Luận án Nghiên cứu thực trạng và đề xuất sử dụng hiệu quả đất trồng cà phê huyện Cư M’gar phục vụ tái canh cây cà phê tỉnh Đắk Lắk

Trang 1

Trang 2

Trang 3

Trang 4

Trang 5

Trang 6

Trang 7

Trang 8

Trang 9

Trang 10
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 10 trang mẫu của tài liệu "Luận án Nghiên cứu thực trạng và đề xuất sử dụng hiệu quả đất trồng cà phê huyện Cư M’gar phục vụ tái canh cây cà phê tỉnh Đắk Lắk", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Luận án Nghiên cứu thực trạng và đề xuất sử dụng hiệu quả đất trồng cà phê huyện Cư M’gar phục vụ tái canh cây cà phê tỉnh Đắk Lắk

canh tác. + Là huyện có 29 thành phần dân tộc cùng sinh sống nhưng trình độ dân trí lại không đồng đều. Hơn nữa phong tục, tập quán sinh hoạt và sản xuất khác nhau nên khó khăn trong việc chuyển giao những tiến bộ khoa học kỹ thuật và thực hiện quy hoạch sử dụng đất trồng cà phê. Những khó khăn trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình sử dụng đất trồng cà phê và ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội của huyện Cư M’gar. Vì vậy trong thời gian tới cần có những giải pháp đồng bộ để khắc phục những hạn chế, khai thác lợi thế của huyện để sử dụng hiệu quả đất trồng cà phê và thực hiện thành công nhiệm vụ tái canh cà phê, góp phần thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế - xã hội trên địa bàn. 4.2. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT TRỒNG CÀ PHÊ TẠI HUYỆN CƯ M’GAR, TỈNH ĐẮK LẮK GIAI ĐOẠN 2005 - 2016 4.2.1. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp và đất trồng cà phê tại huyện Cư M’gar giai đoạn 2005 – 2016 4.2.1.1. Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Cư M’gar năm 2016 Theo số liệu thống kê, kiểm kê đến ngày 31/12/2016 của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Cư M’gar, tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 82.450,13 ha. Trong đó: đất nông nghiệp có 74.554,18 ha, chiếm 90,42% diện tích tự nhiên; đất phi nông nghiệp là 7.853,54 ha, chiếm 9,53% diện tích tự nhiên; đất chưa sử dụng có 42,41 ha, chiếm 0,05% diện tích tự nhiên. 71 Trong nhóm đất nông nghiệp của huyện Cư M’gar gồm có đất sản xuất nông nghiệp chiếm diện tích nhiều nhất với 66.345,50 ha chiếm 80,47%, đất lâm nghiệp có 7.979,17 ha chiếm 9,68% và đất nuôi trồng thủy sản có 229,51 ha chiếm 0,28% diện tích nhóm đất nông nghiệp. Bảng 4.4. Hiện trạng sử dụng đất huyện Cư M’gar năm 2016 Thứ tự LOẠI ĐẤT Mã Tổng diện tích (ha) Tỷ lệ (%) I Tổng diện tích đất tự nhiên 82.450,13 100,00 1 Nhóm đất nông nghiệp NNP 74.554,18 90,42 1.1 Đất sản xuất nông nghiệp SXN 66.345,50 80,47 1.1.1 Đất trồng cây hàng năm CHN 7.685,98 9,32 1.1.1.1 Đất trồng lúa LUA 2.725,45 3,31 1.1.1.2 Đất trồng cây hàng năm khác HNK 4.960,53 6,02 1.1.2 Đất trồng cây lâu năm CLN 58.659,52 71,15 1.2 Đất lâm nghiệp LNP 7.979,17 9,68 1.2.1 Đất rừng sản xuất RSX 7.938,35 9,63 1.2.2 Đất rừng phòng hộ RPH 40,82 0,05 1.2.3 Đất rừng đặc dụng RDD 0,00 0,00 1.3 Đất nuôi trồng thuỷ sản NTS 229,51 0,28 1.4 Đất làm muối LMU 0,00 0,00 1.5 Đất nông nghiệp khác NKH 0,00 0,00 2. Nhóm đất phi nông nghiệp PNN 7.853,54 9,53 2.1 Đất ở OCT 1.331,17 1,61 2.1.1 Đất ở tại nông thôn ONT 1.094,36 1,33 2.1.2 Đất ở tại đô thị ODT 236,81 0,29 2.2 Đất chuyên dùng CDG 5.372,69 6,52 2.2.1 Đất xây dựng trụ sở cơ quan TSC 14,94 0,02 2.2.2 Đất quốc phòng CQP 211,25 0,26 2.2.3 Đất an ninh CAN 1.053,58 1,28 2.2.4 Đất xây dựng công trình sự nghiệp DSN 162,54 0,20 2.2.5 Đất sản xuất, kinh doanh phi NN CSK 132,35 0,16 2.2.6 Đất sử dụng vào mục đích công cộng CCC 3.798,03 4,61 2.3 Đất cơ sở tôn giáo TON 5,26 0,01 2.4 Đất cơ sở tín ngưỡng TIN 0,06 0,00 2.5 Đất nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng NTD 193,45 0,23 2.6 Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối SON 950,91 1,15 2.7 Đất có mặt nước chuyên dùng MNC 0,00 0,00 2.8 Đất phi nông nghiệp khác PNK 0,00 0,00 3. Nhóm đất chưa sử dụng CSD 42,41 0,05 3.1 Đất bằng chưa sử dụng BCS 31,90 0,04 3.2 Đất đồi núi chưa sử dụng DCS 10,51 0,01 3.3 Núi đá không có rừng cây NCS 0,00 0,00 72 Đất sản xuất nông nghiệp của huyện Cư M’gar gồm có đất trồng cây hàng năm có diện tích 7.685,98 ha, chiếm 10,31% diện tích nhóm đất nông nghiệp. Đất trồng cây hàng năm trên địa bàn huyện gồm những cây trồng chính như lúa, ngô, khoai lang, sắn, mía, bông vải, rau, đậu, Đất trồng cây lâu năm có 58.659,52 ha, chiếm 78,68% tổng diện tích nhóm đất nông nghiệp. Một số cây lâu năm có diện tích lớn trên địa bàn huyện Cư M’gar là cà phê, cao su, điều, tiêu. Ngoài ra còn có một số cây lâu năm khác như chè, sầu riêng, mít, vải, chôm chôm, cam, quýt, bưởi, thanh long, dứa, xoài, bơ, tuy nhiên diện tích trồng không nhiều. Trong đó cà phê là cây trồng có diện tích lớn nhất với 35.754 ha, chiếm 47,96% diện tích nhóm đất nông nghiệp và được phân bố ở tất cả các xã trên địa bàn huyện. 4.2.1.2. Hiện trạng sử dụng đất trồng cà phê huyện Cư M’gar năm 2016 Trên địa bàn huyện Cư M’gar có nhiều LUT cà phê, bao gồm cà phê trồng thuần và cà phê trồng xen. Theo thống kê của Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Cư M’gar (2017b), diện tích cà phê trồng thuần chiếm 9,53% tổng diện tích đất trồng cà phê và đang có xu hướng ngày càng giảm diện tích. Vì những năm gần đây do ảnh hưởng của thời tiết nên năng suất cà phê bị giảm sút, mặt khác do ảnh hưởng của thị trường, giá cà phê không ổn định nên việc trồng thuần không đảm bảo được cuộc sống cho người dân vì thu nhập của họ chủ yếu dựa vào cà phê. Hiện tại vẫn còn một số hộ trồng cà phê thuần là do thiếu vốn. Còn LUT cà phê trồng xen cho hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều do có sự hỗ trợ qua lại giữa các loại cây với nhau, nếu mất mùa cà phê còn có cây trồng xen bù vào. Huyện Cư M’gar có diện tích cà phê có cây trồng xen chiếm đến 90,47%, trong đó diện tích cà phê xen tiêu chiếm đến 72,05%, cà phê xen bơ chiếm 10,55% và cà phê xen sầu riêng chiếm 6,01%, còn lại là cà phê trồng xen một số cây khác như mít, cam, na, với diện tích rất nhỏ và trồng phân tán. Cà phê xen tiêu là hình thức được phát triển mạnh trong những năm gần đây do giá tiêu luôn ở mức cao, cây tiêu lại nhanh cho thu hoạch. Hơn nữa, khi trồng cà phê xen với cây tiêu sẽ tận dụng được cây che bóng sẵn có trong vườn cà phê như keo dậu cu ba (Lecaena Leucocephala), muồng đen (Cassia seamea), làm cây trụ sống cho cây tiêu vì vậy sẽ giảm chi phí đầu tư. Loại hình cà phê xen bơ và cà phê xen sầu riêng có diện tích chưa nhiều do đây là phương thức trồng xen còn khá mới mẻ đối với nhiều nông hộ, chi phí đầu tư cho kiến thiết 1 ha cà phê xen sầu riêng và xen bơ khá cao, hơn nữa khi trồng thì sau 3 đến 5 năm mới cho thu hoạch nên nhiều nông hộ chưa mạnh dạn đầu tư. 73 Bảng 4.5. Hiện trạng các LUT cà phê huyện Cư M’gar năm 2016 STT Đơn vị hành chính Diện tích (ha) Trong đó (ha) Cà phê thuần Cà phê xen tiêu Cà phê xen sầu riêng Cà phê xen bơ Cà phê xen các cây khác 1 Xã Cư Dliê M'nông 4.222 214,59 2.728,65 327,98 920,52 30,26 2 Xã Cư M'gar 1.189 118,66 890,47 49,28 70,69 59,90 3 Xã Cuôr Đăng 2.103 74,74 1.238,09 401,25 328,49 60,43 4 Xã Cư Suê 2.290 45,57 2.035,81 65,27 134,42 8,93 5 Xã Ea D'rơng 2.530 96,62 1.823,21 181,79 384,89 43,49 6 Xã Ea H'đing 2.034 150,52 1.471,40 133,63 259,34 19,12 7 Xã Ea Kiết 2.245 455,30 1.540,09 71,94 121,23 56,43 8 Xã Ea Kpam 1.286 104,42 886,02 90,05 152,13 53,37 9 Xã Ea Kuếh 1.494 229,18 964,83 83,51 157,32 59,16 10 Xã Ea M'Dróh 2.021 328,04 1.450,64 77,19 97,41 67,71 11 Xã Ea M'nang 630 13,17 531,59 8,57 59,72 16,95 12 Thị trấn Ea Pốk 2.322 56,42 1.758,30 72,83 387,08 47,37 13 Xã Ea Tar 2.834 545,39 1.908,66 123,28 208,62 48,05 14 Xã Ea Tul 4.282 569,53 3.197,44 238,21 236,74 40,08 15 Xã Quảng Hiệp 1.964 88,77 1.628,35 97,11 121,55 28,21 16 Thị trấn Quảng Phú 433 11,47 345,53 37,15 30,79 8,05 17 Xã Quảng Tiến 1.875 305,63 1.360,44 88,69 102,75 17,50 Toàn huyện 35.754 3.408,02 25.759,52 2.147,74 3.773,70 665,01 Tỷ lệ (%) 100,00 9,53 72,05 6,01 10,55 1,86 74 Hình 4.3. Sơ đồ hiện trạng sử dụng đất trồng cà phê huyện Cư M’gar năm 2016 75 Vấn đề đặt ra hiện nay là diện tích cà phê từ 20 năm tuổi trở lên có đến 5.868,60 ha, chiếm 16,41% tổng diện tích cà phê của huyện (Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Cư M’gar, 2017a). Đây là diện tích cà phê đã bước vào giai đoạn già cổi, năng suất kém do hết chu kỳ kinh doanh. Qua đây cho thấy việc tái canh cà phê trên địa bàn huyện trong thời gian tới là rất cần thiết. Bảng 4.6. Diện tích cà phê huyện Cư M’gar phân theo độ tuổi Phân theo tuổi vườn cây (năm) Diện tích (ha) Tỷ lệ (%) Từ 0 < 4 năm 1.487,00 4,16 Từ 4 < 20 năm 28.398,40 79,43 Từ 20 năm trở lên 5.868,60 16,41 Cộng 35.754,00 100,00 4.2.1.3. Biến động sử dụng đất trồng cà phê huyện Cư M’gar giai đoạn 2005 –2016 Cư M’gar là huyện có diện tích, sản lượng cà phê lớn nhất của tỉnh Đắk Lắk và thuộc vùng chỉ dẫn địa lý cà phê mang thương hiệu Buôn Ma Thuột. Tuy nhiên, trong những năm qua do ảnh hưởng của giá cà phê nên diện tích cà phê trên địa bàn huyện cũng có sự biến động (Bảng 4.7). Bảng 4.7. Biến động diện tích cà phê huyện Cư M’gar giai đoạn 2005-2016 STT Năm Tổng diện tích (ha) Diện tích kinh doanh (ha) Tỷ lệ (%) DTKD/tổng DT 1 2005 32.000 31.056 97,05 2 2006 33.200 32.108 96,71 3 2007 33.631 32.259 95,92 4 2008 33.819 32.675 96,62 5 2009 34.081 33.650 98,74 6 2010 36.005 33.933 94,25 7 2011 36.005 34.515 95,86 8 2012 36.001 34.560 96,00 9 2013 36.010 34.560 95,97 10 2014 35.922 34.493 96,02 11 2015 35.831 34.251 95,59 12 2016 35.754 34.060 95,26 Theo số liệu của Chi cục Thống Kê huyện Cư M’gar, năm 2005 diện tích cà phê có 32.000 ha và đến năm 2016 diện tích cà phê trên địa bàn đã tăng lên đến 35.754 ha. Sự phát triển về diện tích, năng suất, sản lượng cà phê đã góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội của huyện phát triển. Đời sống nhân dân, nhất là các hộ trồng cà phê được cải thiện đáng kể, ngày càng có nhiều hộ giàu từ việc sản xuất, kinh doanh cà phê. Tuy nhiên do diện tích cà phê của huyện tăng 76 nhanh trong giai đoạn 2005-2010 nên có nhiều diện tích được trồng trong điều kiện đất đai không phù hợp, thiếu nước tưới dẫn đến năng suất không ổn định đã ảnh hưởng đến thu nhập của người trồng cà phê. Bên cạnh đó, qua điều tra khảo sát cho thấy phần lớn diện tích vườn cà phê vối ở huyện Cư M’gar được trồng trước những năm 2002, trồng bằng giống thực sinh không chọn lọc, cho năng suất thấp, kích thước quả không đồng đều, chín không tập trung gây khó khăn cho việc thu hái và chế biến. Trong những năm gần đây (từ năm 2011 đến 2016) do giá tiêu luôn ở mức cao nên một số nông hộ đã chuyển sang trồng tiêu vì vậy diện tích cà phê của huyện Cư M’gar có xu hướng giảm nhưng không nhiều. 4.2.2. Thực trạng canh tác cà phê tại huyện Cư M’gar - Phân bón Cà phê có thể đưa lại năng suất cao khi được đáp ứng đầy đủ chế độ dinh dưỡng. Các nguyên tố đa lượng như đạm, lân, kali là 3 yếu tố quan trọng cho sinh trưởng, phát triển cũng như kiến tạo năng suất của cây cà phê. Tại huyện Cư M’gar, để chăm sóc vườn cà phê nông hộ đã sử dụng phân hoá học và phân hữu cơ. Theo định mức phân bón cho cây cà phê vối trong thời kỳ kinh doanh trên đất bazan trong Quyết định số 38/2013/QĐ-UBND của tỉnh Đắk Lắk là phân đạm urê: 450 kg/ha/năm, phân đạm SA:250 kg/ha/năm, phân lân: 550 kg/ha/năm, phân kali: 350 kg/ha/năm, phân bón lá 4 kg/ha/năm, phân chuồng: 11 tấn/ha/năm. Tuy nhiên, nông hộ sản xuất cà phê trên địa bàn huyện đã bón phân vô cơ vượt liều lượng khoảng 15% và ít quan tâm bón phân hữu cơ (Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Cư M’gar, 2015). Mặt khác, nhiều nông hộ bón phân theo mưa, rải trên bề mặt, không chú ý đến bón vùi phân trong đất gây thất thoát, lãng phí phân. - Tưới nước Tưới nước có tác dụng duy trì sinh trưởng của cây cà phê, đồng thời là điều kiện để cây ra hoa. Cây cà phê cần một thời kỳ khô hạn để phân hoá mầm hoa, sau đó cây cần được tưới nước đủ để ra hoa tập trung. Giai đoạn nở hoa cây cà phê cần lượng nước lớn hơn nhiều so với các giai đoạn khác vì lúc này quá trình hô hấp xảy ra rất mạnh. Ở giai đoạn nở hoa nếu thiếu nước kèm nhiệt độ không khí cao, ẩm độ không khí thấp, hoa cà phê phát triển bất bình thường thành hoa sao, không thụ phấn được. Cũng có khi hoa đã nhú mỏ sẻ nhưng nếu bị thiếu nước sẽ chuyển thành hoa chanh màu tím nhạt rồi khô rụng. Huyện Cư M’gar hiện có 69 công trình hồ, đập thủy lợi và có 2 nhánh suối lớn là suối Ea Tul và suối Ea M’Dróh, đây là nguồn nước mặt chủ yếu để tưới cà phê trên địa bàn huyện. Hiện nay, nguồn nước mặt đã cung cấp nước tưới cho 77 20.000 ha, chiếm 55,94% tổng diện tích đất cà phê của huyện. Số diện tích cà phê còn lại nông hộ khai thác nguồn nước ngầm như giếng đào, giếng khoan để tưới (Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Cư M’gar, 2015). Vấn đề cần quan tâm hiện nay đó là theo quy trình tưới nước bằng phương pháp tưới gốc do Viện Khoa học và Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên năm 2007 đề xuất cho cà phê vối kinh doanh là 2.000 – 2.500 m3/ha và theo Quyết định số 38/2013/QĐ-UBND của tỉnh Đắk Lắk có quy định số lần tưới cho cà phê là 3 lần/năm thì nông hộ đã tưới nước cao hơn khuyến cáo. Đa số nông hộ sử dụng máy động lực để bơm nước tưới cho cà phê theo phương pháp tưới gốc, chỉ có một số ít nông hộ dùng phương pháp tưới phun mưa (tưới pet) hoặc tưới nhỏ giọt dẫn đến lãng phí nước. Mặt khác, nguồn nước tưới cho cây cà phê được lấy từ giếng chiếm đến 44,06% và việc quản lý, khai thác nước ngầm chưa được kiểm soát, còn khai thác tràn lan sẽ làm ảnh hưởng đến nguồn nước ngầm. Bên cạnh đó đến nay có nhiều đập trên địa bàn huyện do được xây dựng đã lâu nên đã xuống cấp cần được nâng cấp sửa chữa. Vì vậy để giải quyết bài toán đảm bảo nước tưới cho cây cà phê trong mùa khô thì cần có sự quan tâm hơn nữa của Nhà nước để hỗ trợ nguồn kinh phí xây dựng, nâng cấp các hồ đập trên địa bàn. - Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật Cây cà phê thường bị một số bệnh hại chính như rệp sáp, mọt đục cành, bệnh gỉ sắt, vì vậy nông hộ cần phải sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để diệt các bệnh hại trên cây cà phê. Trong thời gian qua, phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp và lồng ghép các chương trình dự án của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên, Trường Đại học Tây nguyên, các cơ quan chuyên môn cũng như các công ty, doanh nghiệp đã triển khai chương trình chuyển giao các tiến bô ̣ khoa hoc̣ ky ̃ thuâṭ áp duṇg sản xuất cà phê bền vững đến với người dân, trong đó xây dưṇg các mô hình trình diêñ, quản lý dịch hại tổng hợp trên cây cà phê. Bên cạnh đó, UBND huyện cũng đã chỉ đạo phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với các đơn vị sản xuất kinh doanh cà phê trong địa bàn tỉnh để triển khai, thực hiện chương trình cà phê có thông tin chứng nhận trên địa bàn huyện, qua đó việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên cây cà phê đã có những chuyển biến tích cực, tỷ lệ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật của nông hộ đã giảm đáng kể. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn một số nông hộ sử dụng thuốc diệt cỏ phun trong vườn cà phê và bờ lô cà phê vì vừa diệt cỏ nhanh vừa ít tốn công lao động. Mặt khác, vẫn còn tình trạng một số nông hộ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật 78 không đúng cách do chưa có nhận thức đầy đủ về việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sẽ gây tác động xấu đến môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe người sản xuất trực tiếp và dân cư. Đây cũng là tồn tại về tập quán canh tác trong quá trình phát triển sản xuất cà phê của huyện Cư M’gar. 4.2.3. Đánh giá hiệu quả các loại sử dụng đất trồng cà phê 4.2.3.1. Hiệu quả kinh tế Đánh giá hiệu quả kinh tế của các LUT cà phê trên địa bàn huyện Cư M’gar theo tổng giá trị sản xuất, tổng lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận của từng tiểu vùng. Kết quả điều tra cho thấy hiệu quả kinh tế của các LUT cà phê có sự khác nhau do giá bán của sản phẩm cây trồng xen như tiêu, sầu riêng, bơ có sự khác nhau. Mặt khác do mỗi tiểu vùng có chất lượng đất đai và điều kiện sản xuất khác nhau dẫn đến năng suất cà phê và các cây trồng xen khác nhau nên hiệu quả của các LUT cà phê tại các tiểu vùng cũng có sự khác nhau. Bảng 4.8. Hiệu quả kinh tế của các LUT cà phê trên địa bàn huyện Cư M’gar STT Các LUT theo tiểu vùng GTSX (1.000đ) Tổng chi phí (1.000đ) Tổng lợi nhuận (1.000đ) Tỷ suất lợi nhuận (%) 1 Tiểu vùng 1 LUT cà phê thuần 121.565 77.101 44.464 57,67 LUT cà phê xen tiêu 317.859 131.336 186.523 142,02 LUT cà phê xen sầu riêng 271.903 114.579 157.324 137,31 LUT cà phê xen bơ 299.207 106.462 192.745 181,05 2 Tiểu vùng 2 LUT cà phê thuần 111.848 80.054 31.794 39,72 LUT cà phê xen tiêu 284.796 130.932 153.864 117,51 LUT cà phê xen sầu riêng 233.735 118.612 115.123 97,06 LUT cà phê xen bơ 214.091 107.115 106.976 99,87 3 Tiểu vùng 3 LUT cà phê thuần 109.060 79.714 29.346 36,81 LUT cà phê xen tiêu 288.597 127.731 160.866 125,94 LUT cà phê xen sầu riêng 237.062 115.219 121.843 105,75 LUT cà phê xen bơ 249.857 102.504 147.353 143,75 - LUT cà phê thuần Những năm gần đây, thực tiễn tại huyện Cư M’gar cho thấy diện tích LUT cà phê thuần ngày càng giảm. Theo kết quả điều tra thì LUT cà phê thuần có hiệu 79 quả kinh tế thấp tại cả 3 tiểu vùng. Trong đó, tại tiểu vùng 1, vì đất đai thích hợp, điều kiện nước tưới thuận lợi nên năng suất cà phê tương đối cao, hơn nữa do điều kiện thuận lợi nên chi phí đầu tư cho cà phê thấp do vậy hiệu quả kinh tế của LUT cà phê thuần tại tiểu vùng 1 đạt cao nhất. Còn tiểu vùng 2, do chất lượng đất kém hơn và điều kiện nước tưới khó khăn hơn tiểu vùng 1 nên năng suất cà phê thấp, mặt khác do điều kiện kém thuận lợi hơn nên chi phí đầu tư cao dẫn đến hiệu quả kinh tế của LUT cà phê thuần thấp hơn tiểu vùng 1. Tiểu vùng 3, cũng vì chất lượng đất kém hơn và điều kiện tưới khó khăn nên năng suất cà phê thấp, mặt khác chi phí đầu tư lại cao dẫn đến hiệu quả kinh tế của LUT cà phê thuần thấp hơn tiểu vùng 1 và tiểu vùng 2. Như vậy, LUT cà phê thuần có hiệu quả kinh tế thấp tại cả 3 tiểu vùng, trong đó tiểu vùng 3 là thấp nhất, tiếp đến là tiểu vùng 2 và cuối cùng là tiểu vùng 1. - LUT cà phê xen tiêu (tiêu là cây trồng xen) Hiệu quả kinh tế của cà phê trồng xen tiêu tại các tiểu vùng trên địa bàn huyện Cư M’gar có sự khác nhau. Cà phê trồng xen tiêu tại tiểu vùng 1 có hiệu quả kinh tế cao nhất, tiếp đến là tiểu vùng 3 và tiểu vùng 2 là thấp nhất. So với cà phê thuần thì cà phê xen tiêu tại tiểu vùng 1 có lợi nhuận cao hơn 142,059 triệu đồng/ha/năm, tại tiểu vùng 2 có lợi nhuận cao hơn 122,070 triệu đồng/ha/năm, tại tiểu vùng 3 có lợi nhuận cao hơn 131,520 triệu đồng/ha/năm. Như vậy, có thể thấy với cách trồng cà phê có xen tiêu không những giúp phát triển hệ thống nông nghiệp bền vững mà còn tăng hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích đất, tăng thu nhập cho nông hộ trồng cà phê ở huyện Cư M’gar. Mặt khác, đối với những nông hộ khó khăn về vốn có thể lấy thu nhập của cây tiêu để đầu tư cho cây cà phê và ngược lại nên sẽ giảm bớt khó khăn về vốn đầu tư cho nông hộ. - LUT cà phê xen sầu riêng (sầu riêng là cây trồng xen) Hiện nay diện tích cà phê trồng xen sầu riêng trên địa bàn huyện Cư M’gar còn ít do đây là cây trồng khá mới đối với nhiều hộ nông dân, hơn nữa với chi phí đầu tư cho kiến thiết 1 ha cà phê xen sầu riêng khá cao và khi trồng thì 4 năm sau mới cho thu hoạch nên nhiều người chưa mạnh dạn đầu tư. Cây sầu riêng lá nhỏ, hơi thưa để tạo ra ánh sáng tán xạ trong vườn cà phê. Theo Nguyễn Thị Tuyết và Lê Ngọc Báu (1999), phương thức trồng xen sầu riêng trong vườn cà phê vối với mật độ hợp lý làm tăng hiệu quả kinh tế 24% so với trồng cà phê thuần. Nếu mật độ trồng xen sầu riêng từ 70 - 90 cây/vườn cà phê vối được xem là mật độ hợp lý để đảm bảo thu nhập từ hai loại cây trồng phối hợp. 80 Mặc dù diện tích cà phê trồng xen cây sầu riêng chỉ chiếm 6,01%. Tuy nhiên thực tế cho thấy cây sầu riêng trồng xen với cây cà phê tại huyện Cư M’gar do thích hợp điều kiện thổ nhưỡng, thời tiết nên có cơm hạt giòn, mềm không nhão, màu vàng đậm, ngọt thanh, bùi, hạt nhỏ và bán được giá cao. Theo kết quả điều tra từ năm 2014 đến năm 2016 giá sầu riêng có biến động nhưng không đáng kể. Giá sầu riêng trung bình trong 3 năm là 24.000 đồng/kg. Hiệu quả kinh tế của cà phê trồng xen sầu riêng tại các tiểu vùng trên địa bàn huyện Cư M’gar có sự khác nhau. Trong
File đính kèm:
luan_an_nghien_cuu_thuc_trang_va_de_xuat_su_dung_hieu_qua_da.pdf
Trang thong tin LA - Dang Thi Thuy Kieu.pdf
TTLA - QLDD - Dang Thi Thuy Kieu.pdf