Luận án Nghiên cứu vi nấm trong nuôi cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) và cá lóc (Channa striata) thâm canh

Luận án Nghiên cứu vi nấm trong nuôi cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) và cá lóc (Channa striata) thâm canh trang 1

Trang 1

Luận án Nghiên cứu vi nấm trong nuôi cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) và cá lóc (Channa striata) thâm canh trang 2

Trang 2

Luận án Nghiên cứu vi nấm trong nuôi cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) và cá lóc (Channa striata) thâm canh trang 3

Trang 3

Luận án Nghiên cứu vi nấm trong nuôi cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) và cá lóc (Channa striata) thâm canh trang 4

Trang 4

Luận án Nghiên cứu vi nấm trong nuôi cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) và cá lóc (Channa striata) thâm canh trang 5

Trang 5

Luận án Nghiên cứu vi nấm trong nuôi cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) và cá lóc (Channa striata) thâm canh trang 6

Trang 6

Luận án Nghiên cứu vi nấm trong nuôi cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) và cá lóc (Channa striata) thâm canh trang 7

Trang 7

Luận án Nghiên cứu vi nấm trong nuôi cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) và cá lóc (Channa striata) thâm canh trang 8

Trang 8

Luận án Nghiên cứu vi nấm trong nuôi cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) và cá lóc (Channa striata) thâm canh trang 9

Trang 9

Luận án Nghiên cứu vi nấm trong nuôi cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) và cá lóc (Channa striata) thâm canh trang 10

Trang 10

Tải về để xem bản đầy đủ

pdf 204 trang nguyenduy 19/08/2025 220
Bạn đang xem 10 trang mẫu của tài liệu "Luận án Nghiên cứu vi nấm trong nuôi cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) và cá lóc (Channa striata) thâm canh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Luận án Nghiên cứu vi nấm trong nuôi cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) và cá lóc (Channa striata) thâm canh

Luận án Nghiên cứu vi nấm trong nuôi cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) và cá lóc (Channa striata) thâm canh
4 (chủng F1503). Các nghiệm thức ngâm chủng F1401, F1402 và FVN1301 có tỉ 
lệ chết lần lượt là 76,7%; 56,7% và 33,3% (Hình 4.11). Thời gian cá chết cũng 
khác nhau ở các chủng vi nấm, cá bắt đầu chết vào ngày thứ 2 ở nghiệm thức 2 
(chủng F1401) và nghiệm thức 4 (chủng F1503). Cá thí nghiệm ở nghiệm thức 5 
ngâm chủng F1509 bắt đầu chết vào ngày thứ 5, đến ngày thứ 7 ở nghiệm thức 3 
(chủng F1402) và cá chết chậm ở nghiệm thức 1 (chủng FVN1301) vào ngày thứ 
9. Cá chết nhiều từ ngày thứ 11 đến ngày thứ 15 sau cảm nhiễm. Nghiệm thức đối 
chứng không có cá chết sau 21 ngày cảm nhiễm. Kết quả thí nghiệm cho thấy 
chủng F1509 có khả năng gây bệnh trương bóng hơi cao nhất so với các chủng vi 
nấm đã sử dụng trong nghiên cứu. 
Hình 4.11: Tỉ lệ chết tích luỹ (%) ở cá tra nhiễm vi nấm Fusarium sp. 
66 
Quan sát cá ở thí nghiệm cảm nhiễm cho thấy cá có hiện tượng bơi lờ đờ, 
bỏ ăn và giảm vận động. Bên ngoài cơ thể cá không có biểu hiện bệnh lý cụ thể, 
bụng sưng nhẹ. Bên trong nội quan cá thấy gan có hiện tượng không đồng màu, 
đặc biệt bóng hơi bị trương to, một số cá có bọt khí trong bóng hơi (Hình 4.12). 
Dấu hiệu bệnh lý của cá cảm nhiễm hoàn toàn giống với cá bệnh thu được tại các 
ao nuôi thâm canh. 
Phân tích mẫu cá sau khi gây cảm nhiễm ghi nhận tỉ lệ nhiễm vi nấm ở các 
nghiệm thức là 100% trên tất cả cá thí nghiệm. Vi nấm có hình dạng, màu sắc 
khuẩn lạc và kích thước bào tử giống với 5 chủng FIESC thí nghiệm. Nghiệm 
thức đối chứng không phân lập được vi nấm. Quan sát mẫu soi tươi tìm thấy sợi 
nấm có vách ngăn trong bóng hơi cá tra. Kết quả tái phân lập và giải trình tự gen 
ITS rDNA đã định danh vi nấm là Fusarium incarnatum-equiseti complex 
(FIESC). 
Tỉ lệ cá nhiễm bệnh do vi nấm sau cảm nhiễm của nghiên cứu này cao hơn 
so với báo cáo của Phạm Minh Trúc và ctv. (2012) khi gây cảm nhiễm 2 loài 
Fusarium trên cá tra cho thấy tỉ lệ biểu hiện trương bóng hơi của cá tra giống 
khỏe tiêm Fusarium oxysporum F1P2 với mật độ 8x106 bào tử/ml là 46,15% và 
Fusarium subglutinans F12P2 mật độ 6x106 bào tử/ml là 13,33%. Sự khác biệt 
này có thể do các loài vi nấm khác nhau thì khả năng gây bệnh khác nhau. Theo 
Jain et al. (2011), Fusarium là một trong các loài có khả năng sinh bào tử và có 
thể phát triển trong môi trường máu của cơ thể. Chúng xâm nhập vào các mạch 
máu sau khi nhiễm qua da hoặc cơ quan hô hấp và khi vi nấm nhiễm vào cơ thể 
sẽ làm suy giảm miễn dịch của cơ thể (Wolpert et al., 2002). Như vậy, Fusarium 
incarnatum-equiseti complex (FIESC) được xác định có khả năng gây bệnh 
Hình 4.12: Cá tra cảm nhiễm vi nấm Fusarium sp. 
A: Cá chết với dấu hiệu lờ đờ; B: Cá bị trương bóng hơi ở ngày thứ 8 sau cảm nhiễm 
A B 
67 
trương bóng hơi trên cá tra và chủng F1509 có khả năng gây bệnh cao nhất với tỉ 
lệ cá chết đến 86,7%. 
4.4.3 Khả năng gây bệnh của Fusarium sp. ở các mật độ khác nhau 
Dựa vào kết quả thí nghiệm cảm nhiễm 5 chủng Fusarium sp. khác nhau 
đã chọn chủng F1401 và F1509 làm thí nghiệm cảm nhiễm các mật độ bào tử 
khác nhau. Kết quả cảm nhiễm cho thấy mật độ bào tử càng cao thì tỉ lệ cá chết 
càng cao và thời gian gây chết ngắn. Nghiệm thức mật độ cao (106 bào tử/ml), cá 
tra bắt đầu chết từ ngày thứ 5 (chủng F1401) và ngày thứ 6 (chủng F1509) sau 
cảm nhiễm và cá bắt đầu chết tăng nhanh từ ngày thứ 11, đến ngày thứ 15 thì cá 
ngưng chết. Thời gian cá bắt đầu chết dài hơn ở các nghiệm thức cảm nhiễm mật 
độ trung bình (104 bào tử/ml) và mật độ thấp (102 bào tử/ml), từ ngày thứ 7 đến 
ngày thứ 9 ở chủng F1401 và F1509. Không xuất hiện cá chết ở nghiệm thức đối 
chứng. Sau 21 ngày cảm nhiễm, tỉ lệ cá chết cao nhất (86,7%) ở nghiệm thức 2 
(chủng F1509) với mật độ cao (106 bào tử/ml) và thấp nhất (10%) ở nghiệm thức 
5 (chủng F1401) ở mật độ thấp (102 bào tử/ml). Tỉ lệ cá chết khi ngâm chủng 
F1401 ở mật độ cao là 77,7%, kế đến mật độ trung bình chủng F1509 (56,7%). Tỉ 
lệ cá chết bằng nhau (23,3%) ở nghiệm thức chủng F15091 mật độ thấp và chủng 
F1401 mật độ trung bình (Hình 4.13). 
Hình 4.13: Tỉ lệ chết tích lũy (%) của cá tra cảm nhiễm Fusarium sp. ở các mật độ 
bào tử khác nhau 
68 
Cá ở các nghiệm thức cảm nhiễm với mật độ bào tử khác nhau đều có 
cùng dấu hiệu bệnh lý đặc trưng là trương bóng hơi. Kết quả tái phân lập vi nấm 
cho thấy 100% cá cảm nhiễm mật độ cao (106 bào tử/ml) nhiễm vi nấm trong 
bóng hơi. Tỉ lệ nhiễm vi nấm của chủng F1509 (73,3%) cao hơn chủng F1401 
(50%) ở mật độ trung bình (104 bào tử/ml) và tương tự ở mật độ thấp (102 bào 
tử/ml) lần lượt là 46,7% và 13,3% (Bảng 4.6). 
Bảng 4.6: Tỉ lệ nhiễm Fusarium incarnatum-equiseti complex (FIESC) trên bóng hơi 
cá tra cảm nhiễm với mật độ bào tử khác nhau 
Mật độ bào tử/ml 
F1401 F1509 
Số cá nhiễm Tỉ lệ % Số cá nhiễm Tỉ lệ % 
10
6
 30/30 100 30/30 100 
10
4
 15/30 50 22/30 73,3 
10
2
 4/30 13,3 14/30 46,7 
Một số nghiên cứu cho rằng vi nấm Fusarium phân bố ở các vùng địa lý 
khác nhau thì khả năng gây bệnh cũng khác nhau. Vi nấm có thể gây bệnh trên 
một vật chủ duy nhất nhưng một số loài có khả năng gây bệnh với phổ vật chủ 
rộng nhưng cơ chế để xác định độc lực của vi nấm trên vật chủ vẫn chưa được 
nghiên cứu cụ thể (Wolpert et al., 2002; Tortorano et al., 2008). Kết quả nghiên 
cứu này cũng tương tự của Phạm Minh Trúc và ctv. (2012) khi tái phân lập cá tra 
cảm nhiễm F. oxysporum F1P2 có tỉ lệ nhiễm đến 80% ở mật độ cao (8x106 bào 
tử/ml) và 20% ở mật độ thấp (8x103 bào tử/ml). Tỉ lệ cá có biểu hiện trương bóng 
hơi ở mật độ cao và thấp lần lượt là 46,15% và 3,33%. Cá nhiễm F. subglutinans 
F12P2 thì tỉ lệ nhiễm là 80% ở mật độ cao và 3,33% ở mật độ thấp; trong khi đó 
tỉ lệ biểu hiện bệnh là 13,33% ở mật độ cao và cá không biểu hiện bệnh ở mật độ 
thấp. 
Theo Fisher et al. (2012), vi nấm là loài có khả năng sinh sản vô tính với 
mật độ bào tử cao nên có khả năng gây nhiễm trên số lượng lớn vật chủ. Trong 
trường hợp ở mật độ thấp thì khả năng lây bệnh có thể không lan rộng cho nên 
việc giới hạn mật độ có thể hạn chế được khả năng truyền bệnh. Ngoài ra, độc lực 
là thước đo khả năng gây bệnh của vi nấm với vật chủ và độc lực cao có liên quan 
đến tỉ lệ phát triển của vi nấm trong kí chủ sau đó mới đến khả năng lan truyền 
giữa các vật chủ. Hơn nữa vi nấm có thể tồn tại dưới dạng bào tử trong môi 
trường nên dễ gây nhiễm với cá thể còn nhỏ. Vì vậy, mật độ bào tử Fusarium 
incarnatum-equiseti complex (FIESC) càng cao khả năng gây bệnh cho cá tra 
càng cao. 
69 
4.4.4 Biến đổi mô học ở cá tra bệnh do Fusarium incarnatum-equiseti species 
complex (FIESC) 
 Biến đổi mô bóng hơi cá tra bệnh thu tại ao nuôi thâm canh 
Quan sát tiêu bản mô bóng hơi của 81 mẫu cá tra bệnh thu ở ngoài ao nuôi 
cho thấy lớp niêm mạc bên trong có các tế bào biểu mô hô hấp và mô sợi bị thoái 
hóa. Cấu trúc của các lớp tế bào, mô liên kết và phế nang bị phá vỡ, rời rạc tạo 
nhiều khoảng không bên trong. Số lượng tế bào đơn nhân và tế bào tiết tăng rất 
nhiều. Có hiện tượng xung huyết ở các mao mạch bên trong bóng hơi. Đặc biệt, 
bên trong các xoang bóng hơi cá bệnh ghi nhận sự hiện diện dày đặc các sợi nấm 
có vách ngăn (Hình 4.14). 
Hình 4.14: Mô bóng hơi cá tra bệnh thu ở ao nuôi thâm canh (H&E) 
A: Mô bóng hơi bị hoại tử (10X); B: Mô sợi bị phá vỡ tạo các khoảng không bên 
trong (20X); C: Xoang bóng hơi có hệ sợi nấm phát triển dày đặc (10X); D: Hệ sợi 
nấm có vách ngăn (40X) 
A B 
C D 
70 
 Biến đổi mô bóng hơi cá tra thí nghiệm cảm nhiễm vi nấm Fusarium 
incarnatum-equiseti complex (FIESC) 
Mô bóng hơi của cá tra khỏe cho thấy bên trong bóng hơi là 1 cấu trúc 
rỗng với nhiều vách ngăn phân chia bóng hơi thành các khoang nhỏ chứa không 
khí. Thành bóng hơi được cấu trúc bởi những sợi collagen và mô lưới liên kết. 
Mặt trong của bóng hơi là lớp niêm mạc với tế bào biểu mô có cấu trúc tầng dày, 
phế nang, lớp màng nhầy và mạch máu. Cấu trúc chủ yếu của bóng hơi là hệ 
thống mô sợi dày đặc. Bên cạnh lớp màng ngoài là lớp mô liên kết gồm nhiều tế 
bào xếp chồng lên nhau (Hình 4.15A). 
Sau khi gây cảm nhiễm vi nấm FIESC, cấu trúc mô bóng hơi có hiện 
tượng xung huyết và các bào tử vi nấm xâm nhập vào mô sợi ở các mẫu thu ngày 
thứ 1 và 3. Từ ngày thứ 5 đến ngày 7, mô sợi bị thoái hóa, cấu trúc rời rạc và có 
sợi nấm phát triển bên trong. Một số vùng trong bóng hơi có sự xâm nhập bởi các 
tế bào đơn nhân và lớp tế bào biểu mô cũng mất cấu trúc. Mô sợi bị hoại tử và sợi 
nấm phát triển từ lớp tế bào biểu mô được tìm thấy ở mẫu từ ngày thứ 9 trở đi. Hệ 
sợi nấm phát triển dày đặc trong xoang bóng hơi (Hình 4.15 B-F). Cấu trúc mô 
bóng hơi bị hoại tử và không còn thấy mô sợi. Biến đổi mô bóng hơi ở cá tra cảm 
nhiễm ở giai đoạn này hoàn toàn tương tự với mẫu mô cá tra bệnh thu ở ao nuôi 
thâm canh. Cùng với kết quả phân lập vi nấm trên môi trường GYA đã ghi nhận 
100% mẫu bóng hơi cá tra cảm nhiễm đều có vi nấm phát triển. Từ đó có thể 
khẳng định bóng hơi có thể là cơ quan mẫn cảm với vi nấm Fusarium 
incarnatum-equiseti complex (FIESC) và vi nấm này là nguyên nhân gây bệnh 
trương bóng hơi trên cá tra nuôi. 
Kết quả này có nhiều điểm tương đồng với nghiên cứu của Xiao-Li et al. 
(2010), khi cảm nhiễm nấm Fusarium oxysporum trên cá vàng đã ghi nhận mức 
độ ảnh hưởng rất cao của nấm F. oxysporum trên các cơ quan cơ, gan, thận và 
ống tiêu hóa của cá vàng. Các tế bào sợi cơ biểu hiện sự thoái hóa và hoại tử với 
lượng lớn các tế bào bị viêm cùng với sự hiện diện của các sợi nấm. Tế bào gan 
bị phù nề và xung huyết ở các mạch máu. Mô gan có những phản ứng viêm mạnh 
và mô thận bị xung huyết. Nghiên cứu cho rằng mạch máu có thể là cơ quan tấn 
công đích của loài nấm này trên cá vàng. Hiện nay, các nghiên cứu về bệnh trên 
bóng hơi còn rất hạn chế đặc biệt là bệnh do vi nấm và đây có thể là kết quả ghi 
nhận cụ thể về quá trình biến đổi cấu trúc mô bóng hơi cá tra khi bị nhiễm vi nấm 
Fusarium incarnatum-equiseti complex (FIESC). 
71 
Hình 4.15: Mô bóng hơi cá tra cảm nhiễm Fusarium incarnatum-equiseti complex 
A: Bóng hơi cá khỏe (100x); B: Xoang bóng hơi bị xung huyết, xuất huyết (100x); C: 
Lớp mô sợi bị thoái hóa và có nhiều tế bào đơn nhân (200x); D: Bào tử và sợi nấm xâm 
nhiễm vào lớp mô sợi (400x); E: Sợi nấm phát triển từ vùng tế bào biểu mô bị hoại tử 
(200x); F: Hệ sợi nấm có vách ngăn phát triển trong xoang bóng hơi (100x) (H&E). 
A B 
C D 
E F 
72 
4.4.5 Kết quả định danh vi nấm gây bệnh trên cá tra 
4.4.5.1 Đặc điểm hình thái vi nấm Fusarium incarnatum-equiseti complex 
(FIESC) 
Phân tích vi nấm từ cá tra giống và cá tra thịt bệnh trương bóng hơi ghi 
nhận vi nấm phát triển trên môi trường GYA có khuẩn lạc màu hồng nhạt ở mặt 
dưới và mặt trên có hệ sợi nấm màu trắng, mịn mọc nhô khỏi bề mặt môi trường. 
Khuẩn lạc phát triển sau 7 ngày trên môi trường nuôi cấy ủ ở nhiệt độ 28oC đạt 
đường kính trung bình là 75,2±3,2mm (Hình 4.16A và B). Sợi nấm có vách ngăn 
và phân nhánh với đường kính 2-4 µm. Các đại bào tử có hình thuyền, hơi cong 
và nhỏ về hai đầu, có 1 – 5 vách ngăn, kích thước trung bình 16,2±6,3 và 2,5±0,3 
µm (Hình 4.16C và D). Tiểu bào tử có hình trứng với số lượng rất ít. Sau 24-36 
giờ các đại bào tử chuyển sang giai đoạn bào tử phồng tiếp theo sẽ nẩy mầm hình 
thành sợi nấm (Hình 4.16E và F). Căn cứ vào đặc điểm hình thái và khóa phân 
loại của de Hoog et al. (2000) đã xác định được các chủng vi nấm thuộc giống 
Fusarium, lớp Hyphomycetes, bộ Hypocreales, họ Hypocreaceae. 
Giống Fusarium được ghi nhận gây bệnh đen mang trên một số loài tôm từ 
nhiều năm trước (Alderman and Polglase, 1985; Khoa and Hatai, 2005). Vi nấm 
cũng được phân lập trên cá tráp đỏ (Pagrus sp.) và cá mập (Sphyrna lewini) 
(Hatai et al., 1986; Crow et al., 1995). Hình thái của các chủng Fusarium có đặc 
điểm tương tự vi nấm tìm thấy trên cá rô đồng bị nấm nhớt (Trần Ngọc Tuấn, 
2010). Gần đây, phân tích mẫu trứng cá Odontesthes bonariensis cũng đã phát 
hiện 2 loài Fusarium là Fusarium incarnatum-equiseti complex (FIESC) và 
Fusarium solani complex (FSSC) (Marino et al., 2016). 
Phân tích các chủng vi nấm Fusarium nhiễm trên cá tra bệnh đều không 
phát hiện các bào tử vách dày. Aoki and O’Donnell (1999) cho rằng hình thức 
sinh sản chủ yếu của vi nấm Fusarium là sinh sản vô tính, quá trình này thường 
tạo ra 3 loại bào tử là tiểu bào tử, đại bào tử và bào tử vách dày. Tiểu bào tử có 
cấu trúc đơn giản được hình thành từng cụm và các bào tử đính xung quanh các 
sợi nấm. Đại bào tử có kích thước dài, hình thuyền, có vách ngăn được hình thành 
từ các cụm bào tử đính ở phần đầu các sợi nấm. Bào tử vách dày được hình thành 
ở giữa các sợi nấm hoặc đại bào tử. Tuy nhiên không phải tất cả các loài đều sinh 
sản vô tính tạo thành 3 loại bào tử nhưng chỉ có 20% loài Fusarium được phát 
hiện quá trình sinh sản. 
73 
4.4.5.2 Kết quả định danh vi nấm bằng phƣơng pháp sinh học phân tử 
Phương pháp sinh học phân tử giải trình tự gen được ứng dụng rộng rãi 
trong các nghiên cứu để định danh vi sinh vật dựa vào vật liệu di truyền cho kết 
quả chính xác. Năm chủng Fusarium (FVN1301, F1401, F1402, F1503 và 
F1509) có nguồn gốc từ cá tra bệnh trương bóng hơi sau khi xác định khả năng 
gây bệnh và tái phân lập được chọn giải trình tự gen. Kết quả giải trình tự gen ITS 
Hình 4.16: Đặc điểm hình thái của vi nấm Fusarium incarnatum-equiseti complex 
A: Khuẩn lạc màu hồng; B: Hệ sợi nấm mịn, trắng trên môi trường PDA; C: Sợi nấm 
phân nhánh và có vách ngăn (200x); D: Đại bào tử hình thuyền có vách ngăn (400x); E: 
Bào tử ở giai đoạn bào tử phồng (200x); F: Bào tử nẩy mầm thành sợi nấm mới (200x) 
(cotton blue) 
A B 
 C D 
E F 
74 
rDNA được so sánh với cơ sở dữ liệu của chương trình FUSARIUM-ID cho thấy 
5 chủng Fusarium gây bệnh thuộc loài Fusarium incarnatum-equiseti species 
complex (FIESC) (Bảng 4.7). 
Bảng 4.7: Kết quả mối tương quan trình tự ITS rDNA của 5 chủng Fusarium 
incarnatum-equiseti species complex (FIESC) với các chủng trong FUSARIUM-ID 
Kí hiệu 
mẫu 
Đại diện loài có quan hệ gần Mã số Tỉ lệ 
tương 
đồng (%) 
FVN1301 
Fusarium incarnatum-equiseti species 
complex (FIESC) 
NRRL32864 98,9 
F1401 
Fusarium incarnatum-equiseti species 
complex (FIESC) 
NRRL32864 99,8 
F1402 
Fusarium incarnatum-equiseti species 
complex (FIESC) 
NRRL43619 99,8 
F1503 
Fusarium incarnatum-equiseti species 
complex (FIESC) 
NRRL32864 99,8 
F1509 
Fusarium incarnatum-equiseti species 
complex (FIESC) 
NRRL43619 100 
Cây phát sinh loài thể hiện mối tương quan di truyền được xây dựng dựa 
trên trình tự ITS rDNA của Fusarium bằng chương trình MEGA6 dạng Neighbor-
joining và bootstrap 1000, kết quả cho thấy 5 chủng vi nấm đều thuộc loài 
Fusarium incarnatum-equiseti species complex (FIESC). Tuy nhiên, 5 chủng 
Fusarium được chia thành 2 nhánh trong đó 2 chủng (F1402 và F1509) có quan 
hệ gần với chủng FIESC NRRL4329 và FIESC NRRL43619. Nhánh còn lại gồm 
3 chủng là FVN1301, F1401 và F1503 thì có quan hệ gần với chủng FIESC 
NRRL32864 (Hình 4.17). Như vậy, Fusarium incarnatum-equiseti species 
complex (FIESC) được phát hiện là tác nhân gây bệnh trương bóng hơi trên cá tra 
nuôi ở đồng bằng sông Cửu Long. 
Nghiên cứu đã định danh FIESC gây bệnh trên cá tra trong nghiên cứu này 
khác với loài vi nấm được công bố bởi Phạm Minh Trúc và ctv. (2012) cũng phân 
lập từ cá tra bệnh trương bóng hơi và kết quả giải trình tự gen 28S rRNA, tra cứu 
bằng cộng cụ BLAST trên GenBank định danh là loài Fusarium oxysporum và 
Fusarium subglutinans. Cơ sở dữ liệu GenBank để xác định loài thuộc giống 
Fusarium phức ít được sử dụng. Việc định danh các loài Fusarium đặc biệt là các 
loài Fusarium phức gặp nhiều khó khăn do đó cơ sở dữ liệu về trình tự DNA của 
đa dạng thành phần loài Fusarium được xây dựng để định danh loài Fusarium 
phổ biến hiện nay là FUSARIUM-ID hay Fusarium MLST (Geiser et al., 2004; 
Park et al., 2010; O’Donnell et al., 2010; O’Donnell et al., 2015). Ngoài ra, kết 
75 
quả giải trình tự gen của một số loài vi nấm Fusarium phức có liên quan đến khả 
năng gây bệnh. Các loài Fusarium oxysporum complex (FOSC), Fusarium 
incarnatum-equiseti complex (FIESC) và Fusarium chlamydosporum complex 
(FCSC) được xác định gây bệnh trên người và động vật (Balajee et al., 2009; 
O’Donnell et al., 2015). Hơn nữa, Fusarium incarnatum được phân lập trên tôm 
sú (P. monodon) nuôi ở Việt Nam và 3 chủng được phân lập ở Nhật Bản đều có 
cùng nguồn gốc phát sinh loài (Khoa et al., 2004). Dựa trên trình tự gen 5,8S và 
28S của 5 chủng Fusarium solani phân lập trên tôm he (P. japonicus) bệnh đen 
mang cũng cho thấy có cùng nguồn gốc phát sinh loài mặc dù được phân lập từ 
những địa điểm và thời gian khác nhau (Khoa et al., 2005). 
 F1402
 F1509
 F. equiseti EU595566
 FIESC NRRL43296
 FIESC NRRL43619
 FIESC NRRL34070
 FIESC NRRL43730
 FIESC NRRL34005
 F. concolor GQ505763
 F. incarnatum KU377288
 Fusarium sp. EU091001
 Fusarium sp. NRRL 34015
 FCSC NRRL25483
 FIESC NRRL32864
 F1503
 F1401
 FVN1301
Hình 4.17: Cây phát sinh loài dựa trên trình tự ITS rDNA của 5 chủng vi nấm 
Fusarium incarnatum-equiseti species complex (FIESC) 
(Neighbor-joining, bootstrap 1000). 
76 
4.5 Thành phần vi nấm nhiễm trên cá lóc bệnh 
4.5.1 Dấu hiệu bệnh lý 
Cá lóc bệnh có dấu hiệu bên ngoài như có nhiều nhớt bao phủ trên cơ thể, 
thân và đuôi có nhiều vùng vảy bị bong tróc, xù xì, một số cá bị lở loét ở thân và 
đuôi. Quan sát mẫu dưới kính hiển vi có các sợi nấm không vách ngăn và các túi 
bào tử chứa các bào tử hình cầu (Hình 4.18). Bên trong nội quan không thay đổi 
màu sắc. 
Hình 4.18: Cá lóc (Channa striata) bệnh do vi nấm 
A: Cơ thể cá có nhiều nhớt bao phủ; B: Lớp vảy ở đuôi bị bong tróc; 
C: Đuôi bị lở loét; D: Vùng thân cá bị lở loét và có một ít sợi nấm trên cơ; 
E: Sợi nấm trên da cá; F: Túi bào tử chứa các bào tử 
A B 
C D 
E F 
77 
4.5.2 Thành phần và tỉ lệ vi nấm nhiễm trên cá lóc bệnh 
Kết quả đã phân lập được 207 chủng vi nấm từ 242 mẫu cá lóc bệnh được 
thu ở 6 tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Cá bệnh với dấu hiệu bên ngoài 
như có nhiều nhớt bao phủ khắp cơ thể, thân và đuôi có nhiều vùng bị lở loét. 
Dựa vào đặc điểm hình thái của khuẩn lạc, sợi nấm và bào tử đã định danh được 
các chủng vi nấm thuộc 5 giống gồm Achlya, Protoachlya, Saprolegnia, 
Aspergillus và Fusarium (Bảng 4.8). Hầu hết các chủng nấm được phân lập trên 
cá lóc nuôi thâm canh ở tháng nuôi thứ nhất và thứ hai. Tuy nhiên, thành phần vi 
nấm phân lập được trên cá bệnh thu ở các tỉnh khác nhau thì khác nhau; trong đó 
Cần Thơ và Đồng Tháp đã phân lập được 5 giống (Achlya, Protoachlya, 
Saprolegnia, Aspergillus và Fusarium), An Giang và Vĩnh Long 4 giống (Achlya, 
Protoachlya, Aspergillus và Fusarium), Hậu Giang 3 giống (Achlya, Aspergillus 
và Fusarium) và Trà Vinh 2 giống (Achlya và Fusarium). 
Bảng 4.8: Thành phần vi nấm trên cá lóc ở các địa điểm thu mẫu 
Địa điểm 
Chủng 
vi nấm 
Vi nấm nhiễm trên cá lóc 
Số chủng vi nấm/Tổng số chủng phân lập 
Achlya Protoachlya Saprolegnia Aspergillus Fusarium 
An Giang 18 10/146 5/19 0 1/9 2/30 
Cần Thơ 59 43/146 7/19 2/3 2/9 5/30 
Đồng Tháp 62 45/146 6/19 1/3 3/9 7/30 
Hậu Giang 27 23/146 0 0 1/9 3/30 
Vĩnh Long 19 11/146 1/19 0 2/9 5/30 
Trà Vinh 22 14/146 0 0 0 8/30 
Các nhóm nấm phân lập được có các đặc điểm hình thái khuẩn lạc, sợi 
nấm và bào tử tương tự mô tả định danh vi nấm của Johnson et al. (2002), trong 
đó Saprolegnia và Achlya là vi nấm thường gây bệnh trên các loài thủy sản 
(Yanong, 2003). Zahura et al. (2004) nghiên cứu trên 10 loài cá thu được trong ao 
nuôi và ngoài tự nhiên tại Bangladesh, đã phân lập được 19 chủng nấm thuộc các 
giống Achlya, Aphanomyces và Saprolegnia. Chauhan (2012) đã phát hiện 8 
giống nấm nhiễm trên 13 loài cá ở hồ Bhopal (Ấn độ); kết quả cảm nhiễm sau đó 
cho thấy Achlya và Saprolegnia có độc lực mạnh nhất. Cùng năm, kết quả nghiên 
cứu của Mastan et al. (2012) cho thấy cá lóc bị nhiễm 2 loài vi nấm là S. diclina 
và S. ferax và tỉ lệ nhiễm là 1

File đính kèm:

  • pdfluan_an_nghien_cuu_vi_nam_trong_nuoi_ca_tra_pangasianodon_hy.pdf
  • docThongtinluanan-en.doc
  • docThongtinluanan-vi.doc
  • pdfTomtatluanan-en.pdf
  • pdfTomtatluanan-vi.pdf