Luận án Nghiên cứu sử dụng một số vật liệu hữu cơ và chế phẩm vi sinh trong sản xuất chè an toàn

Luận án Nghiên cứu sử dụng một số vật liệu hữu cơ và chế phẩm vi sinh trong sản xuất chè an toàn trang 1

Trang 1

Luận án Nghiên cứu sử dụng một số vật liệu hữu cơ và chế phẩm vi sinh trong sản xuất chè an toàn trang 2

Trang 2

Luận án Nghiên cứu sử dụng một số vật liệu hữu cơ và chế phẩm vi sinh trong sản xuất chè an toàn trang 3

Trang 3

Luận án Nghiên cứu sử dụng một số vật liệu hữu cơ và chế phẩm vi sinh trong sản xuất chè an toàn trang 4

Trang 4

Luận án Nghiên cứu sử dụng một số vật liệu hữu cơ và chế phẩm vi sinh trong sản xuất chè an toàn trang 5

Trang 5

Luận án Nghiên cứu sử dụng một số vật liệu hữu cơ và chế phẩm vi sinh trong sản xuất chè an toàn trang 6

Trang 6

Luận án Nghiên cứu sử dụng một số vật liệu hữu cơ và chế phẩm vi sinh trong sản xuất chè an toàn trang 7

Trang 7

Luận án Nghiên cứu sử dụng một số vật liệu hữu cơ và chế phẩm vi sinh trong sản xuất chè an toàn trang 8

Trang 8

Luận án Nghiên cứu sử dụng một số vật liệu hữu cơ và chế phẩm vi sinh trong sản xuất chè an toàn trang 9

Trang 9

Luận án Nghiên cứu sử dụng một số vật liệu hữu cơ và chế phẩm vi sinh trong sản xuất chè an toàn trang 10

Trang 10

Tải về để xem bản đầy đủ

pdf 206 trang nguyenduy 28/08/2025 90
Bạn đang xem 10 trang mẫu của tài liệu "Luận án Nghiên cứu sử dụng một số vật liệu hữu cơ và chế phẩm vi sinh trong sản xuất chè an toàn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Luận án Nghiên cứu sử dụng một số vật liệu hữu cơ và chế phẩm vi sinh trong sản xuất chè an toàn

Luận án Nghiên cứu sử dụng một số vật liệu hữu cơ và chế phẩm vi sinh trong sản xuất chè an toàn
c bổ sung đều như nhau nhưng có sự 
khác nhau về lượng NPK được bổ sung vào đất (0%, 70% và 100% NPK). 
Trong đó mức độ tăng so với đối chứng lần lượt là 200, 600 và 727 lần ở công 
thức CT2, CT4 và CT6. Tại công thức CT4 bổ sung thêm 70% NPK có số 
lượng vi khuẩn tăng gấp 3 lần so với CT2 chỉ có bổ sung chế phẩm và công 
thức CT6 bổ sung thêm 100%NPK có số lượng vi khuẩn gấp 3,63 lần so với 
CT2. Kết quả nghiên cứu này cho thấy những ảnh hưởng rõ của việc bổ sung 
chế phẩm và phân khoáng NPK đến sự gia tăng số lượng vi khuẩn trong đất. 
Số lượng xạ khuẩn tổng số trong đất thí nghiệm dao động từ 1,2 x 10
2
CFU/g đất ở công thức CT1 đến 6,3 x 103 CFU/g đất ở công thức CT6. Mặc 
dù trong thành phần của chế phẩm bổ sung vào đất có mật độ tế bào xạ khuẩn 
ở mức cao nhưng vì đất nghiên cứu có phản ứng rất chua, do vậy số lượng xạ 
khuẩn tổng số ở các công thức có bổ sung chế phẩm (CT2, CT4 và CT6) 
không có sự khác nhau nhiều so với các công thức không bổ sung chế phẩm 
(CT1, CT3 và CT5). Số lượng xạ khuẩn ở công thức CT3 (bổ sung 70% 
NPK) và CT5 (bổ sung 100% NPK) gấp 2,67 và 4,33 lần so với đối chứng. 
Số lượng nấm so với thời điểm trước thí nghiệm, dao động từ 2,5 x 104 
CFU/g đất ở công thức CT1 đến 4,5 x 105 CFU/g đất ở công thức CT4. Tuy 
nhiên, ở công thức CT3 và CT5 cho thấy việc bổ sung NPK vào đất mà không 
bổ sung chế phẩm có sự biến động không nhiều về số lượng nấm tổng số. Ngược 
lại ở các công thức bổ sung thêm chế phẩm (CT2, CT4 và CT6) có số lượng nấm 
tổng số gấp 15,2; 18 và 15,6 lần so với đối chứng và đều lớn hơn 10 lần so với 
công thức CT1, CT3 và CT5. Như vậy, sự có mặt của quần thể nấm có trong chế 
phẩm được bổ sung vào đất đã góp phần đáng kể vào việc gia tăng số lượng 
quần thể nấm tham gia vào quá trình phân hủy cành lá chè đốn sau 1 năm. 
 91 
Như vậy, việc sử dụng các chủng vi sinh vật tuyển chọn để xử lý thân 
cành lá chè đốn, có tác dụng tăng hàm lượng CHC trong đất cũng như hàm 
lượng các chất dinh dưỡng. Khi xử lý các chủng vi sinh vật phân giải làm 
phong phú thêm hệ vi sinh vật đất. 
* Ảnh hưởng của việc xử lý các chủng vi sinh vật tuyển chọn trên 
CLCĐ đến năng suất chè 
Qua theo dõi ảnh hưởng của việc bổ sung các chủng vi sinh vật phân 
giải nhanh thân cành lá chè đốn đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng 
suất giống chè LDP1, thu được kết quả thể hiện ở bảng 3.27: 
Bảng 3.27. Ảnh hƣởng của việc xử lý thân cành lá chè đốn đến các yếu tố 
cấu thành năng suất chè qua các năm 
Năm Công thức 
Mật độ búp 
(búp/m
2
) 
Khối lƣợng búp 
1 tôm 3 lá 
(gam/búp) 
Chiều dài 
búp 1 tôm 
3 lá (cm) 
Tỷ lệ búp 
có tôm (%) 
2011 
CT1 (ĐC) 121,83 0,63 5,73 66,22 
CT2 148,59 0,73 6,81 71,98 
CT3 187,13 0,73 6,82 83,14 
CT4 212,56 0,86 7,02 86,34 
CT5 214,50 0,94 7,00 86,41 
CT6 244,85 0,93 7,43 92,16 
CV% 7,0 8,3 6,2 5,6 
LSD05 13,65 0,12 0,52 6,79 
2012 
CT1 (ĐC) 99,98 0,60 5,61 59,24 
CT2 129,04 0,70 6,28 74,78 
CT3 191,07 0,73 6,75 82,73 
CT4 223,20 0,87 7,43 88,32 
CT5 217,56 0,89 7,30 90,81 
CT6 254,13 0,95 7,66 94,32 
CV% 5,6 5,9 6,1 5,6 
LSD05 18,93 0,08 0,51 6,81 
Qua bảng 3.27 cho thấy: 
- Mật độ búp ở các công thức có sự sai khác nhau rõ rệt. Trong đó xử lý 
các chủng vi sinh vật tuyển chọn trên cành lá cành lá chè đốn đều làm tăng 
mật độ búp. Sau 2 năm tiến hành thí nghiệm, công thức 6 (xử lý cành lá chè 
đốn + 100% NPK) cho mật độ búp cao nhất. 
 92 
- Trọng lượng búp, chiều dài búp ở các công thức xử lý đều cao hơn 
các công thức không xử lý. Trong đó CT4 và CT6 đạt cao nhất và không có 
sự sai khác giữa hai công thức này. 
- Tỷ lệ búp có tôm ở các công thức có xử lý đều cao hơn các công thức 
không xử lý. Sau hai năm tiến hành thí nghiệm, công thức 6 có tỷ lệ búp có 
tôm đạt cao nhất (94,32%). 
 Qua theo dõi năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất ở các công 
thức thí nghiệm, thu được kết quả thể hiện ở bảng 3.28: 
Bảng 3.28. Ảnh hƣởng của việc xử lý thân cành lá chè đốn 
đến năng suất chè LDP1 
Công 
thức 
Năm 2011 Năm 2012 
Năng suất 
TB lứa hái 
(tạ/lứa/ha) 
Tổng SL năm 
(tạ/ha/năm) 
Năng suất TB 
lứa hái 
(tạ/lứa/ha) 
Tổng SL năm 
(tạ/ha) 
CT1 (ĐC) 6,44 70,81 6,59 72,52 
CT2 7,12 78,37 8,20 90,15 
CT3 8,50 93,48 9,32 102,52 
CT4 10,50 115,48 11,19 123,04 
CT5 10,82 119,04 11,39 125,26 
CT6 11,23 123,48 12,77 140,52 
CV% 7,4 6,1 
LSD05 7,93 8,20 
Kết quả trình bày ở bảng 3.28 cho thấy: 
Ở năm thứ nhất: xử lý các chủng vi sinh vật phân giải và không xử lý 
các chủng vi sinh vật phân giải cành lá chè đốn trực tiếp trên nương chè, năng 
suất không có sự sai khác. Tuy nhiên khi xử lý thân cành lá chè bằng các 
 93 
chủng vi sinh vật phân giải kết hợp với việc bổ sung phân NPK lại có sự sai 
khác rõ rệt giữa các công thức. Trong đó công thức 4 (xử lý cành lá chè + 
70% NPK) đạt năng suất115,48 tạ/ha tương đương với công thức 5 (không xử 
lý cành lá chè + 100% NPK). 
Ở năm thứ 2: khi xử lý cành lá chè đốn bằng các chủng vi sinh vật có 
sự sai khác rõ rệt giữa các công thức. Trong đó, công thức 5 (xử lý cành lá 
chè + 100% NPK) cho năng suất cao nhất đạt 140,52 tạ/ha). Công thức 4 (xử 
lý cành lá chè + 70% NPK) đạt năng suất chè là 123,04 tạ/ha tương đương với 
công thức 5 (không xử lý cành lá chè + 100% NPK). 
Như vậy, xử lý thân cành lá chè bằng các chủng vi sinh vật tuyển chọn 
đã làm tăng năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất chè theo hướng có lợi 
cho người sử dụng. Đây là một trong những nhân tố có ý nghĩa trong việc chế 
biến phân hữu cơ tại chỗ tận dụng phế phụ phẩm nông nghiệp cho cây chè. 
Tuy nhiên nếu chỉ có xử lý VSV trên cành lá chè đốn mà không bón phân 
khoáng thì cũng không có hiệu quả, nhất là trong năm đầu tiên. Tuy nhiên 
sang năm tiếp theo, lượng cành lá chè đốn để lại kết hợp với xử lý vi sinh vật 
có thể thay thế được khoảng 30% lượng phân khoáng (NPK) bón vào đất đảm 
bảo co cây chè sinh trưởng, phát triển tốt và cho năng suất ổn định 
3.4. Ảnh hƣởng của một số chế phẩm vi sinh đến năng suất, chất lƣợng và 
một số tính chất đất trồng chè 
3.4.1. Tính chất đất trồng chè 
3.4.1.1. Một số tính chất của đất và vật liệu che tủ trước thí nghiệm 
Kết quả phân tích đất trước thí nghiệm cho thấy khá phù hợp với đời 
sống của cây chè: thành phần cơ giới thịt trung bình, dung trọng 1,32 g/cm3, 
phản ứng c ủa đất ở mức rất chua (pHKCl = 3,95), đất có hàm lượng chất 
hữu cơ 2,43%; đạm tổng số 0,17%; phốt pho tổng số 0,16%; kali tổng số 
0,22%; vi khuẩn 9,8x10
5 
CFU/g, xạ khuẩn 2x10
3
 CFU/g và nấm 4x10
3
CFU/g đất. 
 94 
Phân tích thành phần các chất trong cành lá chè đốn cho thấy hàm 
lượng các nguyên tố chiếm tỷ lệ cao: C : 62,67%; N : 1,26%; P2O5 : 0,26%; 
K2O : 0,87%; MgO : 0,17%; CaO : 0,31%; Mn : 0,11%; Na : 0,31%; Al : 
0,58%; Fe : 0,21% và tỷ lệ C : N : 50 : 1. Kết quả này cho thấy cành lá chè 
đốn sử dụng có hàm lượng N, P và K là nhỏ hơn nhiều lần so với lượng tích 
lũy trong búp chè [2]. Hàm lượng canxi, magie, mangan và sắt cũng ở mức 
thấp so với nghiên cứu của Carr và cộng sự (2003)[89]. Tổng hàm lượng các 
polysaccarit khó phân hủy trong cành lá chè đốn ở mức cao so với một số loại 
tàn dư hữu cơ khác [63], hàm lượng trung bình chiếm 79,47%; riêng hàm lượng 
của hemixenluloza là 15,69%; xenluloza 24,55%; lignin 39,23%. Từ kết quả này 
có thể thấy với lượng khối lượng cành lá chè đốn trung bình khoảng 10 
tấn/ha/năm có thể hoàn trả bù lại một lượng dinh dưỡng không nhỏ và là nguồn 
bổ sung hữu cơ quan trọng để nâng cao hàm lượng mùn trong đất trồng chè. 
* Ảnh hưởng đến tính chất lý học đất 
 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của che tủ cành lá chè đốn có bổ sung 
chế phẩm vi sinh đến một số tính chất lý học đất trồng chè được trình bày ở 
bảng 3.29: 
Bảng 3.29. Ảnh hƣởng chế phẩm vi sinh 
đến một số tính chất lý học của đất trồng chè 
Công thức 
Độ ẩm (%) Dung trọng (g/cm
3
) 
Sau 1 năm Sau 3 năm Sau 1 năm Sau 3 năm 
CT1 (ĐC) 33,65 30,65 1,31 1,21 
CT2 30,28 25,73 1,17 1,25 
CT3 32,19 25,82 1,13 1,21 
CT4 35,87 25,54 1,15 1,26 
CT5 32,21 25,78 1,11 1,23 
Sau 1 năm tiến hành thí nghiệm, nhìn chung đã có sự biến động khá rõ 
về độ ẩm đất giữa các công thức thí nghiệm với giá trị độ ẩm trung bình dao 
 95 
động từ 30,28 đến 35,87%. Sau 3 năm ở các công thức sử dụng chế phẩm vi 
sinh độ ẩm đất lại có chiều hướng giảm, tuy vậy nó vẫn cao hơn khá nhiều so 
với độ ẩm cây héo 17% [69]. Đây là mức độ ẩm thuận lợi để huy động các 
chất dinh cho sự phát triển của cây chè và là điều kiện tốt để tăng cường các 
hoạt động chuyển hóa chất hữu cơ đất. Do đất được che tủ bằng một lượng 
khá lớn cành lá chè đốn hàng năm, đã góp phần làm giảm sự bốc hơi nước và 
tăng khả năng giữ nước của đất thông qua nâng cao hàm lượng mùn trong đất. 
 Sau 3 năm thí nghiệm, độ ẩm đất ở công thức có bổ sung chế phẩm vi 
sinh đều có xu hướng thấp hơn so với công thức đối chứng không bổ sung chế 
phẩm sinh học vào khoảng 5%. Trừ công thức đối chứng (không bổ sung chế 
phẩm vi sinh) vẫn duy trì được độ ẩm khá cao (30,65%), các công thức còn lại 
(có bổ sung chế phẩm sinh học) đều có độ ẩm thấp và khác nhau không nhiều 
(dao động trong khoảng 25,54 - 25,82%, thấp hơn khá nhiều so với CT1 và so 
với ở thời điểm 1 năm sau thí nghiệm. Nguyên nhân là do ở thời điểm này, 
CLCĐ ở các công thức thí nghiệm gần như đã bị phân hủy hoàn toàn, trừ ở 
CT1 không bổ sung chế phẩm vi sinh. 
Số liệu trên bảng 3.29 cũng cho thấy dung trọng đất sau thí nghiệm đã 
được cải thiện rõ rệt so với thời điểm trước thí nghiệm, giảm trung bình từ 0,1 
đến 0,2 g/cm3. Trong đó, dung trọng đất giảm mạnh ở thời điểm sau 1 năm 
(giảm từ 1,32 g/cm3 trước thí nghiệm xuống còn khoảng 1,11 - 1,17g/cm3). 
Dung trọng giảm mạnh ở các công thức có bổ sung chế phẩm sinh học cũng 
phù hợp với sự gia tăng chất hữu cơ trong đất. Sau 3 năm, hàm lượng chất 
hữu cơ trong đất ở các công thức thí nghiệm đều thấp hơn so với sau 1 năm, 
hơn nữa quá trình nén chặt đất theo thời gian là những nguyên nhân chủ yếu 
làm cho dung trọng của đất tăng lên [34], [35]. 
* Ảnh hưởng đến tính chất hóa học đất 
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của che tủ cành lá chè đốn có bổ sung 
chế phẩm vi sinh đến một số tính chất hóa học đất được trình bày ở bảng 3.30: 
 96 
Bảng 3.30. Ảnh hƣởng của chế phẩm vi sinh đến một số 
tính chất hóa học của đất trồng chè 
Công thức 
pHKCl CHC (%) Al
3+(lđl/100g) 
Sau 1 năm Sau 3 năm Sau 1 năm Sau 3 năm Sau 1 năm Sau 3 năm 
CT1 (ĐC) 4,27 4,55 2,57 3,04 4,91 5,35 
CT2 3,96 3,72 3,02 2,09 6,45 4,66 
CT3 4,02 3,54 3,58 2,92 6,72 5,57 
CT4 4,10 3,60 3,95 3,03 7,48 5,96 
CT5 3,88 3,75 4,04 3,75 8,82 7,62 
 Kết quả trên bảng 3.30 cho thấy việc sử dụng chế phẩm vi sinh ở các 
công thức thí nghiệm đều làm tăng độ chua của đất so với ở công thức không 
sử dụng chế phẩm sinh học (CT1) và đất trước thí nghiệm. Riêng độ chua ở 
công thức không bổ sung chế phẩm vi sinh lại được cải thiện chút ít: giá trị 
pHKCl tăng 1,08 lần sau 1 năm và tăng 1,15 lần sau 3 năm so với thời điểm 
trước thí nghiệm (pHKCl = 3,95). Điều này liên quan đến sự tăng độ ẩm đất và 
một phần các chất dinh dưỡng nhóm kim loại kiềm và kiềm thổ được giữ lại 
trong đất do hạn chế rửa trôi khi đất được che tủ [42]. 
Sự giảm sâu độ chua đất sau thời gian thí nghiệm có bổ sung chế phẩm 
vi sinh sau 3 năm thí nghiệm có thể liên quan đến sự tồn tại của các axit hữu 
cơ từ quá trình phân hủy cành lá chè đốn. Hơn nữa, khi độ chua tăng cũng làm 
tăng lượng nhôm linh động và kết quả đã làm gia tăng quá trình chua hóa đất. 
Kết quả này cũng được thể hiện rõ thông qua hàm lượng nhôm trao đổi Al
3+ 
được trình bày ở bảng 3.30. 
Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Tạo (2006) [63] cho thấy mức độ 
tích lũy rất chậm nhưng tăng dần theo thời gian của chất hữu cơ trong đất che 
tủ cành lá chè đốn kéo dài đến 6 năm. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này đã cho 
thấy quá trình phân hủy thực tế xảy ra nhanh hơn nhiều, đặc biệt là khi có bổ 
sung các chế phẩm sinh học thúc đẩy sự phân hủy chúng. Như vậy, việc sử 
dụng các chế phẩm vi sinh phân giải vật chất hữu cơ chỉ có tác dụng tăng 
 97 
nhanh hàm lượng chất hữu cơ của đất trong thời gian ngắn. Điều này có thể sẽ 
dẫn đến sự mất cân bằng sinh thái và thay đổi động thái đất một cách đột ngột 
trong một thời gian ngắn và có thể tạo nên một số mối rủi ro nhất định. 
* Ảnh hưởng đến tính chất sinh học đất 
 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của che tủ cành lá chè đốn có bổ sung 
chế phẩm vi sinh đến thành phần và số lượng vi sinh vật đất được trình bày ở 
bảng 3.31 cho thấy có sự biến động mạnh sau 1 năm thí nghiệm, đây cũng là 
thời điểm tích lũy chất hữu cơ đạt cao nhất. 
Bảng 3.31. Ảnh hƣởng của chế phẩm vi sinh đến 
thành phần và số lƣợng vi sinh vật đất 
Đơn vị: (CFU/1g) 
Công 
thức 
Vi khuẩn Xạ khuẩn Nấm 
Sau 1 
năm 
Sau 3 
năm 
Sau 1 
năm 
Sau 3 
năm 
Sau 1 
năm 
Sau 3 
năm 
CT1 (ĐC) 9,1.106 3,2.107 4,1.102 2,0.103 1,8.104 9,3.104 
CT2 6,2.10
9
 4,4.10
7
 6,3.10
3
 3,0.10
3
 2,4.10
4
 1,2.10
3
CT3 8,5.10
9
 5,2.10
7
 3,8.10
3
 2,0.10
3
 2,2.10
4
 2,1.10
3
CT4 7,8.10
9
 8,6.10
7
 4,4.10
3
 2,0.10
3
 2,5.10
4
 1,3.10
3
CT5 5,3.10
9
 4,1.10
7
 6,7.10
4
 6,0.10
2
 2,7.10
4
 5,2.10
3
Số liệu từ bảng 3.31 cho thấy sau 1 năm số lượng vi khuẩn gấp 1.000 
lần so với đối chứng (từ 9,1.106đến 8,5.109 CFU/g đất); số lượng xạ khuẩn 
gấp từ 10 đến 100 lần (từ 4,1.102 đến 6,7.104 CFU/g đất). Tuy nhiên đến thời 
điểm sau 3 năm thì thành phần và số lượng vi sinh vật đất có xu hướng giảm 
mạnh cùng với kết quả giảm đáng kể mức độ tích lũy chất mùn đất so với thời 
điểm 1 năm nhưng vẫn phong phú hơn nhiều so với thời điểm trước thí 
nghệm. Nguyên nhân do nguồn xác hữu cơ (cành lá chè đốn) cần thiết để duy 
trì hoạt động sinh trưởng và phát triển của các quần thể vi sinh vật đất đã bị 
cạn dần. Như vậy có thể khẳng định việc bổ sung chế phẩm vi sinh để tăng 
cường quá trình phân hủy nhanh CLCĐ có thể cải thiện phần nào đặc tính 
 98 
sinh học đất nhưng đã gây nên những biến động bất lợi đối với động thái đất. 
Do đó vấn đề này cần được nghiên cứu sâu thêm để tìm ra những giải pháp tốt 
nhất trong việc đảm bảo sự gia tăng năng suất chất lượng chè mà vẫn bảo vệ 
bền vững yếu tố độ phì đất. 
3.4.2. Năng suất giống chè LDP1 
Thí nghiệm đã sử dụng 4 chế phẩm vi sinh có nguồn gốc khác nhau, 
qua theo dõi ảnh hưởng của các chế phẩm vi sinh đến năng suất và các yếu tố 
cấu thành năng suất chè thu được kết quả thể hiện ở bảng 3.32: 
Bảng 3.32. Ảnh hƣởng của chế phẩm vi sinh 
đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất giống chè LDP1 
Năm 
Công 
thức 
Mật độ 
búp 
(búp/m
2
) 
Khối 
lƣợng búp 
(gam/búp) 
Chiều 
dài búp 
(cm) 
Tỷ lệ 
búp có 
tôm (%) 
Năng suất 
TB lứa hái 
(tạ/lứa/ha) 
2010 
CT1 (ĐC) 140,12 0,61 6,24 82,45 9,11 
CT2 167,30 0,67 7,14 91,18 10,60 
CT3 172,76 0,71 7,20 92,34 10,75 
CT4 168,97 0,67 7,21 91,43 10,65 
CT5 174,03 0,70 7,25 91,74 10,54 
CV% 5,5 7,4 
LSD05 16,98 0,66 
2011 
CT1 (ĐC) 153,06 0,62 6,04 83,85 10,01 
CT2 188,85 0,74 7,65 92,90 11,56 
CT3 194,36 0,76 7,67 92,52 11,78 
CT4 188,45 0,75 7,60 93,41 11,58 
CT5 193,91 0,74 7,66 93,30 12,51 
CV% 6,3 6,6 
LSD05 8,03 0,99 
2012 
CT1 (ĐC) 171,03 0,64 6,28 85,15 11,12 
CT2 201,09 0,80 7,73 93,68 13,13 
CT3 208,52 0,82 7,83 94,18 13,59 
CT4 203,15 0,80 7,52 92,59 13,18 
CT5 207,18 0,84 7,70 93,65 13,71 
CV% 6,5 5,7 
LSD05 5,52 0,91 
 99 
Qua bảng 3.32 cho thấy: 
- Mật độ búp có sự sai khác rõ rệt giữa các công thức bón bổ sung chế 
phẩm vi sinh. Sau 3 năm tiến hành thí nghiệm, CT3 có mật độ búp cao nhất 
(208,52 búp/m
2
). 
- Chiều dài búp và trọng lượng búp có sự chênh lệch giữa các công 
thức bón bổ sung chế phẩm vi sinh và đều cao hơn công thức đối chứng 
không bón. Trong đó công thức 3 (bón phân Com posmarker) và CT5 
(chế phẩm phân giải nhanh xelluloza) có trọng lượng búp và chiều dài 
búp lớn nhất. 
- Năng suất trung bình lứa hái ở các công thức bón bổ sung chế phẩm 
vi sinh có sự sai khác rõ rệt so với công thức đối chứng. Sau 3 năm, năng suất 
trung bình lứa hái cao nhất là CT5 (13,71 tạ/ha), tiếp đến là CT3 (13,59 tạ/ha) 
và không có sự sai khác giữa các công thức ở mức tin cậy 95%. 
- Sản lượng chè hàng năm ở các công thức bón bổ sung chế phẩm vi 
sinh đều cao hơn công thức đối chứng. Trong đó sản lượng hàng năm tăng 
mạnh nhất ở công thức 5, tiếp đến là công thức 3 và tăng trưởng chậm nhất là 
công thức đối chứng (không bón chế phẩm vi sinh), được thể hiện ở hình 3.7. 
Năng suất chè TN sử dụng chế phẩm vi sinh
0.00
20.00
40.00
60.00
80.00
100.00
120.00
140.00
160.00
Nam 2010 Nam 2011 Nam 2012
Năm
N
ă
n
g
 s
u
ấ
t CT1
CT2
CT3
CT4
CT5
Hình 3.7. Biểu đồ ảnh hƣởng của chế phẩm vi sinh 
đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 
 100 
Như vậy sử dụng các chủng vi sinh vật phân giải nhanh có tác dụng trong 
việc nâng cao năng suất chè, nhất là khi bón phối hợp NPK theo quy trình. 
3.4.3. Chất lượng chè nguyên liệu 
3.4.3.1. Phẩm cấp chè nguyên liêu 
Qua đánh giá ảnh hưởng của các chế phẩm vi sinh đến phẩm cấp chè 
nguyên liệu, thu được kết quả thể hiện ở bảng 3.33: 
Bảng 3.33. Ảnh hƣởng của các chế phẩm vi sinh 
đến phẩm cấp chè nguyên liệu 
Năm Công thức Chè A (%) Chè B (%) Chè A+B (%) So với ĐC 
2010 
CT1 (ĐC) 27,40 50,53 77,93 - 
CT2 29,70 52,88 82,58 4,65 
CT3 29,27 54,50 83,77 5,83 
CT4 31,07 54,10 85,17 7,23 
CT5 29,62 55,30 84,92 6,98 
2011 CT1 (ĐC) 25,90 50,87 76,77 - 
CT2 30,80 53,85 84,65 7,88 
CT3 30,03 54,47 84,50 7,73 
CT4 30,10 54,23 84,33 7,57 
CT5 33,72 53,27 86,98 10,22 
2012 CT1 (ĐC) 26,87 53,07 79,93 - 
CT2 32,40 53,70 86,10 6,17 
CT3 32,93 54,50 87,43 7,50 
CT4 32,00 54,10 86,10 6,17 
CT5 34,77 53,53 88,30 8,37 
Qua bảng số liệu cho thấy các công thức bón bổ sung chế phẩm vi sinh đều 
cho tỷ lệ chè loại A, B cao hơn đối chứng. Sau 3 năm tiến hành thí nghiệm, tỷ lệ 
chè loại A + B cao nhất là công thức 5 (cao hơn đối chứng 8,37%), tiếp đến là 
công thức 3 (7,5%). Công thức 2 và công thức 4 có tỷ lệ chè A + B tương đương 
nhau và cao hơn đối chứng 6,17%. Điều đó chứng tỏ việc sử dụng các chế phẩm 
vi sinh có ảnh hưởng lớn đến chất lượng chè nguyên liệu. 
 101 
3.4.3.2. Thành phần sinh hóa búp chè 
Để đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung các chế phẩm vi sinh đến 
thành phần sinh hóa búp chúng tôi tiến hành phân tích mẫu chè 1 tôm 3 lá kết 
quả thu được thể hiện ở bảng 3.34: 
Bảng 3.34. Ảnh hƣởng của các chế phẩm vi sinh 
đến thành phần sinh hóa búp chè 
Công thức Tanin (%) Cafein (%) Đƣờng khử (%) Axit amin (%) 
CT1 (ĐC) 30,50 2,48 2,03 1,05 
CT2 31,30 2,38 2,34 1,12 
CT3 33,73 2,07 2,38 1,14 
CT4 32,71 2,17 2,40 1,06 
CT5 33,30 2,59 2,43 1,17 
- Sử dụng các chế phẩm vi sinh đều làm tăng hàm lượng tanin trong 
búp chè biến động từ 30,50 - 33,73% Trong đó CT3 (sử dụng phân 
Composmarker) có hàm lượng tanin cao nhất (34,73%). 
- Hàm lượng cafein có sự chênh lệch giữa các công thức, biến động từ 
2,07 - 2,59%. Trong đó chỉ có CT5 có hàm lượng cafein cao hơn đối chứng, 
các công thức còn lại đều có hàm lượng cafein thấp hơn công thức đối chứng 
không bón bổ sung chế phẩm vi sinh. 
- Hàm lượng đường khử có sự chênh lệch rõ rệt giữa các công thức. 
Trong đó công thức 1 (không bón bổ sung chế phẩm vi sinh) có hàm lượng 
đường khử thấp nhất (2,03%) và cao nhất là công thức 5 (2,43%). 
- Hàm lượng axit amin ở các công thức không có sự sai khác, biến động 
từ 1,05 - 1,17%. Trong đó cao nhất là công thức 5 (bón bổ sung chế phẩm 
phân giải nhanh xelluloza) và thấp nhất là công thức 1 (đối chứng – không 
bón bổ sung chế phẩm vi sinh). 
 102 
3.4.3.3. Chất lượng cảm quan chè xanh 
Qua theo dõi ảnh hưởng của các chế phẩm vi sinh đến chất lượng thử 
nếm cảm quan mẫu chè xanh, thu được kết quả thể hiện ở bảng 3.35: 
Bảng 3.35. Ảnh hƣởng của các chế phẩm vi sinh đến 
 thử nếm cảm quan chè xanh giống chè LDP1 
CT 
Ngoại hình Màu nƣớc Mùi Vị Tổng 
điểm 
Xếp 
loại Nhận xét Điểm Nhận xét Điểm Nhận xét Điểm Nhận xét Điểm

File đính kèm:

  • pdfluan_an_nghien_cuu_su_dung_mot_so_vat_lieu_huu_co_va_che_pha.pdf
  • docThong tin LA NCS Ha Thanh Doan 05-2014.doc
  • pdfTom tat English NCS Ha Thanh Doan 05-2014.pdf
  • pdfTom tat Tieng Viet NCS Ha Thanh Doan 05-2014.pdf