Luận án Nghiên cứu sử dụng Multi - Enzyme và probiotic trong nuôi dưỡng lợn con sau cai sữa

Trang 1

Trang 2

Trang 3

Trang 4

Trang 5

Trang 6

Trang 7

Trang 8

Trang 9

Trang 10
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 10 trang mẫu của tài liệu "Luận án Nghiên cứu sử dụng Multi - Enzyme và probiotic trong nuôi dưỡng lợn con sau cai sữa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Luận án Nghiên cứu sử dụng Multi - Enzyme và probiotic trong nuôi dưỡng lợn con sau cai sữa

c nghiệm thức 5a; 5b và 5c ứng với hỗn hợp probiotic tƣơng ứng là probiotic 1, probiotic 2, probiotic 3. Nghiệm thức đối chứng không bổ sung probiotic. Mỗi nghiệm thức có 30 con, nhắc lại 3 lần và có 12 đơn vị thí nghiệm. Lợn thí nghiệm đƣợc chọn đồng đều về giống, loại lợn, khối lƣợng, tuổi, tình trạng sức khỏe. Diễn giải chi tiết của thí nghiệm 5 đƣợc trình bày tại bảng 2.7. Bảng 2.7. Diễn giải thí nghiệm 5 STT Diễn giải ĐVT ĐC 5a 5b 5c 1. Số lƣợng lợn TN con 30 30 30 30 2. Giống lợn (♂ PiDu x ♀ LY) 3. Tính biệt ♂/♀ 15/15 4. Tuổi lợn TN ngày 21 - 56 5. Thời gian TN ngày 35 6. KL bắt đầu TN kg 7,16a ± 0.35 7,18a ± 0.33 7,17a ± 0.31 7,17a ± 0.31 7. Yếu tố TN KPCS KPCS + Probiotic 1 KPCS + Probiotic 2 KPCS + Probiotic 3 Thành phần các chủng vi khuẩn trong các hỗn hợp probiotic đƣợc trình bày tại bảng 2.8. Bảng 2.8. Thành phần của các chủng vi khuẩn trong hỗn hợp probiotic STT Probiotic 1 Probiotic 2 Probiotic 3 1. Lactobacillus acidophilus Lactobacillus acidophilus Lactobacillus acidophilus 2. Bacillus subtilis Lactobacillus casei Bacillus subtilis 3. Saccharomyces cerevisiae Saccharomyces cerevisiae β - glucanase Mật độ vi sinh vật trong mỗi chế phẩm là 108 CFU/g: Liều bổ sung 1 kg/500 kg TĂ. 55 * Khẩu phần thức ăn thí nghiệm Khẩu phần ăn đƣợc xây dựng bằng phần mềm Brill Formulation (USA). Khẩu phần thức ăn thí nghiệm có cùng mức năng lƣợng trao đổi (3200 Kcal/kg thức ăn), protein tổng số (19 %), mức một số axit amin trong khẩu phần nhƣ sau (g/kg thức ăn): Lyzin 12,40; threonin 8,07; methionin + cystin 6,83; tryptophan 2,36 đƣợc trình bày ở bảng 2.9. Bảng 2.9. Thành phần và giá trị dinh dưỡng của thức ăn thí nghiệm 5 STT Diễn giải ĐVT ĐC 5a 5b 5c 1. Ngô % 52,22 52,22 55,22 52,22 2. Gạo tấm % 10,00 10,00 10,00 10,00 3. Khô đậu tƣơng % 20,99 20,99 20,99 20,99 4. Bột cá % 6,00 6,00 6,00 6,00 5. Bột sữa khử bơ % 8,00 8,00 8,00 8,00 6. Lyzin % 0,07 0,07 0,07 0,07 7. Methionin % 0,02 0,02 0,02 0,02 8. Threonin % 0,03 0,03 0,03 0,03 9. Tryptophan % 0,01 0,01 0,01 0,01 10. Dầu ăn % 0,32 0,32 0,32 0,32 11. Muối ăn % 0,12 0,12 0,12 0,12 12. Bột khoáng % 0,53 0,53 0,53 0,53 13. DCP % 1,39 1,39 1,39 1.39 14. Premix - vitamin % 0,30 0,30 0,30 0,30 Tổng % 100 100 100 100 Probiotic CFU/g TĂ 0 10 8 probiotic 1 10 8 probiotic 2 10 8 probiotic 3 Giá trị dinh dưỡng 1 kg thức ăn Năng lƣợng Kcal 3200 3200 3200 3200 Protein g 190,10 190,10 190,10 190,10 Lyzin g 12,40 12,40 12,40 12,40 Threonin g 8,07 8,07 8,07 8,07 Tryptophan g 2,36 2,36 2,36 2,36 Met + Cys g 6,83 6,83 6,83 6,83 Canxi g 10,00 10,00 10,00 10,00 Photpho g 8,00 8,00 8,00 8,00 Chất xơ g 34,56 34,56 34,56 34,56 * Phương pháp chăm sóc nuôi dưỡng lợn thí nghiệm Lợn thí nghiệm đƣợc nuôi dƣỡng đảm bảo đồng đều các yếu tố thí nghiệm nhƣ giống, tính biệt, khối lƣợng, điều kiện chăm sóc nuôi dƣỡng. Lợn thí nghiệm đƣợc nuôi trên chuồng sàn, thức ăn và nƣớc uống đƣợc cung cấp tự do qua hệ thống máng ăn và máng uống tự động. 56 * Các chỉ tiêu theo dõi của thí nghiệm 5 - Sinh trƣởng tích lũy của lợn thí nghiệm (kg/con) - Sinh trƣởng tuyệt đối của lợn (g/con/ngày) - Lƣợng thức ăn tiêu thụ (kg/con/ngày) - Hệ số chuyển hóa thức ăn (kg TĂ/kg tăng khối lƣợng) - Tỷ lệ hiệu dụng protein (g/kg tăng khối lƣợng) - Tiêu tốn NLTĐ/kg tăng khối lƣợng (Kcal) - Hệ số chuyển hóa lyzin (g/kg tăng khối lƣợng) - Chi phí thức ăn cho 1 kg tăng khối lƣợng (KL) (đồng) * Phương pháp theo dõi và tính toán các chỉ tiêu thí nghiệm 5: Giống nhƣ các phƣơng pháp của thí nghiệm 2 (Từ trang 46 đến trang 47). * Thuật toán xử lý thống kê yij = µ + Ti + eij Trong đó: yij : Chỉ tiêu nghiên cứu µ : Trung bình quần thể Ti : Ảnh hƣởng của yếu tố thí nghiệm (i = 1 → 4) eij : Ảnh hƣởng của ngẫu nhiên. 2.3. Phương pháp xử lý số liệu Số liệu thu thập trong thí nghiệm đều đƣợc xử lý trên phần mềm thống kê IRRISTAT 5.0; phần mềm STAGRAPH version 4.0 và chƣơng trình Excel 2007. Đánh giá kết quả phân tích phƣơng sai nhƣ sau: P<0,05: Sai khác có ý nghĩa ở mức 95 %. P≥ 0,05: Sai khác không có ý nghĩa. 57 Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1. Nội dung 1. Nghiên cứu ảnh hưởng của multi - enzyme đến tỷ lệ tiêu hóa protein, tinh bột, chất xơ và sinh trưởng của lợn con sau cai sữa nuôi bằng khẩu phần có mức protein khác nhau. 3.1.1. Kết quả thí nghiệm 1 Nghiên cứu ảnh hưởng của multi - enzyme đến khả năng tiêu hóa protein, tinh bột và chất xơ của khẩu phần thí nghiệm 3.1.1.1. Tỷ lệ tiêu hoá protein của lợn con thí nghiệm 1 Protein có vai trò quan trọng trong dinh dƣỡng của lợn con giai đoạn sau cai sữa. Protein đóng vai trò quan trọng trong sinh trƣởng của vật nuôi và là thành phần chính của các cơ, tham gia vào hầu hết các phản ứng hoá học trong cơ thể động vật. Thông thƣờng để bổ sung đủ protein cho nhu cầu, ngƣời ta cho lợn ăn khẩu phần có mức protein khá cao. Khi đó, nảy sinh vấn đề về khả năng tiêu hóa và ô nhiễm môi trƣờng. Điều này đã khiến các nhà khoa học nghiên cứu, tìm tòi nhiều biện pháp làm giảm lƣợng protein thải ra trong phân bằng việc tăng tỷ lệ tiêu hóa protein trong thức ăn. Kết quả nghiên cứu về tỷ lệ tiêu hóa protein của lợn con thí nghiệm đƣợc trình bày ở bảng 3.1. Bảng 3.1. Tỷ lệ tiêu hoá protein của lợn con thí nghiệm 1 STT Diễn giải ĐVT ĐC 1a 1b 1c 1. Lƣợng TĂ ăn vào bình quân g/con 1277,60 1276,88 1276,90 1283,63 2. Tỷ lệ protein thức ăn % 20,00 20,00 19,00 18,00 3. Lƣợng protein ăn vào bình quân g/con 256,92 255,37 242,61 231,05 4. KL phân thải ra bình quân g/con 366,13 360,80 363,98 358,50 5. Tỷ lệ protein trong phân % 9,18 8,34 8,13 8,17 6. Tổng lƣợng protein thải ra bình quân g/con 33,61 30,09 29,59 29,29 7. Lƣợng protein TH bình quân g/con 223,31 225,29 213,02 201,76 8. Tỷ lệ TH protein % 86,92b ± 1,16 88,22a ± 0,78 87,80ab ± 0,58 87,32ab ± 0,81 a,b Theo hàng ngang, những số mang các mũ có chữ cái khác nhau thì sai khác giữa chúng có ý nghĩa thống kê (P<0,05). SE của tỷ lệ tiêu hóa protein = 0,5149; 5% LSD = 1,285 58 Kết quả bảng 3.1 cho thấy, với cùng mức protein trong khẩu phần thì lƣợng protein ăn vào bình quân của hai nghiệm thức ĐC (Không bổ sung multi - enzyme) và 1a (Có bổ sung multi - enzyme) là tƣơng đƣơng nhau (256,92 và 255,37 g/con) vì lợn con ở cả hai nghiệm thức này đều đƣợc nuôi bằng khẩu phần có mức protein nhƣ nhau ( 20 %). Trên cơ sở các số liệu về lƣợng thức ăn ăn vào, lƣợng phân thải ra, tỷ lệ protein trong thức ăn và trong phân, chúng tôi đã tính đƣợc tỷ lệ tiêu hóa protein của lợn con ở ĐC là 86,92 % và của 1a là 88,22 %. Kết quả xử lý thống kê cho thấy, tỷ lệ tiêu hóa protein của lợn con ở ĐC và nghiệm thức 1a có sự sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05). Điều này cho thấy, ở cùng mức protein của khẩu phần, việc bổ sung thêm multi - enzyme có ảnh hƣởng rõ rệt đến tỷ lệ tiêu hóa protein thô của lợn con sau cai sữa. Khi giảm mức protein trong khẩu phần từ 20 % xuống 18 % (Nghiệm thức 1a, 1b và 1c), lƣợng protein ăn vào của lợn con giảm đi rõ rệt (giảm từ 255,37 - 242,61 - 231,05 g/con), đồng thời lƣợng protein thải ra trong phân cũng giảm theo từ 30,09 - 29,59 - 29,29 g/con. Kết quả tính toán về tỷ lệ tiêu hóa protein của những nghiệm thức này cho thấy, khi giảm mức protein trong khẩu phần kết hợp bổ sung multi - enzyme, tỷ lệ tiêu hoá protein không có sự sai khác rõ rệt (từ 88,22 - 87,80 - 87,32 % tƣơng ứng nghiệm thức 1a, 1b và 1c (P≥0,05). Điều này cho thấy, với những khẩu phần có mức protein thấp hơn, mặc dù có sự sai khác về tỷ lệ protein so với năng lƣợng trao đổi của thức ăn, nhƣng với việc bổ sung multi - enzyme tiêu hóa, tỷ lệ tiêu hoá protein tổng số của lợn con không bị ảnh hƣởng. Khi so sánh giữa việc bổ sung multi - enzyme kết hợp giảm mức protein trong khẩu phần (Nghiệm thức 1b và 1c) với việc không bổ sung multi - enzyme mà vẫn giữ nguyên mức protein trong khẩu phần ở mức cao (ĐC), chúng tôi thấy tỷ lệ tiêu hoá protein tổng số của lợn con không có sự sai khác có ý nghĩa thống kê (P≥0,05). Cụ thể, tỷ lệ tiêu hóa protein của lợn con là 87,80 - 87,32 - 87,00 % tƣơng ứng với nghiệm thức 1b, 1c và ĐC. Nhƣ vậy với khẩu phần có mức protein trong thức ăn khác nhau nhƣng đƣợc bổ sung thêm multi - enzyme không gây ảnh hƣởng lớn đến tỷ lệ tiêu hoá protein 59 của lợn con thí nghiệm. Điều này cho phép gợi mở hƣớng sử dụng khẩu phần có mức protein thấp hơn, trên cơ sở bổ sung axit amin tinh khiết, vừa góp phần tiết kiệm thức ăn protein, vừa giảm thiểu lƣợng nitơ thải ra môi trƣờng. Đã có nhiều công trình nghiên cứu nhằm nâng cao tỷ lệ tiêu hóa của lợn con. Trong đó, việc bổ sung kháng sinh để cải thiện tỷ lệ tiêu hoá đã không còn là vấn đề mới, nhƣng việc nâng cao tỷ lệ tiêu hoá thức ăn thông qua việc bổ sung multi - enzyme hay các chế phẩm sinh học khác cũng còn rất nhiều các kết quả trái ngƣợc nhau. Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Tiết và cs (2002) [47] cho thấy, đã có sự cải thiện về tỷ lệ tiêu hoá protein thô ở lợn khi sử dụng proteaza đối với lợn có khối lƣợng 25 kg. Officer (2000) [113] lại cho biết, lợn con có khả năng tiết proteaza với mức hoạt lực cao do đó việc bổ sung proteaza có thể là không cần thiết trừ một giai đoạn ngắn 1 - 2 tuần ngay sau khi cai sữa. Kết quả nghiên cứu của Trần Quốc Việt và cs (2007) [60] cho thấy, tỷ lệ tiêu hoá protein tổng số của lợn con khi đƣợc nuôi bằng các khẩu phần có bổ sung chế phẩm probiotic đã đƣợc cải thiện hơn từ 85,00 - 88,90 % so với khẩu phần không sử dụng probiotic. Tác giả Hồ Trung Thông (2006) [42] cho biết, đối với lợn ở giai đoạn sinh trƣởng, tỷ lệ tiêu hoá protein biểu kiến tăng dần và có khuynh hƣớng đạt giá trị cực đại khi tăng tỷ lệ protein từ 4,58 - 30,02 % (tính theo vật chất khô). Tác giả đã kết luận rằng, đối với các thí nghiệm nghiên cứu xác định tỷ lệ tiêu hoá cần phối hợp khẩu phần có hàm lƣợng protein không quá thấp (không nên thấp hơn 14 % tính theo vật chất khô). Mặc dù thí nghiệm của chúng tôi tiến hành trên lợn ở giai đoạn sau cai sữa, nhƣng kết quả thí nghiệm cũng cho thấy sự tƣơng đồng với thí nghiệm tác giả. Tiếp theo, Hồ Trung Thông và cs (2008) [43] đã tiến hành thí nghiệm thử mức tiêu hoá trên lợn F1 (Landrace x Yorkshire) ở khối lƣợng cơ thể bình quân 43,2 kg cho thấy, tỷ lệ tiêu hoá nitơ toàn phần biểu kiến của lợn thí nghiệm không có sự khác nhau giữa các nghiệm thức có và không bổ sung enzyme, thậm chí ở cả các mức enzyme khác nhau. Tác giả đã kết luận, đối với lợn ở giai đoạn sinh trƣởng (Khối lƣợng từ 40 - 50 kg), việc bổ sung proteaza vào khẩu phần không có tác dụng cải thiện tỷ lệ tiêu hoá protein của lợn. 60 3.1.1.2. Tỷ lệ tiêu hoá tinh bột của lợn thí nghiệm 1 Tinh bột là hợp chất cao phân tử, không hoà tan trong nƣớc, tạo ra dung dịch keo dính, khả năng dính kết khác nhau theo thành phần và số lƣợng hợp chất. Hợp chất này là nguồn năng lƣợng quan trọng trong quá trình trao đổi chất ở cây, trong dinh dƣỡng của con ngƣời và động vật. Thành phần của tinh bột bao gồm 2 loại polysaccarit khác nhau về cấu tạo và tính chất: amyloz và amylopectin. Hàm lƣợng tinh bột trong các loại hạt ngũ cốc nhƣ ngô, gạo v.v.. chiếm tỷ lệ khá cao. Đây là nguồn cung cấp năng lƣợng chính cho lợn. Kết quả nghiên cứu về tỷ lệ tiêu hoá tinh bột đƣợc trình bày tại bảng 3.2. Bảng 3.2. Tỷ lệ tiêu hoá tinh bột của lợn con thí nghiệm 1 STT Diễn giải ĐVT ĐC 1a 1b 1c 1. Lƣợng TĂ ăn vào bình quân g/con 1277,60 1276,88 1276,90 1283,63 2. Tỷ lệ tinh bột TĂ % 54,69 54,69 55,90 57,16 3. Lƣợng tinh bột ăn vào bình quân g/con 698,72 698,32 713,78 733,72 4. KL phân thải ra bình quân g/con 366,13 360,80 363,98 358,50 5. Tỷ lệ tinh bột trong phân % 41,25 38,04 39,74 42,91 6. Lƣợng tinh bột thải ra bình quân g/con 151,03 137,25 144,65 153,83 7. Lƣợng tinh bột tiêu hóa bình quân g/con 547,69 561,07 569,13 579,89 8. Tỷ lệ tiêu hoá tinh bột % 78,38b±1,91 80,34a±2,85 79,73ab±2,01 79,03b±1,51 a,b Theo hàng ngang, những số mang các mũ có chữ cái khác nhau thì sai khác giữa chúng có ý nghĩa thống kê (P<0,05). SE của tỷ lệ tiêu hóa tinh bột = 0,3193; 5% LSD của tỷ lệ tiêu hóa tinh bột = 1,104. Kết quả bảng 3.2 cho thấy, với cùng lƣợng tinh bột ăn vào tƣơng đƣơng nhau của lợn ở ĐC (698,72 g/con) và nghiệm thức 1a (698,32 g) (Hai nghiệm thức có cùng mức protein thô trong khẩu phần là 20 %), tỷ lệ tiêu hóa tinh bột của lợn con có chiều hƣớng tích cực hơn khi đƣợc bổ sung thêm multi - enzyme. Cụ thể, tỷ lệ tiêu hóa tinh bột ở nghiệm thức 1a (có bổ sung thêm multi - eznyme) đạt 80,34 %, cao hơn đối chứng 1,96 % (Không bổ sung multi - enzyme), sự sai khác này có ý nghĩa thống kê 61 với P<0,05. Điều này cho thấy hiệu quả tác động của multi - enzyme đối với tỷ lệ tiêu hóa tinh bột của lợn con là rõ rệt. Chúng ta đã biết, khả năng tiêu hoá tinh bột của lợn con giai đoạn sau cai sữa chƣa thực sự hoàn chỉnh, vì vậy việc bổ sung thêm enzyme tiêu hoá sẽ có tác dụng tốt đến tỷ lệ tiêu hoá tinh bột của chúng. Một số tác giả có ý kiến đồng thuận về vấn đề này nhƣ Nguyễn Thị Tiết và cs (2002) [47], Đỗ Văn Quang và cs (2005) [35]. Đối với khẩu phần có mức protein thấp hơn 19 và 18 % có bổ sung multi - enzyme (Nghiệm thức 1b và 1c), tỷ lệ tiêu hóa tinh bột không có sự sai khác có ý nghĩa thống kê so với khẩu phần đối chứng (20 % và không bổ sung multi - enzyme). Tƣơng ứng nghiệm thức 1b, 1c là 79,73 %; 79,03 % và của ĐC là 78,38 % (P≥0,05). Trong khi khẩu phần có mức protein thấp hơn thƣờng có lƣợng tinh bột cao hơn, điều này cũng cho thấy tác động tích cực của multi - enzyme đối với tiêu hóa tinh bột của lợn con sau cai sữa. Đối với các khẩu phần có mức protein khác nhau đƣợc bổ sung multi - enzyme (1a - 1b và 1c), tỷ lệ tiêu hóa tinh bột có sự biến động khác nhau. Khi so sánh các cặp nghiệm thức 1a và 1b, cặp nghiệm thức 1b và 1c, tỷ lệ tiêu hóa tinh bột không có sai khác có ý nghĩa thống kê (P≥0,05), mặc dù lƣợng tinh bột ăn vào của lợn con có xu hƣớng tăng lên (698,32 - 713,78 g/con và 713,78 - 733,72 g/con). Nhƣng khi mức protein tiếp tục giảm xuống 18 %, mặc dù vẫn đƣợc bổ sung multi - enzyme (nghiệm thức 1c), tỷ lệ tiêu hóa tinh bột của lợn con đã bị giảm thấp (79,03 %). Nếu so với nghiệm thức 1a (20 % protein và có bổ sung multi - enzyme), sự sai khác này có ý nghĩa thống kê (P<0,05). Điều này cho thấy, do khẩu phần thử mức tiêu hoá gồm chủ yếu là ngô, gạo tấm, khô đậu tƣơng, v.v... là nguồn cung cấp năng lƣợng chính cho lợn con giai đoạn sau cai sữa, khi giảm mức protein trong thức ăn thƣờng kéo theo việc tăng tỷ lệ tinh bột. Đây là một trở ngại lớn trong khi khả năng tiêu hoá tinh bột của lợn con giai đoạn này chƣa thực sự hoàn chỉnh. Các nghiên cứu về sinh lý tiêu hóa của lợn con đã chỉ ra rằng, các enzyme tiêu hóa amylaza và maltaza có trong nƣớc bọt và dịch tụy lợn con ngay từ lúc mới đẻ, nhƣng ở giai đoạn dƣới 3 tuần tuổi hoạt 62 tính còn thấp, cho nên tỷ lệ tiêu hóa tinh bột của lợn con kém, chỉ tiêu hóa đƣợc khoảng 50 % lƣợng tinh bột ăn vào. Sau đó, hoạt tính của hai loại enzyme này mới tăng lên, tỷ lệ tiêu hóa tinh bột mới đƣợc cải thiện (Kiss, 1956; dẫn theo Võ Trọng Hốt và cs. 2000) [17]. Vì vậy việc bổ sung thêm multi - enzyme sẽ có tác dụng tốt đến tỷ lệ tiêu hoá tinh bột của lợn con. Tuy nhiên, với khẩu phần có lƣợng tinh bột quá cao, hiệu quả tác động của enzyme bổ sung cũng bị hạn chế. Các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nƣớc về sử dụng enzyme tiêu hoá cho lợn ở các độ tuổi khác nhau cũng đã cho thấy, việc sử dụng enzyme tiêu hoá chỉ có tác dụng đối với lợn nhỏ, đặc biệt đối với lợn con giai đoạn sau cai sữa (Officer, 2000) [113]; (Nguyễn Thị Tiết và cs, 2002) [47] nhƣng không có kết quả rõ rệt đối với lợn lớn (Hồ Trung Thông và cs, 2008) [43]. Nhƣ vậy đã khẳng định vai trò của multi - enzyme trong việc nâng cao tỷ lệ tiêu hóa tinh bột của lợn con giai đoạn sau cai sữa, đồng thời cũng cho thấy khả năng giảm mức protein trong thức ăn ở mức nhất định trên cơ sở sử dụng thêm enzyme tiêu hóa. Tạo cơ hội sử dụng thêm các nguyên liệu thức ăn sẵn có, giá thành thấp tại cơ sở nhƣ ngô, cám gạo, đậu tƣơng .v..v.. góp phần tiết kiệm thức ăn protein, ổn định và phát triển ngành chăn nuôi, nâng cao thu nhập và giảm thiểu ô nhiễm môi trƣờng. 3.1.1.3. Tỷ lệ tiêu hóa chất xơ của lợn thí nghiệm 1 Chất xơ là một cấu trúc phổ biến nhất của thực vật, nó chiếm một lƣợng lớn trong mọi loại cây trồng và là thành phần chủ yếu cấu tạo nên tế bào thực vật. Đối với lợn, đặc biệt là lợn con khả năng tiêu hóa chất xơ không cao. Tuy nhiên, khi đƣợc nuôi bằng khẩu phần có mức xơ thấp có tác dụng tăng cƣờng nhu động của hệ thống tiêu hoá và tạo khuôn phân để hoạt động thải phân của vật nuôi đƣợc thuận lợi. Ngoài ra, cũng rất cần thiết có một mức xơ thích hợp để đảm bảo cảm giác no ở vật nuôi, một loại cảm giác quan trọng trong hoạt động của chúng. Kết quả theo dõi về tỷ lệ tiêu hoá xơ trong thức ăn thí nghiệm của lợn con đƣợc trình bày ở bảng 3.3. Kết quả bảng 3.3 cho thấy, khi giảm mức protein của khẩu phần, lƣợng chất xơ của thức ăn có xu hƣớng giảm xuống do sự thay đổi của thành phần thức ăn, tuy nhiên 63 mức giảm không đáng kể (3,36 - 3,28 - 3,12 %). Đây là mức xơ thấp đối với lợn con giai đoạn sau cai sữa so với các tiêu chuẩn ăn. Bảng 3.3. Tỷ lệ tiêu hoá chất xơ của lợn con thí nghiệm 1 STT Diễn giải ĐVT ĐC 1a 1b 1c 1. Lƣợng TĂ ăn vào bình quân g/con 1277,60 1276,88 1276,90 1283,63 2. Tỷ lệ chất xơ trong TĂ % 3,36 3,36 3,28 3,12 3. Lƣợng chất xơ ăn vào bình quân g/con 42,92 42,90 41,88 40,05 4. Khối lƣợng phân thải ra bình quân g/con 366,13 360,80 363,98 358,50 5. Tỷ lệ chất xơ trong phân % 9,47 9,57 9,23 8,89 6. Lƣợng chất xơ thải ra bình quân g/con 34,67 34,53 33,59 31,87 7. Lƣợng chất xơ tiêu hóa đƣợc bình quân g/con 8,25 8,37 8,29 8,18 8. Tỷ lệ tiêu hoá chất xơ % 19,22a±0,41 19,51a±0,78 19,79ab±0,84 20,42b±0,96 a ,b Theo hàng ngang, những số mang các mũ có chữ cái khác nhau thì sai khác giữa chúng có ý nghĩa thống kê (P<0,05). SE của tỷ lệ tiêu hóa xơ = 0,2570; 5% LSD của tỷ lệ tiêu hóa xơ = 0,889 Kết quả nghiên cứu đã xác định đƣợc tỷ lệ tiêu hóa chất xơ của lợn con của các nghiệm thức tƣơng ứng từ 1a - 1b - 1c là 19,51 - 19,79 - 20,42 %. Điều này cho thấy, tỷ lệ tiêu hóa chất xơ của lợn con không cao và chỉ có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi tỷ lệ xơ trong khẩu phần giảm xuống 3,12 % (1c). Các nghiên cứu về tiêu hóa chất xơ của lợn con cho thấy, lợn con không tiết enzyme nội sinh để phân giải xơ, việc tiêu hóa chất xơ chủ yếu do hệ vi sinh vật ở ruột già (Fernando và cs, 2004) [81], vì vậy khả năng tiêu hóa chất xơ bị hạn chế và phụ thuộc rất nhiều vào tỷ lệ xơ trong khẩu phần. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng chứng minh đƣợc khi tỷ lệ chất xơ trong khẩu phần giảm thấp hơn thì tỷ lệ tiêu hóa chất xơ của lợn con tăng lên. Kết luận thí nghiệm 1: Kết quả thí nghiệm thử mức tiêu hoá protein, tinh bột và xơ tổng số của lợn con giai đoạn sau cai sữa nuôi bằng khẩu phần có bổ sung multi - enzyme cho thấy, việc sử dụng multi - enzyme tổng hợp có tác dụng cải thiện tỷ lệ tiêu hóa protein và tinh bột (P<0,05), nhƣng không có tác dụng cải thiện 64 tỷ lệ tiêu hoá chất xơ của lợn con (P≥0,05). Khi giảm mức protein của khẩu phần xuống 19 %, tỷ lệ tiêu hóa protein và tinh bột không có sự sai khác đáng kể (P≥0,05). Tiếp tục giảm mức protein xuống 18 %, tỷ lệ tiêu hóa tinh bột sẽ giảm có ý nghĩa thống kê (P<0,05) so với 1a, nhƣng không sai khác rõ rệt so với đối chứng. Nhƣ vậy, chúng ta có thể sử dụng multi - enzyme để bổ sung vào khẩu phần ăn cho lợn con cũng nhƣ khả năng giảm mức protein ở mức độ hợp lý để đảm bảo tỷ lệ tiêu hóa, vừa góp phần giải quyết khủng hoảng của lợn con giai đoạn này, nâng cao kh
File đính kèm:
luan_an_nghien_cuu_su_dung_multi_enzyme_va_probiotic_trong_n.pdf
Tom tat English LA NCS Cu Thuy Nga 03-2014.pdf
Tom tat tieng Viet LA NCS Cu Thuy Nga 03-2014.pdf
TT LA NCS Cu Thi Thuy Nga 03-2014 Final.doc