụng còn lại chiếm tỷ lệ nhỏ. Phần lớn số hộ nông dân (86,2%) tại các tỉnh điều tra không xử lý hoặc xử lý đơn giản nguồn rơm rạ sẵn có trong sản xuất. Các biện pháp xử lý chủ yếu là thu gom, phơi, đánh đống, băm nhỏ. Các hình thức xử lý hóa học và sinh học chiếm tỷ lệ nhỏ (13,8%). 89 Việc sử dụng rơm rạ che phủ cho cây trồng được đa số người dân đánh giá cao về tác dụng và hiệu quả (63,3% số hộ). Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau (trình độ nhận thức, điều kiện nông hộ, cơ chế chính sách, khoa học công nghệ...) khiến rơm rạ được sử dụng ngày càng giảm, hình thức đốt tại ruộng có xu thế gia tăng tại các tỉnh điều tra (từ 54,8% lên 58,6%). Các nguồn vật liệu chính che phủ cho lạc tại các tỉnh miền Bắc chủ yếu là ni lông (83,1%) và rơm rạ (9,3%). Theo đánh giá, hiệu quả trong sản xuất của hai loại vật liệu này tương đương nhau. Tuy nhiên, hiện nay rơm rạ chưa được sử dụng phổ biến trong trồng lạc do người nông dân mới chỉ quan tâm đến việc che phủ mà chưa kết hợp đồng bộ với các biện pháp kỹ thuật khác. Bên cạnh đó việc chưa được nghiên cứu một cách bài bản, có hệ thống và chuyển giao sâu rộng đến người nông dân cùng với các hạn chế khác về chính sách, điều kiện đất đai và kinh tế nông hộ tại các địa phương cũng là những nguyên nhân dẫn tới thực trạng trên. 90 3.2. Ảnh hƣởng của một số vật liệu che phủ trong trồng lạc tại một số tỉnh phía Bắc 3.2.1. Ảnh hưởng của một số vật liệu che phủ đến thời gian sinh trưởng của cây lạc Bảng 3.13. Ảnh hƣởng của một số vật liệu che phủ đến thời gian sinh trƣởng của giống lạc L14 (ngày)* Chỉ tiêu Công thức Vụ xuân Vụ thu đông Thời gian từ gieo đến... Mọc Ra hoa Thu hoạch Mọc Ra hoa Thu hoạch Xã Phú Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa 1. Không phủ (đ/c) 10 45 128 7 36 106 2. Phủ ni lông 8 43 122 7 35 97 3. Phủ rơm rạ 8 42 122 7 35 97 4. Phủ thân, lá ngô 9 42 123 7 35 99 Xã Yên Nhân, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định 1. Không phủ (đ/c) 10 46 130 7 35 108 2. Phủ ni lông 8 44 125 7 34 100 3. Phủ rơm rạ 9 44 125 7 34 101 4. Phủ thân, lá ngô 9 45 126 7 35 103 Ghi chú: * Số liệu trung bình 2 vụ xuân và 2 vụ thu đông 2014 - 2015 Số liệu tổng hợp ở bảng 3.13 cho thấy: Trong điều kiện vụ xuân, việc sử dụng các vật liệu che phủ đất đều ảnh hƣởng rõ rệt đến thời gian sinh trƣởng của giống lạc L14 qua các thời kỳ. Qua đó việc che phủ đất làm rút ngắn thời gian mọc và ra hoa từ 1 - 2 ngày, rút ngắn thời gian thu hoạch từ 4 - 6 ngày. Sự khác nhau giữa hai loại vật liệu ni lông và xác thực vật (rơm rạ, thân lá ngô) đối với thời gian sinh trƣởng của cây lạc thí nghiệm không đáng kể. 91 Trong vụ thu đông, việc sử dụng các vật liệu che phủ khác nhau không ảnh hƣởng nhiều đến thời gian từ gieo đến mọc, từ gieo đến ra hoa khi so sánh với công thức đối chứng không che phủ. Tuy nhiên, thời gian từ gieo đến thu hoạch của công thức có che phủ và không che phủ (đối chứng) có sự chênh lệch rõ ràng hơn so với trong vụ xuân (khoảng 8 - 10 ngày). Trong đó công thức 3 (che phủ bằng rơm rạ) có TGST tƣơng đƣơng so với công thức 2 (che phủ bằng ni lông) và ngắn hơn công thức 4 (che phủ bằng thân lá ngô) 2 ngày. 3.2.2. Ảnh hưởng của một số vật liệu che phủ đến nhiệt độ lớp đất canh tác Bảng 3.14. Ảnh hƣởng của một số vật liệu che phủ đến nhiệt độ lớp đất canh tác trong vụ xuân năm 2014 tại các điểm thí nghiệm* Đơn vị tính: oC Ngày sau gieo Công thức 15 30 45 60 75 90 105 Xã Phú Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa 1. Không phủ (đ/c) 14,1 16,0 19,4 22,4 23,2 26,2 28,1 2. Phủ ni lông 16,5 19,5 22,0 24,0 24,9 25,4 27,5 3. Phủ rơm rạ 16,2 19,1 21,8 23,8 24,6 25,3 27,2 4. Phủ thân, lá ngô 16,0 18,9 21,7 23,5 24,5 25,1 27,3 Không khí ** 16,9 20,4 22,6 24,7 26,5 28,6 30,1 Xã Yên Nhân, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định 1. Không phủ (đ/c) 14,0 16,8 19,0 21,7 23,0 25,9 26,5 2. Phủ ni lông 16,3 19,9 21,5 24,6 25,2 25,0 25,6 3. Phủ rơm rạ 16,1 19,6 21,3 24,2 25,0 24,8 25,3 4. Phủ thân, lá ngô 16,0 19,4 21,0 24,0 24,9 24,7 25,3 Không khí ** 16,8 20,2 22,8 25,0 26,7 28,5 29,8 Ghi chú: * gieo hạt ngày 10/2; ** Nhiệt độ không khí. 92 Số liệu ở bảng 3.14 cho thấy: Sau khi gieo hạt nhiệt độ trong đất ở các công thức tăng dần do thời tiết ngày càng ấm lên. Nhiệt độ ở các công thức đất đƣợc che phủ luôn cao hơn công thức 1 không che phủ từ 1,1 - 3,5oC tại điểm Thanh Hóa và từ 1,8 - 3,1 oC tại điểm Nam Định khi nhiệt độ không khí dƣới 28oC. Khi nhiệt độ không khí cao hơn 280C, nhiệt độ đất ở các công thức có che phủ luôn thấp hơn công thức 1 không che phủ từ 0,6 - 1,20C tại các điểm thí nghiệm. Nhiệt độ đất ở công thức đƣợc che phủ ni lông luôn cao hơn công thức đƣợc che phủ bằng rơm rạ và bằng thân lá ngô. Tuy nhiên, sự chênh lệch này không đáng kể. Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu của Choi, BH và Chung, KY (1997), A. Ramakrishna và cộng sự (2006), Hồ Khắc Minh (2014), Vƣơng Minh Diễn và Lê Quốc Thanh (2016). Bảng 3.15. Ảnh hƣởng của một số vật liệu che phủ đến nhiệt độ lớp đất canh tác trong vụ thu đông năm 2014 tại các điểm thí nghiệm* Đơn vị tính: oC Ngày sau gieo Công thức 15 30 45 60 75 90 Xã Phú Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa 1. Không phủ (đ/c) 25,9 23,0 21,7 20,3 17,7 15,2 2. Phủ ni lông 26,2 24,1 23,0 21,9 19,8 17,8 3. Phủ rơm rạ 26,4 24,0 22,8 21,8 19,5 17,6 4. Phủ thân, lá ngô 26,0 23,7 22,6 21,6 19,4 17,4 Không khí ** 26,8 25,2 24,1 23,7 21,3 19,5 Xã Yên Nhân, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định 1. Không phủ (đ/c) 26,3 24,0 22,5 20,2 17,2 15,3 2. Phủ ni lông 25,6 24,8 23,6 21,7 19,3 18,0 3. Phủ rơm rạ 25,3 24,8 23,2 21,6 19,0 17,7 4. Phủ thân, lá ngô 25,2 24,6 23,1 21,4 18,8 17,6 Không khí ** 28,4 26,7 25,3 23,6 21,5 20,1 Ghi chú: * thời gian gieo 30/8; ** Nhiệt độ không khí. 93 Tiếp tục thí nghiệm trong vụ thu đông 2014 cho thấy: ở đầu vụ gieo trồng không có sự khác biệt lớn về nhiệt độ đất giữa các công thức. Tuy nhiên, càng về cuối vụ khi nhiệt độ giảm dần thì các công thức có che phủ đã thể hiện đƣợc khả năng giữ nhiệt tốt hơn hẳn so với công thức đối chứng không che phủ. Nhƣ vậy, qua phân tích trên cho thấy việc sử dụng rơm rạ làm vật liệu che phủ cho sản xuất lạc có tác dụng tƣơng tự nhƣ che phủ ni lông trong việc điều hòa nhiệt độ đất, làm cho đất ấm hơn khi trời rét và mát hơn khi trời nóng. Bên cạnh đó, việc che phủ rơm rạ còn hạn chế tối đa sự xói mòn, rửa trôi và kích thích hệ vi sinh vật trong đất phát triển. Nhờ vậy, cây lạc luôn đƣợc tạo điều kiện sinh trƣởng, phát triển trong môi trƣờng thuận lợi. Đây là yếu tố quan trọng giúp cho cây đạt năng suất cao. 3.2.3. Ảnh hưởng của một số vật liệu che phủ đến độ ẩm lớp đất canh tác lạc Bảng 3.16. Ảnh hƣởng của một số vật liệu che phủ đến độ ẩm lớp đất canh tác trong vụ xuân năm 2014 tại các điểm thí nghiệm (%)* Ngày sau gieo Công thức 15 30 45 60 75 90 105 Xã Phú Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa 1. Không phủ (đ/c) 53,6 38,5 30,8 45,5 56,4 63,7 69,6 2. Phủ ni lông 66,4 54,4 42,5 57,8 69,3 75,0 76,1 3. Phủ rơm rạ 64,9 51,2 40,1 55,3 67,7 73,5 75,3 4. Phủ thân, lá ngô 60,6 47,7 38,7 54,9 64,5 71,8 72,2 Xã Yên Nhân, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định 1. Không phủ (đ/c) 55,6 41,6 33,3 51,3 58,7 66,2 71,5 2. Phủ ni lông 68,8 56,8 46,2 63,9 70,5 78,5 78,6 3. Phủ rơm rạ 66,3 54,7 44,6 62,0 69,0 76,9 78,0 4. Phủ thân, lá ngô 63,5 51,3 42,4 60,2 67,1 75,4 77,3 Ghi chú: * gieo hạt ngày 10/2; đo ở độ sâu 5 cm kể từ lớp đất mặt canh tác 94 Qua số liệu ở bảng 3.16 cho nhận xét sau: Trong điều kiện vụ xuân, sau khi gieo hạt, độ ẩm đất ở các công thức đều giảm một cách rõ rệt đến 45 ngày sau gieo. Từ sau gieo 60 ngày, do mùa mƣa đến cộng với sự phát triển của bộ tán lá giúp cây giảm sự bốc hơi nƣớc, làm tăng độ ẩm đất nên độ ẩm ở các công thức thí nghiệm tăng dần cho đến khi thu hoạch. Các công thức đƣợc che phủ đất đều có ẩm độ đất cao hơn so với công thức 1 không đƣợc che phủ đất từ 2,6 - 15,9% tại các điểm thí nghiệm. Công thức 3 phủ rơm rạ có ẩm độ đất thấp hơn công thức 2 phủ ni lông, nhƣng cao hơn công thức 4 (phủ thân lá ngô). Tuy nhiên, sự chênh lệch về độ ẩm giữa các công thức có che phủ không đáng kể. Kết quả này phù hợp với các công trình nghiên cứu của Surya và cộng sự (2000), A. Ramakrishna và cộng sự (2006), Vƣơng Minh Diễn và Lê Quốc Thanh (2016). Bảng 3.17. Ảnh hƣởng của một số vật liệu che phủ đến độ ẩm lớp đất canh tác trong vụ thu đông năm 2014 tại các điểm thí nghiệm (%) Ngày sau gieo Công thức 15 30 45 60 75 90 Xã Phú Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa 1. Không phủ (đ/c) 70,8 66,7 60,1 51,2 40,7 28,9 2. Phủ ni lông 75,4 72,7 66,4 59,9 52,9 45,7 3. Phủ rơm rạ 73,6 70,3 64,8 58,6 51,0 44,5 4. Phủ thân, lá ngô 72,9 68,3 63,7 56,5 49,6 43,4 Xã Yên Nhân, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định 1. Không phủ (đ/c) 72,2 67,3 61,6 53,6 44,3 31,5 2. Phủ ni lông 76,6 71,0 66,7 62,4 54,4 47,4 3. Phủ rơm rạ 75,2 70,6 65,3 60,7 53,5 45,6 4. Phủ thân, lá ngô 75,0 68,8 64,1 59,3 52,3 44,8 95 Tiếp tục thí nghiệm trong vụ thu đông 2014 kết quả cho thấy nhƣ sau: - Thời gian từ gieo đến thu hoạch ẩm độ đất có xu hƣớng giảm dần ở tất cả các công thức thí nghiệm. Tại điểm Thanh Hóa, độ ẩm đất giảm từ 70,8% sau 15 ngày gieo xuống còn 28,9% sau 90 ngày gieo ở công thức đối chứng, trong khi đó các công thức đƣợc che phủ đều đạt độ ẩm từ 43,4 - 45,7%. Tại Nam Định độ ẩm đất giảm từ 72,2% sau 15 ngày gieo xuống còn 31,5% sau 90 ngày gieo ở công thức đối chứng; trong khi đó các công thức đƣợc che phủ đều đạt độ ẩm từ 44,8 - 47,4%. Mức độ giảm độ ẩm đất ở đầu vụ diễn ra chậm hơn so với cuối vụ do thời điểm đầu vụ thu đông là cuối mùa mƣa. - Các công thức có che phủ luôn đảm bảo độ ẩm đất cao hơn công thức đối chứng không che phủ từ 1,6 - 16,8% tại các điểm thí nghiệm; sự chênh lệch càng rõ khi bƣớc vào cuối vụ. Trong đó biện pháp che phủ bằng rơm rạ luôn cho độ ẩm tƣơng đƣơng biện pháp che phủ bằng ni lông và cao hơn các công thức còn lại. 3.2.4. Ảnh hưởng của một số vật liệu che phủ đến một số tính chất hóa học đất trồng lạc Tại các tỉnh miền Bắc, lạc thƣờng đƣợc trồng trên đất có thành phần cơ giới nhẹ, ngh o dinh dƣỡng. Do vậy việc bồi bổ đất nhằm làm tăng độ phì có ý nghĩa quan trọng. Kết quả phân tích một số chỉ tiêu hoá học của đất trƣớc và sau thí nghiệm đƣợc trình bày ở bảng 3.18. Qua kết quả ở bảng 3.18 cho thấy: Tất cả các chỉ tiêu phân tích đất sau 4 vụ thí nghiệm gồm: độ chua (pHKCl), hàm lƣợng hữu cơ (OM %), đạm tổng số (N %), lân tổng số (P2O5 %), kali tổng số (K2O %), lân dễ tiêu (P2O5 mg/100g đất), dung tích hấp thu (CEC lđl/100g đất) sau thí nghiệm đều có xu hƣớng tăng so với thời điểm trƣớc thí nghiệm. Trong đó, công thức che phủ bằng rơm rạ và thân lá ngô đƣợc thể hiện rõ hơn các công thức còn lại. 96 Bảng 3.18. Ảnh hƣởng của một số vật liệu che phủ đến tính chất hóa học đất trƣớc và sau thí nghiệm* Chỉ tiêu Công thức pHKC l OM (%) N (%) P205 (%) K20 (%) P205 (mg/100g ) CEC (lđl/100g ) Xã Phú Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa Trƣớc thí nghiệm 5,23 1,51 0,077 0,052 0,45 9,32 6,77 1. Không phủ (đ/c) 5,30 1,95 0,079 0,053 0,58 9,89 7,32 2. Phủ ni lông 5,38 1,97 0,098 0,070 0,61 10,05 8,87 3. Phủ rơm rạ 5,85 2,38 0,152 0,075 0,98 12,53 11,58 4. Phủ thân, lá ngô 5,72 2,31 0,146 0,074 0,93 12,17 11,25 Xã Yên Nhân, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định Trƣớc thí nghiệm 5,63 1,84 0,132 0,075 0,97 11,66 9,86 1. Không phủ (đ/c) 5,68 2,25 0,133 0,078 1,23 12,97 10,83 2. Phủ ni lông 5,74 2,32 0,154 0,091 1,28 13,09 11,17 3. Phủ rơm rạ 6,23 2,61 0,179 0,099 1,53 15,35 15,32 4. Phủ thân, lá ngô 6,12 2,54 0,175 0,098 1,48 15,27 15,08 Ghi chú:
File đính kèm:
luan_an_nghien_cuu_ky_thuat_che_phu_rom_ra_trong_trong_lac_t.pdf
2. Luận án tom tat.pdf
3. Bao cao tom tat English (nộp VAAS).pdf
4. Trang thong tin tiếng Việt + Anh.pdf
5. Trang thong tin tiếng Việt + Anh.doc