Luận án Nghiên cứu kỹ thuật che phủ rơm rạ trong trồng lạc tại một số tỉnh miền Bắc Việt Nam

Luận án Nghiên cứu kỹ thuật che phủ rơm rạ trong trồng lạc tại một số tỉnh miền Bắc Việt Nam trang 1

Trang 1

Luận án Nghiên cứu kỹ thuật che phủ rơm rạ trong trồng lạc tại một số tỉnh miền Bắc Việt Nam trang 2

Trang 2

Luận án Nghiên cứu kỹ thuật che phủ rơm rạ trong trồng lạc tại một số tỉnh miền Bắc Việt Nam trang 3

Trang 3

Luận án Nghiên cứu kỹ thuật che phủ rơm rạ trong trồng lạc tại một số tỉnh miền Bắc Việt Nam trang 4

Trang 4

Luận án Nghiên cứu kỹ thuật che phủ rơm rạ trong trồng lạc tại một số tỉnh miền Bắc Việt Nam trang 5

Trang 5

Luận án Nghiên cứu kỹ thuật che phủ rơm rạ trong trồng lạc tại một số tỉnh miền Bắc Việt Nam trang 6

Trang 6

Luận án Nghiên cứu kỹ thuật che phủ rơm rạ trong trồng lạc tại một số tỉnh miền Bắc Việt Nam trang 7

Trang 7

Luận án Nghiên cứu kỹ thuật che phủ rơm rạ trong trồng lạc tại một số tỉnh miền Bắc Việt Nam trang 8

Trang 8

Luận án Nghiên cứu kỹ thuật che phủ rơm rạ trong trồng lạc tại một số tỉnh miền Bắc Việt Nam trang 9

Trang 9

Luận án Nghiên cứu kỹ thuật che phủ rơm rạ trong trồng lạc tại một số tỉnh miền Bắc Việt Nam trang 10

Trang 10

Tải về để xem bản đầy đủ

pdf 183 trang nguyenduy 31/08/2025 40
Bạn đang xem 10 trang mẫu của tài liệu "Luận án Nghiên cứu kỹ thuật che phủ rơm rạ trong trồng lạc tại một số tỉnh miền Bắc Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Luận án Nghiên cứu kỹ thuật che phủ rơm rạ trong trồng lạc tại một số tỉnh miền Bắc Việt Nam

Luận án Nghiên cứu kỹ thuật che phủ rơm rạ trong trồng lạc tại một số tỉnh miền Bắc Việt Nam
.7). 
Bảng 3.7. Đánh giá của các hộ dân về hiệu quả sử dụng rơm rạ 
che phủ cho cây trồng tại các tỉnh điều tra (%) 
Địa phƣơng 
Hiệu quả 
 thấp 
Hiệu quả 
 trung bình 
Hiệu quả 
rõ rệt 
1. Huyện Hiệp Hòa - Bắc Giang 3,7 21,5 74,8 
2. Huyện Việt Yên - Bắc Giang 4,1 26,0 69,9 
3. Huyện Ý Yên - Nam Định 6,3 40,4 53,3 
4. Huyện Vụ Bản - Nam Định 5,6 37,8 56,6 
5. Huyện Hậu Lộc - Thanh Hóa 2,8 31,9 65,3 
6. Huyện Hoằng Hóa - Thanh Hóa 3,4 35,0 61,6 
Trung bình 4,3 32,1 63,3 
Ghi chú: Hiệu quả thấp: năng suất cây trồng tăng < 5 % so với không che 
phủ; Hiệu quả trung bình: năng suất cây trồng tăng 5 - 10 % so với không che phủ; 
Hiệu quả rõ rệt: năng suất cây trồng tăng >10 % so với không che phủ. 
84 
3.1.1.5. Nhu cầu và khuynh hướng sử dụng rơm rạ trong sản xuất nông 
nghiệp của người dân tại các tỉnh điều tra 
Bảng 3.8. Nhu cầu sử dụng rơm rạ trong sản xuất nông nghiệp của các hộ 
nông dân trong những năm tiếp theo tại các tỉnh điều tra (%) 
Địa phƣơng 
Không 
có nhu 
cầu 
Có nhu cầu 
Cao Tr. bình Thấp 
1. Huyện Hiệp Hòa – Bắc Giang 56,6 18,5 17,8 7,1 
2. Huyện Việt Yên – Bắc Giang 52,5 15,3 26,0 6,2 
3. Huyện Ý Yên – Nam Định 66,3 18,9 10,3 4,5 
4. Huyện Vụ Bản – Nam Định 71,2 13,0 5,6 10,2 
5. Huyện Hậu Lộc – Thanh Hóa 48,7 23,5 21,5 6,3 
6. Huyện Hoằng Hóa – Thanh Hóa 56,2 20,8 14,8 8,2 
Trung bình 58,6 18,3 16,0 7,1 
Ghi chú: Nhu cầu cao: > 70% số hộ lựa chọn; Nhu cầu trung bình 50 - 70% 
số hộ lựa chọn; Nhu cầu thấp: < 50% số hộ lựa chọn. 
Số liệu ở bảng 3.8 cho thấy: trong 180 hộ đƣợc phỏng vấn có 58,6% số 
hộ không có nhu cầu sử dụng rơm rạ trong sản xuất ở những năm tiếp theo; 
51,4% số hộ còn lại có nhu cầu sử dụng với các mức độ khác nhau, trong đó 
số hộ có nhu cầu từ trung bình đến cao chiếm 34,3%. 
Các hình thức sử dụng rơm rạ tại các tỉnh miền Bắc trong vụ xuân và 
vụ đông vẫn khá đa dạng, phụ thuộc điều kiện canh tác của mỗi hộ cũng nhƣ 
tập quán canh tác tại mỗi địa phƣơng. Bên cạnh hình thức đốt rơm trực tiếp 
trên đồng ruộng vẫn chiếm tỷ lệ lớn (trung bình 58,6%) thì hình thức sử dụng 
rơm rạ phổ biến trong vụ xuân là vùi tại ruộng (22,2%), vụ mùa là tủ gốc cho 
cây trồng (11,3%) và phục vụ chăn nuôi (9,3%). Các hình thức còn lại chiếm 
tỷ lệ nhỏ (4,7 - 5,9%) (bảng 3.9). 
85 
Bảng 3.9. Khuynh hƣớng sử dụng rơm rạ của ngƣời dân trong 
 những năm tiếp theo tại các tỉnh điều tra 
Hình thức sử dụng 
Số hộ (%) 
Vụ Xuân Vụ Mùa Trung bình 
Đốt 45,3 71,8 58,6 
Vùi tại ruộng 22,2 2,3 12,3 
Che phủ cho cây trồng 8,8 11,3 10,1 
Chăn nuôi 7,9 9,3 8,6 
Ủ phân, than sinh học 9,5 2,2 5,9 
Khác (bán, làm nấm, đun..) 6,3 3,1 4,7 
Nguồn: Tổng hợp số liệu kết quả điều tra năm 2014 
3.1.2. Hiện trạng sử dụng rơm rạ làm vật liệu che phủ trong sản xuất lạc 
tại các tỉnh điều tra 
Kết quả điều tra các nguồn vật liệu che phủ trong sản xuất lạc tại các 
tỉnh Bắc Giang, Nam Định và Thanh Hóa đƣợc trình bày tại bảng 3.10. 
Bảng 3.10. Các nguồn vật liệu chính che phủ cho lạc tại các tỉnh điều tra (%) 
Vật liệu 
Địa phƣơng 
Ni lông 
chuyên dụng 
phủ lạc 
Rơm rạ, 
xác thực 
vật 
Màng phủ 
nông nghiệp, 
màng nhựa 
Vật liệu 
khác (hạt 
giữ ẩm) 
Bắc Giang 84,2 9,8 6,0 - 
Nam Định 87,4 5,5 3,7 3,4 
Thanh Hóa 77,8 12,7 7,2 2,3 
Trung bình 83,1 9,3 5,6 1,9 
Nguồn: Tổng hợp số liệu kết quả điều tra năm 2014 
86 
Số liệu ở bảng 3.10 cho thấy: tại các tỉnh điều tra vật liệu chính đƣợc sử 
dụng che phủ cho lạc là màng PE và ni lông chuyên dụng với tỷ lệ số hộ sử 
dụng đạt 83,1%, tiếp đến là xác hữu cơ, rơm rạ với tỷ lệ 9,3%; màng phủ 
nông nghiệp và màng nhựa chiếm 5,6%. Các vật liệu khác (hạt giữ ẩm, màng 
hóa học....) đƣợc sử dụng với tỷ lệ nhỏ (1,9%). 
Nhƣ vậy, cùng với sự phát triển của xã hội, đã xuất hiện nhiều giải pháp 
hơn trong việc chọn lựa các vật liệu che phủ cho cây lạc. Với những hạn chế và 
bất cập của việc sử dụng ni lông trong sản xuất lạc (yêu cầu điều kiện gieo 
trồng khắt khe, giá thành cao, tốn công lao động, gây ô nhiễm đất và môi 
trƣờng...) thì việc sử dụng rơm rạ để bổ sung nguồn vật liệu phủ có thể đƣợc 
coi nhƣ một giải pháp hữu hiệu cho sản xuất lạc tại các tỉnh miền Bắc. Tuy 
nhiên, thực trạng sản xuất cho thấy mức độ sử dụng của ngƣời nông dân tại các 
tỉnh vẫn còn thấp so với che phủ bằng ni lông. 
Bảng 3.11. Những nguyên nhân, hạn chế của việc sử dụng rơm rạ 
che phủ trong trồng lạc tại các tỉnh điều tra 
TT Nguyên nhân, 
hạn chế 
Đánh giá cụ thể Tỷ lệ 
đánh giá 
(%) 
1 Hạn chế về 
khoa học công 
nghệ 
- Chƣa đƣợc các cơ quan nghiên cứu một cách 
có hệ thống, bài bản. 
- Chƣa có nhiều các mô hình trình diễn, quảng 
bá để ngƣời dân thăm quan, học tập. 
- Chƣa đƣợc chuyển giao sâu rộng tới ngƣời 
nông dân...v.v 
29,9 
2 Hạn chế về 
nhận thức 
- Tập quán canh tác truyền thống (không phủ) 
- Sử dụng rơm rạ chủ yếu theo kinh nghiệm. 
- Trình độ nhận thức hạn chế (mới chỉ quan 
tâm đến yếu tố che phủ mà chƣa kết hợp đồng 
bộ với các yếu tố khác). 
- Tốn thời gian, không tiện lợi (so với che phủ 
bằng ni lông)...vv 
42,6 
87 
3 Hạn chế về 
chính sách 
- Công tác thông tin, tuyên truyền. 
- Các chính sách khuyến khích sản xuất nông 
nghiệp theo hƣớng hữu cơ, bền vững; sản xuất 
nông nghiệp theo hƣớng hàng hóa, tập trung. 
- Chính sách về tích tụ đất đai...v.v 
10,2 
4 Nguyên nhân 
khác (điều kiện 
đất đai, cơ sở 
vật chất, kinh 
tế các hộ ...) 
- Diện tích sản xuất lạc của mỗi hộ tại địa 
phƣơng còn ít, chƣa đƣợc tập trung. 
- Tốn công thu gom, vận chuyển và xử lý. 
- Thiếu các công cụ thu gom, vận chuyển...v.v 
17,3 
 Số liệu ở bảng 3.11 cho thấy: có nhiều nguyên nhân dẫn tới việc sử 
dụng rơm rạ trong trồng lạc tại các tỉnh còn chiếm tỷ lệ thấp so với biện pháp 
che phủ bằng ni lông. Trong đó các hạn chế về trình độ nhận thức (chỉ sử 
dụng rơm rạ theo kinh nghiệm mà không quan tâm kết hợp với các biện pháp 
kỹ thuật khác...) và các hạn chế về khoa học công nghệ là những nguyên nhân 
chính khiến cho kỹ thuật sử dụng rơm rạ trong trồng lạc chƣa thật sự phổ biến 
tại các tỉnh miền Bắc. 
Bảng 3.12. Hiệu quả của một số nguồn vật liệu che phủ 
trong sản xuất lạc vụ thu đông năm 2013 tại các tỉnh điều tra 
Tỉnh 
điều tra 
Biện pháp 
 kỹ thuật 
NS lạc 
tr.bình 
(tấn/ha) 
Tổng thu 
(tr. đ) 
Tổng 
chi 
(tr. đ) 
Lợi 
nhuận 
(tr. đ) 
Tăng 
so đ/c 
(tr. đ) 
Bắc 
Giang 
Không phủ (đ/c) 2,01 56,280 51,480 4,800 - 
Phủ ni lông 2,64 73,920 59,280 14,640 9,840 
Phủ rơm, xác TV 2,38 66,640 50,480 16,160 11,360 
Nam 
Định 
Không phủ (đ/c) 2,46 68,880 51,480 17,400 - 
Phủ ni lông 3,34 93,520 59,280 34,240 16,840 
Phủ rơm, xác TV 3,06 85,680 50,480 35,200 17,800 
Thanh 
Hóa 
Không phủ (đ/c) 2,15 60,200 51,480 8,720 - 
Phủ ni lông 2,84 79,520 59,280 20,240 11,520 
Phủ rơm, xác TV 2,53 70,840 50,480 20,360 11,640 
88 
 Ghi chú: 
- NS lạc trung bình lấy thống kê tại các huyện điều tra, vụ thu đông năm 2013. 
- Vụ thu đông năm 2013, giá lạc (bán giống): 25.000 đ/kg; đạm urê: 10.000 đ/kg, 
lân super: 4000 đ/kg, kali clorua: 12.000 đ/kg, phân HCVS sông Gianh 3000 đ/kg, vôi 
bột 1000 đ/kg, thuốc BVTV: 750.000 đ/ha, công lao động: 110.000 đ/công. 
 Số liệu ở bảng 3.12 cho thấy: 
Biện pháp che phủ cho lạc đã làm tăng năng suất lạc đáng kể và cho 
hiệu quả kinh tế cao hơn đối chứng một cách rõ rệt. Theo đó biện pháp che 
phủ bằng ni lông và che phủ bằng rơm rạ cho hiệu quả kinh tế tƣơng đƣơng. 
Điều này lý giải nguyên nhân phần lớn tỷ lệ ngƣời dân chọn lựa ni lông để 
che phủ cho lạc (do hiệu quả và đƣợc các cơ quan nghiên cứu, chuyển giao 
khuyến cáo trong nhiều năm). Trong khi việc sử dụng rơm rạ thƣờng đƣợc áp 
dụng theo kinh nghiệm mà chƣa có quy trình hƣớng dẫn cụ thể, lƣợng che 
phủ còn thấp và chƣa đáp ứng yêu cầu kỹ thuật nhằm giữ nhiệt, giữ ẩm đất, 
hạn chế sâu bệnh hại và đảm bảo sự sinh trƣởng, phát triển và tạo năng suất 
cây lạc về sau. 
 Tóm lại: 
Nguồn rơm rạ từ sản xuất nông nghiệp tại các tỉnh có diện tích trồng 
lạc chính (Bắc Giang, Nam Định, Thanh Hóa) ở miền Bắc rất lớn (2,941 triệu 
tấn). Các hình thức sử dụng chủ yếu hiện nay là đốt (54,8%), vùi tại ruộng 
(12,1%), phục vụ chăn nuôi (11,7%) và che phủ cho cây trồng (8,8%). Các 
hình thức sử dụng còn lại chiếm tỷ lệ nhỏ. 
 Phần lớn số hộ nông dân (86,2%) tại các tỉnh điều tra không xử lý hoặc 
xử lý đơn giản nguồn rơm rạ sẵn có trong sản xuất. Các biện pháp xử lý chủ 
yếu là thu gom, phơi, đánh đống, băm nhỏ. Các hình thức xử lý hóa học và 
sinh học chiếm tỷ lệ nhỏ (13,8%). 
89 
Việc sử dụng rơm rạ che phủ cho cây trồng được đa số người dân đánh 
giá cao về tác dụng và hiệu quả (63,3% số hộ). Tuy nhiên, do nhiều nguyên 
nhân khác nhau (trình độ nhận thức, điều kiện nông hộ, cơ chế chính sách, 
khoa học công nghệ...) khiến rơm rạ được sử dụng ngày càng giảm, hình thức 
đốt tại ruộng có xu thế gia tăng tại các tỉnh điều tra (từ 54,8% lên 58,6%). 
 Các nguồn vật liệu chính che phủ cho lạc tại các tỉnh miền Bắc chủ yếu 
là ni lông (83,1%) và rơm rạ (9,3%). Theo đánh giá, hiệu quả trong sản xuất 
của hai loại vật liệu này tương đương nhau. Tuy nhiên, hiện nay rơm rạ chưa 
được sử dụng phổ biến trong trồng lạc do người nông dân mới chỉ quan tâm 
đến việc che phủ mà chưa kết hợp đồng bộ với các biện pháp kỹ thuật khác. 
Bên cạnh đó việc chưa được nghiên cứu một cách bài bản, có hệ thống và 
chuyển giao sâu rộng đến người nông dân cùng với các hạn chế khác về 
chính sách, điều kiện đất đai và kinh tế nông hộ tại các địa phương cũng là 
những nguyên nhân dẫn tới thực trạng trên. 
90 
3.2. Ảnh hƣởng của một số vật liệu che phủ trong trồng lạc tại một số 
tỉnh phía Bắc 
3.2.1. Ảnh hưởng của một số vật liệu che phủ đến thời gian sinh trưởng 
của cây lạc 
Bảng 3.13. Ảnh hƣởng của một số vật liệu che phủ đến thời gian 
sinh trƣởng của giống lạc L14 (ngày)* 
Chỉ 
 tiêu 
Công thức 
Vụ xuân Vụ thu đông 
Thời gian từ gieo đến... 
Mọc Ra hoa Thu 
hoạch 
Mọc Ra hoa Thu 
hoạch 
Xã Phú Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa 
1. Không phủ (đ/c) 10 45 128 7 36 106 
2. Phủ ni lông 8 43 122 7 35 97 
3. Phủ rơm rạ 8 42 122 7 35 97 
4. Phủ thân, lá ngô 9 42 123 7 35 99 
Xã Yên Nhân, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định 
1. Không phủ (đ/c) 10 46 130 7 35 108 
2. Phủ ni lông 8 44 125 7 34 100 
3. Phủ rơm rạ 9 44 125 7 34 101 
4. Phủ thân, lá ngô 9 45 126 7 35 103 
 Ghi chú:
* 
 Số liệu trung bình 2 vụ xuân và 2 vụ thu đông 2014 - 2015 
Số liệu tổng hợp ở bảng 3.13 cho thấy: 
Trong điều kiện vụ xuân, việc sử dụng các vật liệu che phủ đất đều ảnh 
hƣởng rõ rệt đến thời gian sinh trƣởng của giống lạc L14 qua các thời kỳ. Qua 
đó việc che phủ đất làm rút ngắn thời gian mọc và ra hoa từ 1 - 2 ngày, rút 
ngắn thời gian thu hoạch từ 4 - 6 ngày. Sự khác nhau giữa hai loại vật liệu ni 
lông và xác thực vật (rơm rạ, thân lá ngô) đối với thời gian sinh trƣởng của 
cây lạc thí nghiệm không đáng kể. 
91 
Trong vụ thu đông, việc sử dụng các vật liệu che phủ khác nhau không 
ảnh hƣởng nhiều đến thời gian từ gieo đến mọc, từ gieo đến ra hoa khi so sánh 
với công thức đối chứng không che phủ. Tuy nhiên, thời gian từ gieo đến thu 
hoạch của công thức có che phủ và không che phủ (đối chứng) có sự chênh 
lệch rõ ràng hơn so với trong vụ xuân (khoảng 8 - 10 ngày). Trong đó công 
thức 3 (che phủ bằng rơm rạ) có TGST tƣơng đƣơng so với công thức 2 (che 
phủ bằng ni lông) và ngắn hơn công thức 4 (che phủ bằng thân lá ngô) 2 ngày. 
3.2.2. Ảnh hưởng của một số vật liệu che phủ đến nhiệt độ lớp đất canh tác 
Bảng 3.14. Ảnh hƣởng của một số vật liệu che phủ đến nhiệt độ lớp đất 
canh tác trong vụ xuân năm 2014 tại các điểm thí nghiệm* 
Đơn vị tính: oC 
Ngày sau gieo 
Công thức 
15 
30 
45 
60 
75 
90 
105 
Xã Phú Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa 
1. Không phủ (đ/c) 14,1 16,0 19,4 22,4 23,2 26,2 28,1 
2. Phủ ni lông 16,5 19,5 22,0 24,0 24,9 25,4 27,5 
3. Phủ rơm rạ 16,2 19,1 21,8 23,8 24,6 25,3 27,2 
4. Phủ thân, lá ngô 16,0 18,9 21,7 23,5 24,5 25,1 27,3 
Không khí 
** 
16,9 20,4 22,6 24,7 26,5 28,6 30,1 
Xã Yên Nhân, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định 
1. Không phủ (đ/c) 14,0 16,8 19,0 21,7 23,0 25,9 26,5 
2. Phủ ni lông 16,3 19,9 21,5 24,6 25,2 25,0 25,6 
3. Phủ rơm rạ 16,1 19,6 21,3 24,2 25,0 24,8 25,3 
4. Phủ thân, lá ngô 16,0 19,4 21,0 24,0 24,9 24,7 25,3 
Không khí 
**
 16,8 20,2 22,8 25,0 26,7 28,5 29,8 
Ghi chú:
*
 gieo hạt ngày 10/2; ** Nhiệt độ không khí. 
92 
Số liệu ở bảng 3.14 cho thấy: 
Sau khi gieo hạt nhiệt độ trong đất ở các công thức tăng dần do thời tiết 
ngày càng ấm lên. Nhiệt độ ở các công thức đất đƣợc che phủ luôn cao hơn 
công thức 1 không che phủ từ 1,1 - 3,5oC tại điểm Thanh Hóa và từ 1,8 - 
3,1
oC tại điểm Nam Định khi nhiệt độ không khí dƣới 28oC. Khi nhiệt độ 
không khí cao hơn 280C, nhiệt độ đất ở các công thức có che phủ luôn thấp 
hơn công thức 1 không che phủ từ 0,6 - 1,20C tại các điểm thí nghiệm. 
Nhiệt độ đất ở công thức đƣợc che phủ ni lông luôn cao hơn công thức 
đƣợc che phủ bằng rơm rạ và bằng thân lá ngô. Tuy nhiên, sự chênh lệch này 
không đáng kể. Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu của Choi, BH và 
Chung, KY (1997), A. Ramakrishna và cộng sự (2006), Hồ Khắc Minh 
(2014), Vƣơng Minh Diễn và Lê Quốc Thanh (2016). 
Bảng 3.15. Ảnh hƣởng của một số vật liệu che phủ đến nhiệt độ lớp đất 
canh tác trong vụ thu đông năm 2014 tại các điểm thí nghiệm* 
Đơn vị tính: oC 
Ngày sau gieo 
Công thức 
15 30 45 60 75 90 
Xã Phú Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa 
1. Không phủ (đ/c) 25,9 23,0 21,7 20,3 17,7 15,2 
2. Phủ ni lông 26,2 24,1 23,0 21,9 19,8 17,8 
3. Phủ rơm rạ 26,4 24,0 22,8 21,8 19,5 17,6 
4. Phủ thân, lá ngô 26,0 23,7 22,6 21,6 19,4 17,4 
Không khí 
**
 26,8 25,2 24,1 23,7 21,3 19,5 
Xã Yên Nhân, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định 
1. Không phủ (đ/c) 26,3 24,0 22,5 20,2 17,2 15,3 
2. Phủ ni lông 25,6 24,8 23,6 21,7 19,3 18,0 
3. Phủ rơm rạ 25,3 24,8 23,2 21,6 19,0 17,7 
4. Phủ thân, lá ngô 25,2 24,6 23,1 21,4 18,8 17,6 
Không khí 
**
 28,4 26,7 25,3 23,6 21,5 20,1 
Ghi chú: 
*
 thời gian gieo 30/8; ** Nhiệt độ không khí. 
93 
Tiếp tục thí nghiệm trong vụ thu đông 2014 cho thấy: ở đầu vụ gieo 
trồng không có sự khác biệt lớn về nhiệt độ đất giữa các công thức. Tuy 
nhiên, càng về cuối vụ khi nhiệt độ giảm dần thì các công thức có che phủ đã 
thể hiện đƣợc khả năng giữ nhiệt tốt hơn hẳn so với công thức đối chứng 
không che phủ. 
Nhƣ vậy, qua phân tích trên cho thấy việc sử dụng rơm rạ làm vật liệu 
che phủ cho sản xuất lạc có tác dụng tƣơng tự nhƣ che phủ ni lông trong việc 
điều hòa nhiệt độ đất, làm cho đất ấm hơn khi trời rét và mát hơn khi trời 
nóng. Bên cạnh đó, việc che phủ rơm rạ còn hạn chế tối đa sự xói mòn, rửa 
trôi và kích thích hệ vi sinh vật trong đất phát triển. Nhờ vậy, cây lạc luôn 
đƣợc tạo điều kiện sinh trƣởng, phát triển trong môi trƣờng thuận lợi. Đây là 
yếu tố quan trọng giúp cho cây đạt năng suất cao. 
3.2.3. Ảnh hưởng của một số vật liệu che phủ đến độ ẩm lớp đất canh tác lạc 
Bảng 3.16. Ảnh hƣởng của một số vật liệu che phủ đến độ ẩm lớp đất 
canh tác trong vụ xuân năm 2014 tại các điểm thí nghiệm (%)* 
Ngày sau gieo 
Công thức 
15 
30 
45 
60 
75 
90 
105 
Xã Phú Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa 
1. Không phủ (đ/c) 53,6 38,5 30,8 45,5 56,4 63,7 69,6 
2. Phủ ni lông 66,4 54,4 42,5 57,8 69,3 75,0 76,1 
3. Phủ rơm rạ 64,9 51,2 40,1 55,3 67,7 73,5 75,3 
4. Phủ thân, lá ngô 60,6 47,7 38,7 54,9 64,5 71,8 72,2 
Xã Yên Nhân, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định 
1. Không phủ (đ/c) 55,6 41,6 33,3 51,3 58,7 66,2 71,5 
2. Phủ ni lông 68,8 56,8 46,2 63,9 70,5 78,5 78,6 
3. Phủ rơm rạ 66,3 54,7 44,6 62,0 69,0 76,9 78,0 
4. Phủ thân, lá ngô 63,5 51,3 42,4 60,2 67,1 75,4 77,3 
Ghi chú: 
* gieo hạt ngày 10/2; đo ở độ sâu 5 cm kể từ lớp đất mặt canh tác 
94 
Qua số liệu ở bảng 3.16 cho nhận xét sau: 
Trong điều kiện vụ xuân, sau khi gieo hạt, độ ẩm đất ở các công thức 
đều giảm một cách rõ rệt đến 45 ngày sau gieo. Từ sau gieo 60 ngày, do mùa 
mƣa đến cộng với sự phát triển của bộ tán lá giúp cây giảm sự bốc hơi nƣớc, 
làm tăng độ ẩm đất nên độ ẩm ở các công thức thí nghiệm tăng dần cho đến khi 
thu hoạch. 
Các công thức đƣợc che phủ đất đều có ẩm độ đất cao hơn so với công 
thức 1 không đƣợc che phủ đất từ 2,6 - 15,9% tại các điểm thí nghiệm. Công 
thức 3 phủ rơm rạ có ẩm độ đất thấp hơn công thức 2 phủ ni lông, nhƣng cao 
hơn công thức 4 (phủ thân lá ngô). Tuy nhiên, sự chênh lệch về độ ẩm giữa 
các công thức có che phủ không đáng kể. Kết quả này phù hợp với các công 
trình nghiên cứu của Surya và cộng sự (2000), A. Ramakrishna và cộng sự 
(2006), Vƣơng Minh Diễn và Lê Quốc Thanh (2016). 
Bảng 3.17. Ảnh hƣởng của một số vật liệu che phủ đến độ ẩm lớp đất 
canh tác trong vụ thu đông năm 2014 tại các điểm thí nghiệm (%) 
Ngày sau gieo 
Công thức 
15 
30 
45 
60 
75 
90 
Xã Phú Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa 
1. Không phủ (đ/c) 70,8 66,7 60,1 51,2 40,7 28,9 
2. Phủ ni lông 75,4 72,7 66,4 59,9 52,9 45,7 
3. Phủ rơm rạ 73,6 70,3 64,8 58,6 
51,0 44,5 
4. Phủ thân, lá ngô 72,9 68,3 63,7 56,5 
49,6 43,4 
Xã Yên Nhân, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định 
1. Không phủ (đ/c) 72,2 67,3 61,6 53,6 44,3 31,5 
2. Phủ ni lông 76,6 71,0 66,7 62,4 54,4 47,4 
3. Phủ rơm rạ 75,2 70,6 65,3 60,7 
53,5 45,6 
4. Phủ thân, lá ngô 75,0 68,8 64,1 59,3 
52,3 44,8 
95 
Tiếp tục thí nghiệm trong vụ thu đông 2014 kết quả cho thấy nhƣ sau: 
- Thời gian từ gieo đến thu hoạch ẩm độ đất có xu hƣớng giảm dần ở tất 
cả các công thức thí nghiệm. Tại điểm Thanh Hóa, độ ẩm đất giảm từ 70,8% 
sau 15 ngày gieo xuống còn 28,9% sau 90 ngày gieo ở công thức đối chứng, 
trong khi đó các công thức đƣợc che phủ đều đạt độ ẩm từ 43,4 - 45,7%. Tại 
Nam Định độ ẩm đất giảm từ 72,2% sau 15 ngày gieo xuống còn 31,5% sau 
90 ngày gieo ở công thức đối chứng; trong khi đó các công thức đƣợc che phủ 
đều đạt độ ẩm từ 44,8 - 47,4%. Mức độ giảm độ ẩm đất ở đầu vụ diễn ra chậm 
hơn so với cuối vụ do thời điểm đầu vụ thu đông là cuối mùa mƣa. 
- Các công thức có che phủ luôn đảm bảo độ ẩm đất cao hơn công thức 
đối chứng không che phủ từ 1,6 - 16,8% tại các điểm thí nghiệm; sự chênh lệch 
càng rõ khi bƣớc vào cuối vụ. Trong đó biện pháp che phủ bằng rơm rạ luôn 
cho độ ẩm tƣơng đƣơng biện pháp che phủ bằng ni lông và cao hơn các công 
thức còn lại. 
3.2.4. Ảnh hưởng của một số vật liệu che phủ đến một số tính chất hóa học 
đất trồng lạc 
Tại các tỉnh miền Bắc, lạc thƣờng đƣợc trồng trên đất có thành phần cơ 
giới nhẹ, ngh o dinh dƣỡng. Do vậy việc bồi bổ đất nhằm làm tăng độ phì có 
ý nghĩa quan trọng. Kết quả phân tích một số chỉ tiêu hoá học của đất trƣớc và 
sau thí nghiệm đƣợc trình bày ở bảng 3.18. 
Qua kết quả ở bảng 3.18 cho thấy: Tất cả các chỉ tiêu phân tích đất sau 
4 vụ thí nghiệm gồm: độ chua (pHKCl), hàm lƣợng hữu cơ (OM %), đạm tổng 
số (N %), lân tổng số (P2O5 %), kali tổng số (K2O %), lân dễ tiêu (P2O5 
mg/100g đất), dung tích hấp thu (CEC lđl/100g đất) sau thí nghiệm đều có xu 
hƣớng tăng so với thời điểm trƣớc thí nghiệm. Trong đó, công thức che phủ 
bằng rơm rạ và thân lá ngô đƣợc thể hiện rõ hơn các công thức còn lại. 
96 
Bảng 3.18. Ảnh hƣởng của một số vật liệu che phủ đến 
tính chất hóa học đất trƣớc và sau thí nghiệm* 
Chỉ tiêu 
Công thức 
pHKC
l 
OM 
(%) 
N 
(%) 
P205 
(%) 
K20 
(%) 
P205 
(mg/100g
) 
CEC 
(lđl/100g
) 
Xã Phú Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa 
Trƣớc thí nghiệm 5,23 1,51 0,077 0,052 0,45 9,32 6,77 
1. Không phủ (đ/c) 5,30 1,95 0,079 0,053 0,58 9,89 7,32 
2. Phủ ni lông 5,38 1,97 0,098 0,070 0,61 10,05 8,87 
3. Phủ rơm rạ 5,85 2,38 0,152 0,075 0,98 12,53 11,58 
4. Phủ thân, lá ngô 5,72 2,31 0,146 0,074 0,93 12,17 11,25 
Xã Yên Nhân, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định 
Trƣớc thí nghiệm 5,63 1,84 0,132 0,075 0,97 11,66 9,86 
1. Không phủ (đ/c) 5,68 2,25 0,133 0,078 1,23 12,97 10,83 
2. Phủ ni lông 5,74 2,32 0,154 0,091 1,28 13,09 11,17 
3. Phủ rơm rạ 6,23 2,61 0,179 0,099 1,53 15,35 15,32 
4. Phủ thân, lá ngô 6,12 2,54 0,175 0,098 1,48 15,27 15,08 
Ghi chú: 

File đính kèm:

  • pdfluan_an_nghien_cuu_ky_thuat_che_phu_rom_ra_trong_trong_lac_t.pdf
  • pdf2. Luận án tom tat.pdf
  • pdf3. Bao cao tom tat English (nộp VAAS).pdf
  • pdf4. Trang thong tin tiếng Việt + Anh.pdf
  • doc5. Trang thong tin tiếng Việt + Anh.doc