Luận án Nghiên cứu ứng dụng đột biến thực nghiệm và chỉ thị phân tử để cải tiến giống lúa ST19 và Q2

Trang 1

Trang 2

Trang 3

Trang 4

Trang 5

Trang 6

Trang 7

Trang 8

Trang 9

Trang 10
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 10 trang mẫu của tài liệu "Luận án Nghiên cứu ứng dụng đột biến thực nghiệm và chỉ thị phân tử để cải tiến giống lúa ST19 và Q2", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Luận án Nghiên cứu ứng dụng đột biến thực nghiệm và chỉ thị phân tử để cải tiến giống lúa ST19 và Q2

000 910 91,00 882 88,20 865 86,50 Q2-250Gy 1000 502 50,20 430 43,00 406 40,60 Q2-300Gy 1000 448 44,80 415 41,50 375 37,50 Q2-350Gy 1000 427 42,70 386 38,60 320 32,00 Q2-B 1000 920 92,00 915 91,50 907 90,70 Q2-SA2 1000 917 91,70 904 90,40 891 89,10 Q2-SA2-CNT 1000 910 91,00 902 90,20 894 89,40 Q2-L2-1' 1000 872 87,20 855 85,50 855 85,50 ST19-ĐC 1000 970 97,00 952 95,20 935 93,50 ST19-150Gy 1000 954 95,40 920 92,00 905 90,50 ST19-200Gy 1000 955 95,50 907 90,70 886 88,60 ST19-250Gy 1000 642 64,20 585 58,50 532 53,20 ST19-300Gy 1000 362 36,20 320 32,00 275 27,50 ST19-350Gy 1000 343 34,30 295 29,50 236 23,60 ST19-B 1000 924 92,40 921 92,10 915 91,50 ST19-SA2 1000 878 87,80 875 87,50 860 86,00 ST19-SA2-CNT 1000 927 92,70 905 90,50 895 89,50 ST19-L2-1' 1000 961 96,10 934 93,40 920 92,00 46 Ở thời kì mạ Qua dẫn liệu ở bảng 1 cho thấy: Khi liều chiếu xạ tăng lên thì tỷ lệ sống sót của cây lúa giảm đi rất mạnh đặc biệt là ở các liều cao. Cụ thể: Đối với giống Q2: tỷ lệ sống sót (TLSS) ở lô đối chứng là 98.50% còn các công thức xử lý đột biến chỉ từ 42.7%-97.2%. Tại liều chiếu xạ 300Gy-350Gy đạt tỷ lệ thấp nhất là 44,8 và 42,7% tƣơng ứng. Đối với giống ST19: tỷ lệ sống sót ở lô đối chứng là 97% còn các công thức xử lý đột biến đạt từ 34.3%-96.1%. Đặc biệt ở liều chiếu xạ 300Gy-350Gy đạt tỷ lệ thấp nhất là 36,4 và 34,3% một cách tƣơng ứng. Nhƣ vậy cùng một liều lƣợng chiếu xạ trên các giống lúa khác nhau chúng ta thu đƣợc các số liệu về TLSS ở giai đoạn mạ là khác nhau, điều đó chứng tỏ rằng các giống có bản chất di truyền khác nhau có độ mẫn cảm phóng xạ khác nhau đối với tác động của chiếu xạ. Qua số liệu trình bày ở bảng 3.1 ta thấy rất rõ là giống ST19 có độ mẫn cảm phóng xạ cao hơn so với giống Q2. Bức tranh tƣơng tự nhƣ vậy cũng thấy xuất hiện ở cả hai giống Q2 và ST19 khi xử lí bằng phƣơng pháp sốc nhiệt. Tuy nhiên ở phƣơng pháp xử lí này hiệu quả tác động đến tỷ lệ sống sót ở cả hai giống khi xử lý thấp hơn nhiều so với xử lý phóng xạ. Cụ thể các công thức xử dụng tác nhân nhiệt, tỷ lệ sống sót đạt từ 87,2- 92%. Nhƣ vậy trên cùng một giống nếu xử lý bằng các tác nhân gây đột biến khác nhau thì hiệu quả tác động đến TLSS ở giai đoạn mạ là hoàn toàn khác nhau. Điều đó chứng tỏ rằng hiệu quả gây đột biến phụ thuộc chặt chẽ vào bản chất di truyền của giống và loại tác nhân gây đột biến. Nhận xét này rất phù hợp với nhiều kết quả nghiên cứu trƣớc đây của các tác giả trong và ngoài nƣớc về hiệu quả gây đột biến thực nghiệm bằng các tác nhân vật lí và hóa học trên nhiều đối tƣợng cây trồng khác nhau trong đó có cây lúa ( Phan Phải và cs 1985, Lê Duy Thành và cs 2001, Trần Duy Quý 1970-2005.... ) [18], [16]. Thời kì đẻ nhánh Ở thời kì này TLSS của cây cũng xẩy ra tƣơng tự nhƣ thời kì mạ. Tuy nhiên mức độ gây hại của các tác nhân gây đột biến đã giảm mạnh không còn nhƣ thời kì đầu, nguyên nhân là do các cá thể sống sót đã dần phục hồi đƣợc sức sống để sinh 47 trƣởng và phát triển bình thƣờng nhƣ ở cây đối chứng. Điều này thể hiện rất rõ ở tỷ lệ sống sót của cây qua bảng số liệu 3.1 và hai biểu đồ 3.1 và 3.2. Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ sống sót qua các thời kì ở thế hệ M1 của giống Q2 Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ sống sót qua các thời kì ở thế hệ M1 của giống ST19 Qua dẫn liệu ở bảng 3.1 chúng ta thấy: Đối với giống Q2: tỷ lệ sống sót ở lô đối chứng giảm từ 98,5 % xuống 95% còn các công thức xử lý đột biến đạt từ 42,7-97,2 xuống còn 38,6%-92,5%. Đặc biệt ở liều chiếu xạ 300Gy-350Gy đạt tỷ lệ thấp nhất là 38,6-41,4 % tƣơng ứng. Đối với giống ST19: tỷ lệ sống sót ở lô đối chứng giảm từ 97,0% xuống còn 95,2% và các công thức xử lý đột biến dao động từ 34,3% -95,4% xuống còn 29,5%-93,4%. 48 Đối với tác nhân gây sốc nhiệt cũng có những bức tranh tƣng tự nhƣng mức độ giảm TLSS của cây ở giai đoạn này cũng thấp hơn so với các công thức xử lý phóng xạ. Các công thức xử dụng tác nhân nhiệt, tỷ lệ sống sót đạt từ 92,4-96,1% giảm xuống 87,5%-93,1% Qua hai biểu đồ cho chúng ta thấy rất rõ trong cùng một giống, ở các công thức xử lý phóng xạ và sốc nhiệt khác nhau, trong cùng một giai đoạn phát triển hiệu quả gây chết là hoàn toàn khác nhau và phụ thuộc chặt chẽ vào liệu chiếu xạ và thời gian sốc nhiệt. Xử lý chiếu xạ ở liều càng cao thì tỷ lệ sống sót càng thấp và tỷ lệ sống sót càng giảm ở các giai đoạn sau. Chứng tỏ ảnh hƣởng của tia phóng xạ kéo dài trong suốt quá trình phát triển cá thể của cây lúa. Tỷ lệ sống sót thời kì mạ mà còn ảnh hƣởng kéo dài tới các giai đoạn sau của quá trình sinh trƣởng và phát triển. Thực tế cho thấy nhiều cây đã sống đến giai đoạn mạ nhƣng lại bị chết ở thời kì đẻ nhánh, tỉ lệ cây bị chết phụ thuộc vào liều lƣợng chiếu xạ và đặc tính di truyền của từng giống lúa. Ngoài ra, các yếu tố nhƣ: thời tiết không thuận lợi, sâu bệnh, địch hại (chuột), cũng làm giảm tỷ lệ sống sót ở giai đoạn này. Kết quả trong bảng 3.1 có nhiều điểm phù hợp với nhận xét của Đỗ Hữu Ất [1]. Thời kì trổ chín Nhìn chung từ thời kì đẻ nhánh đến khi trổ chín thì TLSS hầu nhƣ không có biến đổi nhiều, nhƣ bảng 3.1. So sánh giữa các giai đoạn thì TLSS ở các giai đoạn sau càng giảm và giảm hơn so với giai đoạn trƣớc ở cả 2 giống với các liều chiếu xạ cũng nhƣ xử lý bằng tác nhân nhiệt độ. Đối với giống Q2: tỷ lệ sống sót (TLSS) ở lô đối chứng là 94,1% còn các công thức xử lý đột biến chỉ từ 32,0 %-91,2%. Tại liều chiếu xạ 300Gy-350Gy đạt tỷ lệ thấp nhất là 37,5 và 32,0% tƣơng ứng. Đối với giống ST19: tỷ lệ sống sót ở lô đối chứng là 93,5% còn các công thức xử lý đột biến đạt từ 23,6%-92,0%. Đặc biệt ở liều chiếu xạ 300Gy-350Gy đạt tỷ lệ thấp nhất là 27,5 và 23,6% một cách tƣơng ứng. Tỷ lệ sống sót của 2 giống Q2 49 và ST19 ở giai đoạn mạ cao hơn giai đoạn đẻ nhánh và cao hơn ở thời kì trổ chín. Hiện tƣợng này cho thấy tác dụng gây hại của tia Gamma không chỉ gây chết ngay các tế bào phôi mầm hạt mà còn gây chết khi các tế bào phôi mầm phân bào. Hiện tƣợng này còn đƣợc gọi là hiện tƣợng gây chết xa của phóng xạ đối với thực vật. Như vậy: Tỷ lệ sống sót qua các thời kì phản ánh rõ rệt nhất tác động gây hại của tia gamma lên mô, tế bào và sức sống của cơ thể. Nhiều công trình nghiên cứu về tác dụng của tia phóng xạ lên hạt khô đều thống nhất kết luận: Liều lƣợng thấp có tác dụng kích thích hạt nảy mầm và sinh trƣởng, phát triển. Liều lƣợng cao thì ức chế sinh trƣởng, phát triển và nếu liều lƣợng chiếu xạ cao hơn nữa sẽ gây chết tế bào và cơ thể. Nhiều công trình nghiên cứu cũng đã khẳng định: Liều lƣợng gây chết 50% đối với chiếu xạ hạt khô của các giống lúa thuộc loài O.sativa L. là 45 – 50 kR. 3.2. Nghiên cứu ảnh hƣởng của các tác nhân gây đột biến đến một số đặc tính nông sinh học của cây lúa sau khi xử lý ở thế hệ M1, M2, M3. 3.2.1. Ảnh hưởng của tác nhân đột biến đến chiều cao cây. Theo “Hệ thống tiêu chuẩn quốc tế đánh giá cây lúa” IRRI (1996), có thể phân loại chiều cao cây lúa nhƣ sau: Bán lùn: Vùng trũng < 110cm, vùng cao < 90cm. Trung bình: Vùng trũng < 110 – 130cm, vùng cao < 90 – 125cm. Cao: Vùng trũng > 130cm, vùng cao > 125cm [112]. Cây có chiều cao kém cây thấp nhất trong lô đối chứng ≥ 20 cm gọi là biến dị thấp cây, cây có chiều cao hơn cây cao nhất trong lô đối chứng ≥ 20 cm gọi là biến dị cao cây [1], [3]. Trong nghiên cứu về đột biến thực nghiệm đặc tính chiều cao cây là một trong những chỉ tiêu quan trong để đánh giá hiệu quả của các tác nhân gây đột biến. Vì vậy chúng tôi tập trung vào nghiên cứu khá kĩ về vấn đề này. Kết quả theo dõi các dạng biến dị và đột biến về chiều cao cây xuất hiện ở quần thể 2 giống lúa Q2 và ST19 ở các thế hệ M1, M2, M3 đƣợc trình bầy trên ba 50 bảng số liệu 3.2; 3.3 và 3.4. Số liệu trên các bảng cho thấy cho thấy các dạng biến dị và đột biến về chiều cao cây đều xuất hiện ở các công thức chiếu xạ trên hạt khô. Liều không chiếu xạ không xuất hiện các đột biến về hình thái nào có thể nhận biết đƣợc. Số liệu bảng 3.2 khi chiếu xạ hạt khô cho thấy ở M1, tần số biến dị cao cây và thấp cây đều xuất hiện với tần số khác nhau tùy thuộc loại tác nhân gây đột biến, liều lƣợng của chúng và bản chất của giống. Bảng 3.2. Tần số biến dị về chiều cao cây của các dòng lúa thế hệ M1 (Vụ xuân 2014) Công thức TN Q2 ST19 Cao cây Thấp cây Cao cây Thấp cây Số cây Tỉ lệ (%) Số cây Tỉ lệ (%) Số cây Tỉ lệ (%) Số cây Tỉ lệ(%) ĐC 0 0,00 0 0,00 0 0,00 0 0,00 150Gy 0 0,00 1 0,11 1 0,11 2 0,22 200Gy 1 0,12 2 0,23 1 0,11 3 0,34 250Gy 2 0,49 4 0,99 2 0,38 3 0,56 300Gy 1 0,27 3 0,80 3 1,09 4 1,45 350Gy 2 0,63 4 1,25 2 0,85 4 1,69 B 0 0,00 0 0,00 1 0,11 1 0,11 SA2 1 0,11 1 0,11 1 0,12 1 0,12 SA2-CNT 1 0,11 2 0,22 1 0,11 1 0,11 L2-1' 0 0,00 1 0,12 1 0,11 2 0,22 Cụ thể đối với giống Q2 khi liều chiếu xạ tăng từ 150Gy lên đến 350Gy thì tần số biến dị cao cây tăng từ 0% đến 0,63% và tần số biến dị thấp cây biến thiên từ 0,11 đến 1,25%. Nhìn chung khi liều lƣợng tăng lên thì tần số biến dị về chiều cao cây đều tăng lên, cao nhất là liều chiếu xạ 350Gy với biến dị cao cây là 0,63% và biến dị thấp cây là 1,25%. Trong khi đó ở các công thức xử lí bằng sốc nhiệt thì không xuất hiện hoặc xuất hiện với tần số rất thấp. Cụ thể ở công thứ B và công thức L2-1 không xuất hiện một biến dị nào về cao cây chỉ xuất hiện 1 cây thấp cây 51 chiếm 0,11% trong khi đó ở công thức SA2 và SA2-CNT thì xuất hiện cả hai kiểu biến dị cao cây và thấp cây với tần số 0,11-0,22%. Bức tranh tƣơng tự cũng xảy ra đối với giống ST19 khi xử lí phóng xạ và sốc nhiệt. Tuy nhiên mức độ ảnh hƣởng của hai loại tác nhân này mạnh hơn ở giống Q2. Cụ thể khi tăng liều lƣợng chiếu xạ từ 150Gy lên đến 350Gy thì tần số biến dị cao cây xê dịch từ 0,11-1,09%, các công thức xử lý sốc nhiệt từ 0,11-0,22% còn tần số biến dị thấp cây khi tăng liệu chiếu xạ từ 150Gy đến 350Gy thì tăng từ 0,22 đến 1,69%, đối với các công thức xử lí sốc nhiệt tăng từ 0,11-0,22%. Sang đến thế hệ M2 các tác nhân phóng xạ và sốc nhiệt nhìn chung vẫn tiếp tục tác động và làm xuất hiện số lƣợng và tần số đột biến cao cây và thấp cây ở hầu hết các công thức xử lý. Tần số đột biến cũng phụ thuộc chặt chẽ và kiểu tác nhân, liều lƣợng của chúng và bản chất di truyền của giống và đƣợc thể hiện trong bảng 3.3. Qua bảng số liệu 3.3 cho thấy đối với giống Q2 ở công thức đối chứng không thấy xuất hiện một cá thể đột biến nào trong khi đó ở tất cả các công thức xử lý phóng xạ và sốc nhiệt nhìn chung đều xuất hiện các đột biến cao cây và thấp cây. Khi tăng liều chiếu xạ từ 150Gy đến 350Gy thì tần số đốt biến cao cây xê dịch từ 0,11-0,21%, còn ở các công thức sốc nhiệt từ 0-0,11%. Trong khi đó đột biến thấp cây xuất hiện với tần số cao hơn. Cụ thể khi tăng liều lƣợng từ 150Gy đến 350Gy thì tần số đột biến thấp cây tăng từ 0,10-0,54%, còn các công thức xử lí sốc nhiệt tăng từ 0 đến 0,22%. Bức tranh tƣơng tự cũng thể hiện rất rõ trên giống lúa ST19. Cụ thể khi tăng liều chiếu xạ từ 150Gy đến 350Gy thì tần số đột biến cao cây tăng từ 0,10-0,35% và đột biến thấp cây là từ 0,21-0,58% còn các công thức xử lí nhiệt đối với tần số đột biến cao cây và thấp cây đều xê dịch từ 0,11-0,22%. 52 Bảng 3.3. Tần số đột biến về chiều cao cây của các dòng lúa thế hệ M2 (Vụ mùa 2014) Công thức TN Q2 ST19 Cao cây Thấp cây Cao cây Thấp cây Số cây Tỉ lệ (%) Số cây Tỉ lệ (%) Số cây Tỉ lệ (%) Số cây Tỉ lệ(%) ĐC 0 0,00 0 0,00 0 0,00 0 0 150Gy 2 0,20 1 0,10 1 0,10 2 0,21 200Gy 1 0,11 3 0,32 2 0,21 3 0,31 250Gy 1 0,11 3 0,32 1 0,11 4 0,42 300Gy 2 0,21 4 0,43 2 0,22 4 0,43 350Gy 1 0,11 5 0,54 3 0,35 5 0,58 B 0 0,00 0 0,00 1 0,11 2 0,22 SA2 1 0,11 2 0,22 2 0,22 2 0,22 SA2-CNT 1 0,10 3 0,31 1 0,11 1 0,11 L2-1' 0 0,00 1 0,11 1 0,11 2 0,22 Các kết quả trên cũng khá phù hợp với các kết quả của nhiều tác giả trong và ngoài nƣớc đã tiến hành trên các giống lúa khác nhau khi chiếu xạ và xử lí bằng các chất gây đột biến hóa học [16]. Qua bảng 3.4 cho thấy: Sang đến thế hệ M3, tần số xuất hiện đột biến cao ở giống Q2 đạt 0,11%-0,34%, cao nhất ở liều chiếu xạ 200Gy đạt 0,34%. Tần số đột biến thấp cây thấp nhất ở liều chiếu 150Gy đạt 0,23%, còn các công thức xử lí sốc nhiệt đột biến cao cây từ 0 đến 0,21%. Đối với giống ST19, tần số đột biến cao cây xuất hiện cao nhất ở liều chiếu 350Gy đạt 0,33%, tần số đột biến thấp cây xuất hiện đạt cao nhất là 0,77% với liều chiếu 350Gy. Tần số đột biến thấp cây thấp nhất ở liều chiếu 150Gy đạt 0,22%. Đột biến về chiều cao cây thƣờng là những đột biến cây cao hơn đối chứng, có một số đột biến làm cho cây thấp hơn so với đối chứng và những đột biến này thƣờng không có lợi cho chọn giống. 53 Bảng 3.4. Tần số đột biến về chiều cao cây của các dòng lúa thế hệ M3 (Vụ xuân 2015) Công thức TN Q2 ST19 Cao cây Thấp cây Cao cây Thấp cây Số cây Tỉ lệ (%) Số cây Tỉ lệ (%) Số cây Tỉ lệ (%) Số cây Tỉ lệ(%) ĐC 0 0,00 0 0,00 0 0,00 0 0 150Gy 2 0,23 2 0,23 1 0,11 2 0,22 200Gy 3 0,34 5 0,57 3 0,32 6 0,65 250Gy 1 0,11 4 0,43 2 0,20 5 0,51 300Gy 1 0,11 6 0,66 2 0,21 6 0,63 350Gy 1 0,11 4 0,43 3 0,33 7 0,77 B 0 0,00 0 0,00 1 0,11 1 0,11 SA2 1 0,11 2 0,22 2 0,21 1 0,11 SA2-CNT 2 0,21 2 0,21 1 0,11 1 0,11 L2-1' 0 0,00 1 0,11 1 0,10 2 0,21 Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với một số nghiên cứu của các tác giả khác nhi nghiên cứu về ảnh hƣởng của tia gamma đến các đặc điểm hình thái, nông sinh học của cây lúa. Theo nghiên cứu của (Zhu, 2003) [130] thì tần số đột biến nhƣ đẻ nhánh thấp cây, kích hƣớc hạt khoảng 1,78%. Theo Zhu và cs (2003) và Zang và cs (2005) [130], [124] các tính trạng đột biến mới đƣợc công bố nhƣ đột biến về thời gian sinh trƣởng ngắn, đột biến màu látần số đột biến khoảng 2,66- 4,36% tùy thuộc vào từng đột biến. Tuy nhiên, tính trạng chiều cao của cây còn phụ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh và chế độ dinh dƣỡng. Theo tác giả Wattoo và cs (2012) [118] cho thấy chiều cao cây giảm dần khi tăng cƣờng độ bức xạ và chiều cao cây lúa đột biến thấp hơn đáng kể so với đối chứng. Kết quả của Ibrahim S. El- Degwy (2013) [58] khi chiếu xạ vào hạt lúa (giống Sakha 105) với liều 200-250 Gy thấy chiều cao cây giảm ở cả thế hệ M1 và M2. 54 Chiều cao cây không chỉ là yếu tố quyết định cấu trúc của một cây mà còn là một đặc tính nông học quan trọng liên qua trực tiếp đến năng suất thực thu. Chiều cao cây tƣơng quan thuận có ý nghĩa với năng suất hạt (Mir Hosseini, 2012; Aghai et al., 2007) [81], [26], chiều cao cây càng cao, tạo sự thông thoáng cho cây là lƣợng CO2 trong tán càng cao, thúc đẩy quá trình vận chuyển các chất trong cây càng tốt, tạo hiệu quả cao trong quá trình tạo hạt. Vì vậy, trong nghiên cứu này những dòng có chiều cao cây cao sẽ đƣợc chọn để làm nguồn vật liệu cho các thí nghiệm tiếp theo. 3.2.2. Ảnh hưởng của tác nhân đột biến đến khả năng đẻ nhánh. Các biến dị làm tăng số nhánh ở liều chiếu xạ và xử lý bằng sốc nhiệt thể hiện ở bảng 3.5; 3.6; 3.7. Qua bảng số liệu 3.5 cho thấy: tần số xuất hiện biến dị nhiều nhánh cao nhất xuất hiện ở liều chiếu 250Gy (0,60%) ở giống Q2 và ở liều chiếu 300Gy (0,83%) ở giống ST19. Tần số xuất hiện biến dị nhiều nhánh thấp nhất ở các giống với liều chiếu 150Gy và xử lý bằng sốc nhiệt. Các giống có tần số xuất hiện biến dị dao động trong khoảng từ 0,10- 0,48% đối với giống Q2 và khoảng từ 0,10- 0,58% đối với giống ST19 ở các liều chiếu xạ khác nhau. Trên cả 5 liều chiếu xạ và sử dụng sốc nhiệt thì liều chiếu 300Gy xuất hiện nhiều đột biến có lợi hơn so với liều chiếu 350Gy về số cá thể đẻ nhiều nhánh. Tần số xuất hiện biến dị 1- 2 nhánh thấp nhất ở giống Q2 (0,00%) với tác nhân là B, L2-1‟ và SA2. Tuy nhiên, tần số xuất hiện biến dị 1- 2 nhánh xuất hiện cao nhất lại xảy ra ở liều chiếu 350Gy (0,47%) ở giống Q2, (0,58%) ở giống ST19. Tần số xuất hiện biến dị 1- 2 nhánh còn lại nằm trong khoảng từ 0,1- 0,45% đối với giống Q2 và trong khoảng từ 0,1-0,55% đối với giống ST19. Đối với tác nhân là sốc nhiệt thì tại thế hệ M1 ít xuất hiện các biến dị về số nhánh hoặc không xuất hiện các biến dị về số nhánh - đối với giống ST19. 55 Bảng 3.5. Tần số biến dị về số nhánh của các dòng lúa thế hệ M1 (Vụ xuân 2014) Công thức TN Q2 ST19 Nhiều nhánh 1-2 nhánh Nhiều nhánh 1-2 nhánh Số cây Tỉ lệ (%) Số cây Tỉ lệ (%) Số cây Tỉ lệ (%) Số cây Tỉ lệ (%) 150Gy 1 0,10 1 0,10 1 0,10 1 0,10 200Gy 2 0,22 1 0,11 1 0,10 2 0,21 250Gy 3 0,60 2 0,40 2 0,31 1 0,16 300Gy 2 0,45 2 0,45 3 0,83 2 0,55 350Gy 1 0,23 2 0,47 2 0,58 2 0,58 B 0 0,00 0 0,00 0 0,00 0 0,00 SA2 0 0,00 0 0,00 1 0,11 0 0,00 SA2- CNT 1 0,11 1 0,11 2 0,22 0 0,00 L2-1' 0 0,00 1 0,11 1 0,10 0 0,00 Qua bảng số liệu 3.6 cho thấy: tần số xuất hiện biến dị đẻ nhiều nhánh cao nhất ở liều chiếu 300Gy (0,32%) đối với giống Q2, biến dị đẻ ít nhánh cao nhất ở liều chiếu 350Gy (0,47%). Đối với giống ST19 đột biến đẻ nhánh nhiều nhất ở liều chiếu 300Gy (0,43%) và đột biến đẻ ít nhánh cao nhất ở liều chiếu xạ 350Gy (0,73%). Tần số xuất hiện đột biến nhiều nhánh thấp nhất ở các giống với liều chiếu xạ giảm dần 150Gy và xử lý bằng sốc nhiệt là B, SA2. Khi xử lý SA2-CNT ở giống ST19 thì xuất hiện đột biến với tần số 0,22% - thế hệ M1 và tiếp tục xuất hiện ở thế hệ M2 với tần ố xuất hiện là 0,21% và sang thế hệ M3 là 0,32%, điều này chứng tỏ khi gây đột biến bằng tác nhân SA2-CNT có thể gây ra các biến đổi về mặt hình thái đối với cây lúa. Tần số xuất hiện đột biến đẻ ít nhánh nhiều nhất ở liều chiếu 250Gy-350Gy (0,22%) đối với giống Q2 và ở liều chiếu 300GY (0,42%) đối với giống ST19. 56 Bảng 3.6. Tần số đột biến về số nhánh của các dòng lúa thế hệ M2 (Vụ mùa 2014) Công thức TN Q2 ST19 Nhiều nhánh 1-2 nhánh Nhiều nhánh 1-2 nhánh Số cây Tỉ lệ (%) Số cây Tỉ lệ (%) Số cây Tỉ lệ (%) Số cây Tỉ lệ (%) 150Gy 1 0,10 1 0,10 1 0,10 1 0,10 200Gy 2 0,22 2 0,22 2 0,21 2 0,21 250Gy 2 0,21 2 0,21 3 0,32 2 0,21 300Gy 3 0,32 3 0,32 4 0,43 3 0,32 350Gy 1 0,11 2 0,22 3 0,35 2 0,23 B 0 0,00 0 0,00 0 0,00 0 0,00 SA2 0 0,00 0 0,00 1 0,11 0 0,00 SA2-CNT 0 0,00 2 0,21 2 0,21 1 0,11 L2-1' 1 0,11 1 0,11 1 0,11 0 0,00 Bảng 3.7. Tần số đột biến về số nhánh của các dòng lúa thế hệ M3 (Vụ xuân 2015) Công thức TN Q2 ST19 Nhiều nhánh 1-2 nhánh Nhiều nhánh 1-2 nhánh Số cây Tỉ lệ (%) Số cây Tỉ lệ (%) Số cây Tỉ lệ (%) Số cây Tỉ lệ (%) 150Gy 2 0,23 1 0,11 2 0,22 1 0,11 200Gy 3 0,34 1 0,11 4 0,43 2 0,22 250Gy 4 0,43 2 0,22 6 0,61 3 0,31 300Gy 2 0,22 2 0,22 7 0,73 4 0,42 350Gy 2 0,22 2 0,22 3 0,33 3 0,33 B 0 0,00 0 0,00 0 0,00 0 0,00 SA2 0 0,00 0 0,00 2 0,21 0 0,00 SA2-CNT 1 0,10 1 0,10 3 0,32 1 0,11 L2-1' 1 0,11 1 0,11 1 0,10 0 0,00 57 Qua bảng số liệu 3.7 cho thấy: sang thế hệ M3 thì đột biến đẻ nhánh nhiều nhất ở liều chiếu 250Gy (0,43%) đối với giống Q2 và đột biến đẻ ít nhánh cao nhất ở liều chiếu xạ 350Gy (0,22%). Đối với giống ST19 đột biến đẻ nhánh nhiều nhất ở liều chiếu 300Gy (0,73%). Tần số xuất hiện đột biến nhiều nhánh thấp nhất ở các giống với liều chiếu xạ giảm dần 150Gy và xử lý bằng sốc nhiệt là B, SA2. Nhƣ vậy, các giống khác nhau thì tần số xuất hiện đột biến nhiều nhánh hay 1- 2 nhánh khác nhau, tuy nhiên khả năng đẻ nhánh không những phụ thuộc vào liều lƣợng chiếu xạ mà còn phụ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh, chế độ canh tác . Nhiệm vụ của chọn giống là chọn đƣợc những đột biến có lợi để phát triển tạo thành giống mới và để biết đƣợc những đột biến này có lợi hay không thì chúng ta cần tiếp tục theo dõi và đánh giá ở các thế hệ tiếp theo. 3.2.3. Ảnh hưởng của tác nhân đột biến đến thời gian sinh trưởng. Qua kết quả bảng 3.8 cho thấy ở các liều chiếu xạ hạt khô khác nhau đã cho sự khác biệt về tần số xuất hiện các biến dị. Ở thế hệ M1,
File đính kèm:
luan_an_nghien_cuu_ung_dung_dot_bien_thuc_nghiem_va_chi_thi.pdf
Tom tat LATS - Tieng Anh.pdf
Tom tat LATS - Tieng Viet.pdf
TRANG THONG TIN VE LUAN AN - HT.Loan.pdf
TRANG THONG TIN VE LUAN AN - Loan.doc
TRANG THONG TIN VE LUAN AN - Loan.pdf