Luận án Nghiên cứu một số biện pháp kĩ thuật canh tác có hiệu quả cho lúa thuần trên đất xám bạc màu Bắc Giang

Trang 1

Trang 2

Trang 3

Trang 4

Trang 5

Trang 6

Trang 7

Trang 8

Trang 9

Trang 10
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 10 trang mẫu của tài liệu "Luận án Nghiên cứu một số biện pháp kĩ thuật canh tác có hiệu quả cho lúa thuần trên đất xám bạc màu Bắc Giang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Luận án Nghiên cứu một số biện pháp kĩ thuật canh tác có hiệu quả cho lúa thuần trên đất xám bạc màu Bắc Giang

au sẽ tốt hơn. Năng suất lúa cấy trên đất xám bạc màu địa hình vàn giữa các hộ điều tra khá ổn định, độ lệch chuẩn bình quân không vượt quá 6 tạ/ha. Kết quả so sánh 3 công thức trồng 3 vụ so với công thức trồng 2 vụ lúa cho thấy việc tăng vụ đông có tác dụng tăng năng suất ở 2 vụ lúa. Trong vụ đông, có 3 loại cây trồng chính được trồng trên địa hình vàn trên đất xám bạc màu là: Ngô, khoai lang và khoai tây. Trong đó năng suất ngô đạt 48,2 tạ/ha, khoai lang đạt 126,5 tạ/ha và khoai tây đạt 121,8 tạ/ha. Khoai tây, khoai lang ở đây giữa các hộ điều tra thấy năng suất khá ổn định và năng suất cây ngô đông thì ít ổn định hơn. Bảng: 3.4: Hiệu quả kinh tế của hệ thống cây trồng trên đất xám bạc màu địa hình vàn Hệ thống cây trồng Tổng thu (triệu đồng/ha) Tổng chi (triệu đồng/ha) Lợi nhuận (triệu đồng/ha) So sánh (%) Đánh giá Lúa xuân – lúa mùa 55,7 37,2 18,5 100,0 Thấp Lúa xuân – Lúa mùa – Ngô đông 78,4 52,8 26,1 141,1 Thấp Lúa xuân – Lúa mùa – Khoai lang 120,9 62,1 58,8 317,8 Cao Lúa xuân – lúa mùa – Khoai tây 146,7 86,6 60,1 324,9 Cao 64 Kết quả nghiên cứu ở bảng 3.4 cho thấy: Trên đất xám bạc màu địa hình vàn ở Hiệp Hòa trồng 2 vụ lúa đạt lợi nhuận thấp nhất. Nếu tăng thêm một vụ ngô đông thì lợi nhuận tuy có tăng nhưng không đáng kể. Nếu thay cây ngô thành cây khoai lang hoặc khoai tây thì lợi nhuận tăng lên gấp 3 lần so với chỉ cấy 2 vụ lúa. Trên quỹ đất xám bạc màu địa hình vàn ở Hiệp Hòa với diện tích 5.104 ha có đủ điều kiện để sản xuất 2 vụ lúa cho năng suất khá và 1 vụ đông trồng 1 trong 2 cây là khoai lang và khoai tây có lợi nhuận cao, phát triển bền vững về xã hội và môi trường. 3.1.1.3. Hệ thống cây trồng trên đất xám bạc màu địa hình vàn thấp ở Hiệp Hòa Quỹ đất xám bạc màu địa hình vàn thấp ở Hiệp Hòa có đặc điểm là đủ nước vào mùa khô và dư thừa nước vào mùa mưa. Những năm trước đây, trên quỹ đất xám bạc màu địa hình thấp thường cấy 1 vụ lúa chiêm xuân còn vụ mùa và vụ đông không trồng trọt. Những năm gần đây, hệ thống tiêu nước phát triển, nhiều trạm bơm tiêu được xây dựng và hình thành hệ thống trồng trọt 2 vụ lúa. Kết quả điều tra năm 2013 về thực trạng hệ thống trồng trọt trên quỹ đất xám bạc màu địa hình thấp ở Hiệp Hòa được trình bày ở bảng 3.5. Bảng 3.5: Kết quả sản xuất trên quỹ đất xám bạc màu địa hình thấp Hệ thống cây trồng Năng suất (tạ/ha) Vụ 1 Vụ 2 Lúa xuân – không sản xuất 47,2 + 2,6 - Lúa xuân – Lúa mùa 51,1 + 4,7 46,2 + 15,8 Nuôi cá thâm canh 44,2 + 8,2 - Đất xám bạc màu địa hình vàn thấp ở Hiệp Hòa có 364 ha, hiện có 3 loại hình canh tác: Sản xuất 1 vụ lúa xuân và bỏ hóa vụ mùa, năng suất lúa đạt 47,2 tạ/ha. Ở những nơi hệ thống tiêu chủ động thường sản xuất 2 vụ lúa xuân và mùa trong đó vụ xuân năng suất đạt 51,1 tạ/ha và khá ổn định nhưng năng suất lúa vụ mùa thấp (chỉ đạt 46,2 tạ/ha) và năng suất không ổn định giữa các hộ sản xuất (Sx là 15,8 tạ/ha). Năng suất lúa ở đây thấp là do đất trũng nên canh tác lúa gặp rất nhiều khó khăn: Sử dụng giống phù hợp, hiệu quả bón phân cho lúa thấp, cây luôn trong 65 tình trạng ngập nước nên sinh trưởng phát triển kém Hệ thống sản xuất chuyên cá đạt năng suất cá thịt là 44,2 tạ/ha và giữa các hộ nuôi cá có năng suất khác nhau không nhiều. Bảng 3.6: Hiệu quả kinh tế của các hệ thống sản xuất trên đất xám bạc màu địa hình vàn thấp Đơn vị: Triệu đồng/ha STT Hệ thống sản xuất Tổng thu Tổng chi Lợi nhuận Đánh giá 1 Một vụ lúa 22,4 14,2 8,2 Thấp 2 Lúa xuân – Lúa mùa 39,1 26,1 13,0 Thấp 3 Nuôi cá thâm canh 201,0 98,2 102,8 Cao Kết quả nghiên cứu bảng 3.6 cho thấy: Trên quỹ đất xám bạc màu địa hình thấp ở Hiệp Hòa, khi sản xuất lúa 1 vụ hay 2 vụ đều cho hiệu quả kinh tế thấp (8,2 - 13,0 triệu đồng/ha). Nếu chuyển sang nuôi cá thâm canh thì lợi nhuận đạt rất cao (102,8 triệu đồng/ha). Kết quả điều tra cho thấy rằng công thức sản xuất 1 vụ lúa xuân thì rất lãng phí quỹ đất và lao động dư thừa; Nếu sản xuất 2 vụ lúa thì năng suất lúa vụ mùa thấp và không ổn định, chi phí thủy lợi rất cao; Công thức nuôi cá thâm canh có một số lợi ích sau: + Tạo việc làm quanh năm cho nông dân. + Lợi nhuận cao. + Biến quỹ đất trũng thành hồ trữ nước ngọt không gây áp lực về ngập lụt cho dân vùng thấp khi mưa lớn. Hồ nước vừa nuôi cá, vừa hình thành khu giải trí. Từ kết quả nghiên cứu ở mục 3.1.1 cho thấy: - Trên quỹ đất xám bạc màu ở Hiệp Hòa, lợi thế về sản xuất lúa là đất vàn (có năng suất cao), tiếp theo là đất vàn cao còn đất trũng không có lợi thế (năng suất thấp) trong sản xuất lúa. 66 - Mặc dù một số công thức luân canh có hiệu quả kinh tế cao nhưng người dân vẫn áp dụng các công thức có hiệu quả trung bình và thấp vì một số nguyên nhân khác nhau: Lo ngại về đầu ra, thiếu điều kiện vật chất sản xuất nên chưa mạnh dạn đầu tư, do nhận thức chưa đầy đủ, còn sản xuất theo tập quán, diện tích manh mún nên họ chỉ sản xuất tự cung tự cấp (ngô để làm thức ăn cho chăn nuôi hộ gia đình) 3.1.2. cơ cấu sử dụng giống lúa ở Hiệp Hòa Giống là một trong những yếu tố quan trọng trong nâng cao năng suất cây trồng nói chung và sản xuất lúa nói riêng. Nếu sử dụng giống có tiềm năng năng suất cao, phù hợp với điều kiện sản xuất của vùng thì làm tăng hiệu quả và ngược lại. Kết quả diều tra thực trạng sử dụng giống của người nông dân ở Hiệp Hòa – Bắc Giang năm 2013 cho thấy: Bảng 3.7. Thực trạng sử dụng giống lúa vùng nghiên cứu năm 2013 TT Địa hình Vụ sản xuất Giống Vàn cao (% diện tích) Vàn (% diện tích) Vàn thấp (% diện tích) Trung bình (% diện tích) Vụ xuân Vụ mùa Vụ xuân Vụ mùa Vụ xuân Vụ mùa Vụ xuân Vụ mùa 1 KD18 71,2 79,6 75,6 81,2 64,7 67,4 70,5 76,1 2 Q5 3,8 2,5 3,6 2,7 0 0 2,5 1,7 3 Nếp 4,7 3,4 3,7 3,1 7,8 9,3 5,4 5,3 4 Bắc Thơm số 7 6,2 5,1 7,2 6,5 9,5 11,2 7,6 7,6 5 Hương Thơm 2,8 2,3 3,4 2,6 5,4 6,8 3,9 3,9 6 Lúa lai (syn6, HKT99, TH3 - 3, Thục Hưng) 7,4 5,5 2,8 1,5 5,1 0 5,1 2,3 7 Giống khác (Thiên Ưu, CR203, C70, Mộc Tuyền) 3,9 1,6 3,7 2,4 7,5 5,3 5,0 3,1 Tổng 100 100 100 100 100 100 100 100 67 Ở cả chân đất vàn cao, vàn và vàn thấp người nông dân chủ yếu cấy giống lúa thuần KD18 (64,7 – 81,2% diện tích). Với lúa chất lượng thì giống Bắc Thơm số 7 được người dân ưu tiên sử dụng và chiếm 5,1 – 11,2% diện tích gieo cấy, sau đó đến một số giống lúa nếp (nếp 97, nếp Lang Liêu, nếp cái Hoa vàng) và lúa Hương Thơm. Ngoài ra người dân cũng gieo cấy một số giống lúa lai với diện tích nhiều nhất cũng chỉ đạt 7,4% trên đất vàn cao vào vụ xuân: Syn6, HKT99, TH3 - 3, Thục Hưng nhưng chủ yếu do được Nhà nước hỗ trợ giá giống vì giá của giống lúa lai rất cao (có khi lên đến 160.000 đ/kg), trong khi giá của giống lúa KD18 chỉ 16.000 – 18.000đ/kg. Tính trung bình trên cả 3 chân đất thì diện tích lúa thuần vẫn chiếm tỉ trọng lớn ở cả vụ xuân (94,9% diện tích) và vụ mùa (97,7% diện tích) trong đó chủ yếu là Khang dân 18 với 70,5 diện tích ở vụ xuân và 76,1% diện tích ở vụ mùa. Như vậy, mặc dù trên địa bàn huyện Hiệp Hòa gieo cấy rất nhiều loại giống nhưng người dân vẫn ưu tiên cấy giống Khang Dân 18 là chủ yếu vì họ cho rằng đây là giống có năng suất khá cao và ổn định, dễ chăm sóc, giá giống rẻ và chủ động ở cả vụ xuân và vụ mùa. Vấn đề ở đây là KD18 có phải được sử dụng nhiều là do thói quen của người dân hay không? Ngoài KD 18 thì có giống lúa nào khác cho hiệu quả cao hơn trong sản xuất và đáp ứng được yêu cầu cũng như phù hợp với điều kiện canh tác của người dân địa phương hay không? Đề tài nghiên cứu này sẽ giải quyết vấn đề đặt ra. 3.1.3. Biện pháp kĩ thuật canh tác lúa trên đất xám bạc màu ở Hiệp Hòa * Thời vụ cấy: Hiện tại, ở Hiệp Hòa – Bắc Giang chỉ cấy lúa trong hai vụ là: vụ xuân và vụ mùa. + Vụ xuân: Gieo mạ từ 25/1 – 10/2; cấy: 15 – 25/2; thu hoạch: 10 – 26/6. + Vụ mùa; Gieo mạ từ 10 – 25/6; cấy 20/6 – 10/7; thu hoạch: 15 – 25/9. * Mật độ cấy: Kết quả điều tra cho thấy, đối với các giống lúa lai được người dân cấy với mật độ 40 – 45 khóm/m2, cấy 1 – 2 dảnh/khóm, các giống lúa thuần được cấy với mật độ 50 - 52 khóm/m2, cấy 3 – 4 dảnh/khóm, khoảng cách giữa các hàng cấy 68 khoảng 20 cm. Mật độ cấy này được cho là dày do vậy mà không phát huy được khả năng đẻ nhánh của giống dẫn đến tốn giống, tốn công cấy. Ngoài ra, cấy dày sẽ làm sâu bệnh xuất hiện nhiều hơn do ruộng lúa không được thông thoáng và việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cũng nhiều hơn nên chi phí tăng lên và ảnh hưởng không tốt đến môi trường. * Thực trạng sử dụng phân bón cho lúa Bảng 3.8: Loại phân bón sử dụng cho lúa trên đất xám bạc màu ở Hiệp Hòa – Bắc Giang (số liệu điều tra năm 2013) STT Loại phân bón Tỉ lệ hộ áp dụng (%) Vụ xuân Vụ mùa 1 Phân chuồng 72,0 54,0 2 Phân hữu cơ vi sinh 1,3 4,0 3 Phân khoáng 100,0 100,0 4 Phân bón lá 0 0 Có 72% số hộ được hỏi có sử dụng phân chuồng để bón cho lúa trong vụ xuân và 54,0% số hộ dùng phân chuồng cho vụ mùa, trong đó họ chỉ bón cho những ruộng ở gần nhà (với 67,4% - 81,8% diện tích), còn lại từ 18,2 – 32,6% diện tích do ở xa nhà hoặc ruộng có diện tích quá nhỏ nên họ đã không sử dụng phân chuồng để bón cho lúa. Nếu như tình trạng này kéo dài nhiều năm thì có những ruộng được bổ sung hữu cơ thường xuyên nên độ phì nhiêu đất được cải thiện tốt hơn, trong đó có những ruộng không được bổ sung liên tục thì đất có thể sẽ ngày một chai cứng, độ phì nhiêu đất giảm. Trong khi đó, người dân sử dụng rất ít phân hữu cơ (1,3% trong vụ xuân và 4,0% trong vụ mùa). Phân bón là thì không được sử dụng để bón cho lúa. Tuy nhiên, có 100% số hộ đã sử dụng phân khoáng để bón cho lúa ở cả vụ xuân và vụ mùa. 69 Bảng 3.9: Liều lƣợng phân bón sử dụng cho lúa trên đất xám bạc màu ở Hiệp Hòa – Bắc Giang (số liệu điều tra năm 2013) Phân nhóm N (kg/ha) P2O5 (kg/ha) K2O (kg/ha) PC (tấn/ha) Lƣợng bón Tăng so KC Lƣợng bón Tăng so KC Lƣợng bón Tăng, giảm so KC Lƣợng bón Tăng so KC Khuyến cáo địa phương 75 - 90 - 70 - 90 - 100 - 115 - 8 - 10 - Nhóm I (bón lượng cao) 105,0 15 - 30 77 - 114 - 8,3 - Nhóm II (bón lượng trung bình) 85,0 - 55 -(15 – 30) 94 -(6 – 19) 6,7 -(1,3 - 3,3) Nhóm III (bón lượng thấp) 62,0 - (13 - 28) 28 -(42 – 62) 66 -(34 – 49) 4,8 -(3,2 - 5,2) Ghi chú: KC là khuyến cáo. - Đối với việc sử dụng phân đạm: Ở nhóm I (là nhóm sử dụng phân bón nhiều nhất) bón trên 90 kg/ha có 74/150 hộ chiếm 49,3%, bón thừa 15 – 30 kg N/ha; Nhóm II (là nhóm sử dụng phân bón lượng trung bình) bón 75 - 90 kg/ha có 27 hộ, chiếm 18,0% bón theo mức mà địa phương khuyến cáo; còn lại 49 hộ tương đương 32,7% thuộc nhóm III (nhóm sử dụng phân bón lượng thấp) bón dưới 75 kg N/ha và bón dưới mức khuyến cáo của địa phương 13 – 18 kg N/ha. - Tình hình sử dụng phân lân: Nhóm I (có 32/150 hộ được hỏi) chiếm 21,3% là sử dụng lân bón cho lúa theo khuyến cáo của địa phương (bón 70 – 90 kg 70 P2O5/ha), trong đó nhóm II (có 77/150 hộ) chiếm 51,3% bón 50 – 70 kg P2O5/ha, thiếu hụt 15 – 30 kg/ha so với khuyến cáo. Còn lại là nhóm III có 41/150 số hộ (tương đương 27,3%) bón dưới mức 50 kg P2O5/ha và thiếu hụt 42 – 62 kg P2O5/ha so với khuyến cáo. - Thực trạng sử dụng phân kali cho lúa: Số hộ sử dụng kali bón cho lúa đúng theo khuyến cáo của địa phương (100 – 115 kg K2O/ha) là 70/150 hộ (chiếm tỉ lệ 46,7%); trong khi đó 42/150 hộ chiếm 28,0% bón ở mức 85 - 100 kg K2O/ha thiếu hụt 6 - 19 kg K2O/ha so với khuyến cáo. Còn lại 25,3% số hộ bón mức dưới 85 kg K2O/ha, thấp hơn so với khuyến cáo của địa phương 34 – 49 kg K2O/ha. - Thực trạng sử dụng phân chuồng cho lúa: chủ yếu người dân sử dụng nguồn phân chuồng sẵn có (nếu có) qua việc chăn nuôi nhỏ lẻ trong gia đình (lợn, gà, trâu, bò). Vì vậy, mà lượng phân chuồng bón cho lúa thường thấp hơn khuyến cáo của địa phương. Trung bình, nhóm I bón 8,3 tấn/ha (trong mức khuyến cáo của địa phương; nhóm II bón 6,7 tấn/ha (thiếu hụt 1,3 – 3,3 tấn/ha so khuyến cáo) và nhóm III bón 4,8 tấn/ha (thiếu hụt 3,2 – 5,2 tấn/ha so với khuyến cáo). 3.1.4. Sâu bệnh hại lúa và biện pháp phòng trừ của nông dân Kết quả điều tra, khảo sát cho thấy người dân chủ yếu sử dụng một số loại thuốc trừ sâu, bệnh sau đây: Bảng 3.10. Một số thuốc nông dân thƣờng sử dụng để trừ một số loại sâu bệnh hại chính Sâu bệnh hại Tên thƣơng mại Tên hoạt chất Ghi chú Đục thân 1. Regent 800WG Fipronil 2. Dragon 58EC Cypermethrin + chlorpyriphos ethyl 3. Virtako 40WP Chlorantranniliprole + thiamethoxam 4. Netoxin 95WP Nereixtoxin (Dimehypo) 5. Vi Tha Dan 95WP Nereistoxin (Dimehypo) 6. Apashuang 18 SL Nereistoxin (Dimehypo) 1. Taisieu 5WG Emamectin benzoate 71 Sâu bệnh hại Tên thƣơng mại Tên hoạt chất Ghi chú Cuốn lá 2. Rồng lửa Chlorpyriphos ethyl + Cypermethrin Sinh học 3. Catodan 95WP Nereistoxin 4. Netoxin 18 SL Nereistoxin 5. Tungsong 95WP Nereistoxin (Eimehypo) 6. Map – Permethrin 10 EC Permethrin (min 92%) Rầy nâu 1. Anvado 100WP Imidacloprid 10% 2. Penalty 40WP Acetamiptid + buprofezin 3. Dihet 60 ƯP Nereistoxin (Monosultap) 58% + Imidacloprid 2% 4. Nice 50 EC Phentoate (Dimephenthoate) (min 92%) 5. Rothoate 50 EC Phentoate (Dimephenthoate) (min 92%) Bọ trĩ Oxatin 1.8 EC Abamectin Sinh học Metox Isoprocard + Cypermethrin Sattrungdan Nereistoxin Địch Bách Trùng 90 SP Trichlorfon (Chlorophos) (min 97%) Bệnh khô vằn 1. Valyvithaco 5SC Valydamycin 2. Anvil 5SC Hexaconazole 3. Acovil 50SC Carbendazin (min 98%) 4. Baovil 25WP Pecycuron (min 99%) 5. Anlicin 5WP Valydamycin (Validamycin A) (min 40%) 6. Vectra 200EC Bromuconazole Bệnh đạo ôn 1. Kasumin Kasugamycin (min 70%) 2. Trizole 75WP Tricyclazole (min 95%) 3. Topsin M Thiophanate – Methyl (min 93%) 4. Vectra 200 EC Bromuconazola 5. Hisan 40 EC, 50 EC Edifenphos (min 87%) 6. Kasai 21.2 WP Fthalide 20% (15%) + Kasugamycin 1.2% Bệnh đốm sọc vi khuẩn Anvikhuan 102SP Sinh học 72 Người nông dân thường sử dụng bình phun thuốc bảo vệ thực vật với dung tích 12 lít (bình bơm cơ bằng tay) với số lượng trung bình là 2 bình/sào Bắc bộ, mỗi vụ phun 3 – 4 lần, mỗi lần phun 3 gói có dung tích 10 ml/gói. Về thời điểm phun: người nông dân thường phun thuốc BVTV khi phát hiện thấy sâu bệnh xuất hiện. Họ không ý thức được việc phun thuốc nào cho đúng, ngưỡng bị sâu bệnh hại để phun là như thế nào? Họ thường pha trộn 2 – 3 loại thuốc để trị cùng một đối tượng sâu (bệnh) hoặc có thể kết hợp 2 – 3 loại thuốc khác nhau để trị hai hoặc nhiều đối tượng gây hại cùng một lúc (phần lớn là theo hướng dẫn của đại lý, cửa hàng bán thuốc BVTV, có thể là người này hỏi người kia). Mà hầu như không được tham gia các lớp tập huấn về sử dụng thuốc BVTV. Điều này cho thấy người dân sử dụng thuốc BVTV một cách bị động và có thể họ đã pha những loại thuốc không được khuyến cáo là sử dụng chung vì có thể những loại thuốc kết hợp với nhau làm giảm tính độc khiến việc trừ sâu bệnh hại bị giảm hiệu quả. Bảo hộ lao động: phần lớn người nông dân phun thuốc BVTV không chuẩn bị cho mình những đồ bảo hộ lao động cần thiết: quần áo, gang tay, khẩu trang ngay cả khi pha thuốc họ chỉ dùng kéo cắt gói thuốc rồi đổ trực tiếp vào bình bơm đã có sẵn một ít nước rồi dùng que khuấy và cho thêm nước đến khi đầy bình. Số liệu khảo sát cho thấy phần lớn nông dân phun thuốc phòng trừ sâu bệnh theo kinh nghiệm (68%), 32% áp dụng phòng dịch hại theo quản lí dich hại tổng hợp (IPM), vì vậy hiệu quả trong phòng trừ sâu bệnh hại lúa chưa cao, gây ô nhiễm môi trường và không an toàn cho sản phẩm lúa gạo. Hiện nay, tập quán sử dụng thuốc hóa học trong bảo vệ thực vật còn chiếm tỷ lệ rất cao 84%, trong khi đó tỷ lệ áp dụng thuốc trừ sâu sinh học còn rất thấp (khoảng 12 – 15%). Một số loại thuốc trừ sâu sinh học như Secvatin, bò cạp đỏ, rồng lửa, oxatin 1.8EC, anvikhuan 102SP... hiện đang được áp dụng nhưng tỷ lệ sử dụng còn rất hạn chế. Việc sử dụng thuốc hóa học ngày một nhiều là nguyên nhân tạo dư lượng chất độc vượt ngưỡng cho phép, có hại cho người sản xuất và sức khỏe cho người tiêu dùng. Tuy nhiên, để tăng cường sử dụng thuốc sinh học trong phòng trừ sâu 73 bệnh, người nông dân cần được giới thiệu hiệu quả của thuốc sinh học so với thuốc hóa học, tập huấn cho người sử dụng về phương pháp sử dụng thuốc sinh học, cũng như hỗ trợ phương tiện, bảo hộ an toàn lao động trong sử dụng thuốc BVTV. 3.1.5. Một số vấn đề chính còn tồn tại trong sản xuất lúa trên đất xám bạc màu ở Hiệp Hòa Từ kết quả điều tra, thu thập và phân tích số liệu thứ cấp và sơ cấp có thể đưa ra những kết luận sau: - Giống Khang Dân 18 hiện đang được người dân sử dụng nhiều. Câu hỏi đặt ra là đây có phải là thói quen hay không? Vì vậy, có thể có giống lúa thuần khác thay thế được KD18 hay không? Đây là câu hỏi cần được lý giải trong đề tài nghiên cứu này. - Nông dân Hiệp Hòa - Bắc Giang có quan niệm đất xám bạc màu ít dinh dưỡng, cây lúa đẻ nhánh kém, vì vậy phải cấy dày, mật độ cấy phổ biến là 50 khóm/m 2. Cấy dày vừa tốn giống, tốn công, ruộng lúa lại không thông thoáng, canh tác khó khăn, sâu bệnh phát sinh nhiều. Phải chăng đây là yếu tố kìm hãm năng suất và giá thành sản xuất lúa cao. Vấn đề cần giải quyết ở đây là có thể giảm mật độ cấy được hay không? - Sản xuất lúa trên đất xám bạc màu muốn có năng suất cao phải bón vào đất 10 tấn phân chuồng/ha cho 1 vụ lúa. Khi bón 10 tấn phân chuồng, lượng dinh dưỡng còn thấp so với yêu cầu đưa năng suất lúa lên ít nhất 10 tấn/ha/năm. Vì vậy, cần thiết phải bổ sung thêm phân hóa học, lượng bón, tỷ lệ bón và phương pháp bón như thế nào cần phải được nghiên cứu. 3.2. Nghiên cứu biện pháp tăng hiệu quả sản xuất lúa trên đất xám bạc màu ở Hiệp Hòa Nghiên cứu biện pháp tăng hiệu quả sản xuất lúa trên đất xám bạc màu ở Hiệp Hòa có nhiều việc phải làm. Phạm vi nghiên cứu này chọn 3 giải pháp chính là: - Chọn giống lúa thuần để cấy trên đất xám bạc màu vụ xuân và vụ mùa phù hợp với điều kiện của người sản xuất và người tiêu thụ sản phẩm. 74 - Chọn được mật độ gieo cấy phù hợp để có năng suất cao, hạn chế sâu bệnh hại, ít tốn giống, tốn công. - Chọn được mức phân bón phù hợp với giống, với mật độ được xác định trước đó phù hợp với điều kiện của người dân. Để đánh giá kết quả nghiên cứu, xem xét tác động của yếu tố nghiên cứu đến kết quả nghiên cứu, từng loại thí nghiệm có các chỉ tiêu quan sát khác nhau như: đặc điểm nông học, đẻ nhánh, năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất. 3.2.1. Nghiên cứu tuyển chọn giống lúa thuần phù hợp trên đất xám bạc màu tại Hiệp Hòa - Bắc Giang 3.2.1.1. Kết quả nghiên cứu trong vụ xuân * Đặc tính nông học của các giống trong vụ xuân: Kết quả theo dõi một số đặc điểm nông học của các giống lúa thuần được cấy trong vụ xuân tại Hiệp Hòa – Bắc Giang trong năm 2013 được trình bày ở bảng 3.11. Bảng 3.11: Đặc điểm nông sinh học của các giống trong vụ xuân TT Tên giống TGST (ngày) Cao cây (cm) Mức độ đổ ngã 1 Khang Dân 18 115 103,5 1 2 Hoa Ưu 109 115 96,5 1 3 Bắc Thơm số 7 125 103,5 3 4 QR1 110 87,5 1 5 RVT 125 98,1 1 6 TBR36 115 102,0 1 7 VS1 110 96,5 1 8 Khang dân 28 115 101,1 3 9 TBR45 125 104,0 1 10 BC15 125 105,0 1 CV (%) 7,5 LSD0,05 3,9 75 Trong tổng số 10 giống nghiên cứu trong vụ xuân: Các giống TBR45, Bắc Thơm số 7, RVT, BC15 có thời gian sinh trưởng là 125 ngày, dài hơn giống KD18 (có thời gian sinh trưởng 115 ngày) là 10 ngày. Các giống Hoa Ưu 109, TBR36, Khang Dân 28 có thời gian sinh trưởng ngang giống KD18. Hai giống Hoa Ưu 109 và VS1 có thời gian sinh trưởng ngắn hơn (cùng là 110 ngày). Như vậy, cả 10 giống nghiên cứu thuộc nhóm giống ngắn ngày (có thời gian sinh trưởng dưới 130 ngày, theo Nguyễn Thị Lẫm và ctv., 2003). Điều này rất có lợi cho việc bố trí cây trồng vụ sau. Về yếu tố chiều cao cây, các giống Khang D
File đính kèm:
luan_an_nghien_cuu_mot_so_bien_phap_ki_thuat_canh_tac_co_hie.pdf
Tom tat luan an tieng Anh - Dam The Chien.pdf
Tom tat Luan an tieng Viet - Dam The Chien.pdf
Trang thong tin luan an tieng Viet - Dam The Chien.doc
Trang thông tin luận án tiếng việt và tiếng anh.pdf