Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng phòng hộ vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên

Trang 1

Trang 2

Trang 3

Trang 4

Trang 5

Trang 6

Trang 7

Trang 8

Trang 9

Trang 10
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 10 trang mẫu của tài liệu "Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng phòng hộ vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng phòng hộ vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên

un gốc. Ngoài ra, còn bón thúc 200g phân NPK/hố/năm. Số liệu tại bảng 4.2 cho thấy, kỹ thuật xây dựng rừng phòng hộ vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên bước đầu đã được chú ý đầu tư theo hướng thâm canh, trong đó có sự hoàn thiện dần theo thời gian, cụ thể: - Trong chương trình 327 công tác điều tra lập địa còn chưa được chú trọng nhưng sang Dự án 661 nhiệm vụ này đã được quan tâm hơn. Tuy nhiên, do không có sự thống nhất giữa trên bản đồ thiết kế với ngoài thực địa nên tỷ lệ sống và chất lượng sinh trưởng của các loài cây trồng là không đồng đều. Sang tới Dự án JBIC, công tác điều tra lập địa được thực sự quan tâm gắn với loài cây trồng cụ thể. Việc kiểm tra, giám sát được làm chặt chẽ. - Nguồn giống cũng được cải thiện hơn qua thời gian. Tiêu chuẩn cây con ngày càng được nâng cao để phù hợp với điều kiện khắc nghiệt của điều kiện lập địa nơi trồng rừng, cụ thể: Trong chương trình 327 cây bản địa đem trồng chỉ có tuổi từ 8 - 10 tháng tuổi thì đã tăng lên 12 - 14 tháng tuổi trong dự án 661 và tiếp tục 16 - 18 tháng tuổi trong dự án JBIC. Tiêu chuẩn cây trồng tăng lên có tác động tích cực tới việc tăng tỷ lệ sống cũng như khả năng sinh trưởng của cây bản địa. - Trồng rừng ngày càng được đầu tư theo hướng thâm canh. Nếu như trong chương trình 327 chỉ có bón lót 100g NPK/hố và không bón thúc, Dự án 661 bón lót 150 - 200g phân NPK/hố và không bón thúc thì sang Dự án JBIC số lượng phân bón lót là 200 g/hố và có bón thúc 200g phân NPK/hố trong 4 năm chăm sóc. - Các chương trình trồng rừng mới chủ yếu thực hiện trồng thuần loài hoặc hỗn loài theo tỷ lệ 1 cây trồng chính bản địa + 1 cây phù trợ, điều này gây khó khăn cho việc xây dựng đai rừng có kết cấu nhiều tầng để phòng hộ. Số lượng loài cây 72 bản địa đưa vào trồng rừng ở khu vực nói chung còn ít. Nhìn chung, các kỹ thuật của dự án JBIC được coi là hoàn thiện hơn so với các chương trình, dự án trồng rừng phòng hộ trước đó đã được triển khai ở khu vực. Tuy nhiên, dự án mới chỉ tập trung vào xây dựng 1 mô hình hỗn giao giữa 1 cây trồng chính bản địa với 1 cây phù trợ, chưa có sự thử nghiệm để xây dựng mô hình hỗn giao nhiều loài, nhiều tầng tán. c) Đánh giá các mô hình Kết quả đánh giá tỷ lệ sống, sinh trưởng của các loài cây trồng rừng phòng hộ tại khu vực được tổng hợp tại bảng 4.3. Bảng 4.3. Sinh trưởng của các loài cây trồng trong các mô hình trồng rừng phòng hộ vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên TT Mô hình Tuổi Loài cây Mật độ trồng (cây/ha) Tỷ lệ sống (%) D1,3m(cm) Hvn (m) 3.1D ∆D vnH ∆H 1. Chương trình 327 1.1 Hỗn giao 12 Keo lá tràm 1.000 70,5 11,5 1,0 9,7 0,8 Dầu rái 500 55,7 5,1 0,4 6,2 0,5 1.2 Hỗn giao 13 Keo lá tràm 1670 71,6 13,6 1,0 10,4 0,8 Sao đen 550 57,3 5,5 0,4 7,1 0,6 1.3 Thuần loài 12 Keo lá tràm 2.500 69,1 14,2 1,2 11,3 0,9 2. Dự án 661 2.1 Hỗn giao 8 Keo lá tràm 1.000 80,5 10,6 1,3 8,6 1,1 Sao đen 500 69,2 5,2 0,7 5,0 0,6 2.2 Hỗn giao 7 Keo lá tràm 1.000 83,1 9,0 1,3 7,9 1,1 Dầu rái 500 70,0 4,2 0,6 4,6 0,7 2.3 Hỗn giao 8 Sao đen 450 67,3 4,6 0,6 4,1 0,5 Gõ đỏ 450 49,5 3,2 0,4 3,6 0,5 73 Giáng hương 450 0 - - - - 2.4 Hỗn giao 6 Keo lá tràm 1.000 82,6 7,5 1,3 5,8 1,0 Muồng đen 500 68,5 4,5 0,8 4,2 0,7 3. Dự án JBIC 3.1 Hỗn giao 5 Keo lá tràm 1.000 85,4 5,8 1,2 6,2 1,2 Dầu rái 500 74,8 3,6 0,7 4,0 0,8 Từ số liệu tại bảng 4.3, đề tài rút ra một số nhận xét sau: - Trong chương trình 327: Keo lá tràm sau 12 - 13 năm trồng, tỷ lệ sống chỉ đạt 69,1 - 71,6%, lượng tăng trưởng bình quân hàng năm về đường kính đạt 1,0 - 1,2 cm/năm, chiều cao 0,8 - 0,9 m/năm; Dầu rái và Sao đen đạt tỷ lệ sống thấp từ 55,7 - 57,3%, lượng tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 0,4 cm/năm về đường kính và 0,5 - 0,6 m/năm về chiều cao. Nhìn chung, các loài cây trồng đều đạt tỷ lệ sống thấp và sinh trưởng kém. Nguyên nhân dẫn tới hiện tượng này ngoài ảnh hưởng của yếu tố kỹ thuật thì suất đầu tư quá thấp cũng là nguyên nhân quan trọng dẫn tới kết quả này. - Trong dự án 661: Keo lá tràm sau 6 - 8 năm trồng đạt tỷ lệ sống 80,5 - 83,1%, lượng tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 1,3 cm/năm về đường kính, 1,0 m/năm về chiều cao; các loài Dầu rái, Sao đen, Muồng đen sinh trưởng khá tốt, đạt tỷ lệ sống 67,3 - 70,0%, lượng tăng trưởng bình quân đạt 0,6 - 0,8 cm/năm về đường kính và 0,5 - 0,7 m/năm về chiều cao sau 6 - 8 năm trồng. Các loài Gõ đỏ, Giáng hương sinh trưởng khá chậm, tỷ lệ sống đạt thấp hơn 50%, trong đó loài Giáng hương bị chết toàn bộ sau khi đem đi trồng. Nhìn chung, cây trồng trong dự án 661 đã có sự phát triển tốt hơn so với chương trình 327. Nguyên nhân chủ yếu là do yếu tố kỹ thuật đã được cải thiện một phần và suất đầu tư cũng được tăng lên. Tuy nhiên, suất đầu tư cho trồng rừng phòng hộ vẫn còn quá thấp so với thực tế nên người dân ít quan tâm chăm sóc cho các loài cây trồng, đặc biệt là những cây phòng hộ chính. - Trong dự án JBIC: Đây là dự án có vốn đầu tư nước ngoài nên suất đầu tư 74 rất cao. Mặt khác, các yếu tố kỹ thuật như điều tra lập địa, tiêu chuẩn cây giống, phân bón cũng đặc biệt được chú trọng nên cây trồng sinh trưởng phát triển khá tốt. Keo lá tràm sau 5 năm trồng đạt lượng tăng trưởng bình quân hàng năm là 1,2 cm/năm về đường kính và 1,2 m/năm về chiều cao; Dầu rái đạt lượng tăng trưởng bình quân hàng năm là 0,7 cm/năm về đường kính và 0,8 m/năm về chiều cao sau 5 năm trồng. Kết quả này cho thấy, yếu tố kỹ thuật và suất đầu tư là 2 yếu tố đặc biệt quan trọng đối với trồng rừng phòng hộ nói chung và ở khu vực rừng phòng hộ đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên nói riêng. * Nhận xét chung: - Tại vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên, số loài cây bản địa được thử nghiệm và số loài thử nghiệm thành công là còn quá ít. Trong tổng số 8 loài cây trồng (bao gồm cả cây trồng chính và cây phù trợ) đã được trồng thử nghiệm thì chỉ có Dầu rái, Sao đen, Muồng đen bước đầu tỏ ra phù hợp, thể hiện ở khả năng sinh trưởng tốt, tỷ lệ sống đạt khá cao. Do đó, trong thời gian tới, cần phải tiếp tục nghiên cứu thử nghiệm nhiều loài cây bản địa mới có khả năng thích nghi tốt với điều kiện của khu vực nhằm đa dạng thành phần loài cây trồng và nâng cao khả năng phòng hộ của rừng trồng. - Số lượng loài cây trồng hỗn giao trong mỗi mô hình còn ít, mới chỉ dao động 2 - 3 loài cây (chủ yếu là 2 loài), trong đó chỉ có 1-2 loài cây bản địa. Nguyên nhân chủ yếu là do những hiểu biết về đặc điểm sinh thái, sinh học của các loài cây bản địa của chúng ta còn khá hạn chế. Việc trồng cùng lúc cây phù trợ với cây bản địa, đặc biệt trên các lập địa khó khăn, đã bị suy thoái ở các mức độ khác nhau tỏ ra không phù hợp do cây phù trợ chưa kịp phát triển để tạo hoàn cảnh rừng cho cây bản địa sinh trưởng và phát triển. - Vấn đề trồng cây bản địa dưới tán rừng các loài cây phù trợ cũng được quan tâm. Trong giai đoạn đầu khi cây bản địa cần có cây che bóng thì cây phù trợ tỏ ra hữu hiệu trong việc tạo điều kiện cho cây bản địa phát triển. Giai đoạn sau đó khi nhu cầu ánh sáng của cây bản địa cao hơn thì cây phù trợ lại làm cản trở sự phát triển của cây bản địa, do đó cần phải tỉa thưa để giải phóng không gian dinh dưỡng 75 cho cây bản địa phát triển. Tuy nhiên, việc xác định thời điểm tỉa thưa, cường độ tỉa thưa, biện pháp giảm thiểu sự đổ gẫy khi tỉa thưa,... lại là một bài toán khó chưa được giải quyết một cách hợp lý, và kịp thời bởi các loài cây khác nhau thì nhu cầu ánh sáng theo từng giai đoạn cũng khác nhau. - Khu vực rừng phòng hộ vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên có điều kiện lập địa tương đối khắc nghiệt. Do vậy, công tác điều tra lập địa, lựa chọn loài cây trồng phù hợp với từng dạng lập địa cần đặc biệt được chú ý. Kỹ thuật trồng rừng phòng hộ cũng cần phải thực hiện theo hướng thâm canh, trong đó chú trọng yếu tố nguồn giống tốt, kỹ thuật chăm sóc và sử dụng phân bón phù hợp. Tiêu chuẩn cây con đem trồng cần phải được nâng lên 16 - 18 tháng tuổi để nâng cao tỷ lệ sống và khả năng phát triển của cây con sau khi trồng. - Suất đầu tư cho trồng rừng phòng hộ còn thấp, nguồn vốn giải ngân chậm, các đơn vị thực hiện là đơn vị sự nghiệp không có vốn đầu tư, người dân tham gia trồng rừng đều là những hộ nghèo nên việc trồng và chăm sóc rừng bỏ qua nhiều công đoạn và không đúng tiến độ thời vụ nên chất lượng rừng đạt thấp. 4.2. Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật trồng rừng phòng hộ vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên 4.2.1. Chọn loài cây trồng rừng phòng hộ vùng đồi núi ven biển 4.2.1.1. Cơ sở của việc lựa chọn loài cây dự tuyển đưa vào thí nghiệm Việc lựa chọn loài cây dự tuyển đưa vào thí nghiệm chọn loài được dựa trên 3 căn cứ cơ bản sau: - Có các kết quả bước đầu về gây trồng trên diện rộng theo các dự án trồng rừng hoặc trồng thử nghiệm quy mô nhỏ, phân tán trong khu vực nghiên cứu. - Có phân bố tự nhiên ở vùng nghiên cứu. - Có các đặc điểm sinh thái phù hợp với điều kiện lập địa khu vực vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên. Các kết quả khảo sát thực địa và tổng kết, đánh giá các mô hình rừng trồng phòng hộ tại khu vực nghiên cứu (phần kết quả 4.1) cho thấy 3 loài cây trồng bản địa có triển vọng nhất đã được rút ra là Dầu rái, Sao đen và Muồng đen. Các loài 76 cây này có tỷ lệ sống cao, tình hình sinh trưởng tốt hơn các loài khác. Ngoài ra, Lim xanh và Thanh thất là 2 loài đã từng được trồng thử nghiệm quy mô nhỏ, phân tán trong khu vực và bước đầu tỏ ra có triển vọng. Cả 5 loài cây này đều có phân bố ở tỉnh Phú Yên. Về đặc điểm sinh thái của các loài cây, đề tài đã tổng hợp nhu cầu một số nhân tố sinh thái chủ yếu của các loài cây này tại bảng 4.4. Bảng 4.4. Nhu cầu sinh thái của các loài cây dự tuyển T T Loài cây Độ cao so với mặt nước biển (m) Điều kiện khí hậu Điều kiện đất đai Lượng mưa (mm/ năm) Nhiệt độ (độ C) Loại đất Độ pH Trun g bình năm Tối cao TB Tối thấp TB 1 Dầu rái 100 - 600 1.800 - 2500 25 - 28 32 - 34 18 - 22 Đất xám trên phù sa cổ có sét pha cát; đất feralit vàng đỏ phát triển trên phiến thạch sét, phiến thạch mica, tầng dầy, ẩm. 4-5 2 Lim xanh <700 1.500 - 3.500 20 - 25 32 - 34 11 - 25 Đất feralit đỏ vàng phát triển trên đá mẹ granit, phiến thạch sét, phiến thạch mica, sa thạch, gnai, poocphia; ưa đất tơi xốp, nhiều mùn. 4-6 3 Muồng <1.200 600 - 20 - 32 - 13 - Đất feralit đỏ vàng, 4-6 77 đen 3.500 27 33 22 nâu đỏ phát triển trên đá Bazal, poocphia, phiến thạch mica, đá vôi, thành phần cơ giới cát pha đến thịt nhẹ 4 Sao đen <800 1.500 - 2.500 25 - 28 33 - 35 16 - 18 Mọc tốt trên đất xám phù sa cổ; sét pha cát; đất feralit vàng đỏ phát triển trên phiến thạch sét, phiến thạch mica, tầng dầy. 4-5 5 Thanh thất <1.000 1.000 - 2.500 18 - 25 - - Trồng được trên nhiều loại đất, thích hợp đất thịt và ẩm 4- 7,5 (Nguồn: Cẩm nang ngành lâm nghiệp - Chương chọn loài cây ưu tiên cho các chương trình trồng rừng ở Việt Nam [4]) Đối chiếu với các đặc điểm về địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng, của khu vực vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên cho thấy đặc điểm sinh thái của 5 loài cây dự tuyển phù hợp với điều kiện tự nhiên vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên. Từ các kết quả đánh giá và phân tích trên đây, đề tài đã lựa chọn 5 loài cây: Dầu rái, Sao đen, Muồng đen, Lim xanh và Thanh thất làm các loài cây dự tuyển đưa vào thí nghiệm chọn loài. 4.2.1.2. Đánh giá tỷ lệ sống của các loài cây Kết quả theo dõi tỷ lệ sống của các loài cây bản địa trong 5 công thức thí nghiệm sau 6 năm trồng được tổng hợp tại bảng 4.5. 78 Bảng 4.5. Diễn biến tỷ lệ sống của 5 loài cây sau 6 năm trồng Loài cây trồng Diễn biến tỷ lệ sống (%) theo các năm Tuổi 1 Tuổi 2 Tuổi 3 Tuổi 4 Tuổi 5 Tuổi 6 1.Sao đen 97,4 88,5 86,3 85,5 84,3 83,0 2.Lim xanh 93,6 91,4 87,8 84,7 83,6 82,7 3.Dầu rái 95,3 85,5 83,7 79,8 77,4 76,8 4.Muồng đen 94,5 82,8 78,5 75,0 74,0 73,0 5.Thanh thất 97,8 93,5 92,3 90,1 87,1 86,1 Số liệu tại bảng 4.5 cho thấy, tỷ lệ sống của các loài có sự biến động khá lớn giữa các công thức thí nghiệm và sự biến động tỷ lệ sống theo thời gian đối với từng công thức thí nghiệm, cụ thể như sau: Sau 1 năm trồng, do được trồng dặm nên tỷ lệ sống của các loài đạt khá cao, dao động từ 93,6 - 97,8%. Tuy nhiên, ở những năm tiếp theo, tỷ lệ sống của các loài có sự giảm rõ rệt do ở khu vực nghiên cứu đất nghèo dinh dưỡng, độ dốc khá lớn, tầng đất mỏng, gió biển, mùa khô kéo dài trong năm, đã ảnh hưởng tới tỷ lệ sống của cây trồng. Đến tuổi 6, tỷ lệ sống của các loài chỉ còn dao động 73,0 - 86,1%, trong đó đạt cao nhất ở công thức thí nghiệm 5 (trồng thuần loài Thanh thất) là 86,1% và thấp nhất ở công thức thí nghiệm 4 (trồng thuần loài Muồng đen) chỉ đạt 73,0%. Tuy nhiên, nếu so sánh với tỷ lệ sống của các loài cây bản địa trồng trong các chương trình, dự án trước đây (kết quả nghiên cứu phần 4.1) thì tỷ lệ sống chỉ dao động từ 55,7 - 74,8% (bảng 4.3), các thí nghiệm của đề tài cho thấy tỷ lệ sống đã được cải thiện rõ rệt. Kết quả này cho thấy, hệ thống các biện pháp kỹ thuật lâm sinh của đề tài đã có những tác động tích cực tới việc nâng cao tỷ lệ sống của cây bản địa trồng ở khu vực. 4.2.1.3. Đánh giá sinh trưởng đường kính D1.3 và chiều cao vút ngọn Hvn Kết quả đánh giá sinh trưởng đường kính ngang ngực, chiều cao vút ngọn của các loài cây bản địa trong thí nghiệm chọn loài tại tuổi 6 ở khu vực nghiên cứu được tổng hợp tại bảng 4.6. 79 Bảng 4.6. Sinh trưởng D1,3, Hvn của các loài cây trồng tại tuổi 6 Loài cây trồng Đường kính D1.3 Chiều cao vút ngọn Hvn 3.1D (cm) SD1.3 (%) ∆D1.3 (cm/năm) Sig05 vnH (m) SHvn (%) ∆Hvn (m/năm) Sig05 1. Sao đen 6,8 9,9 1,1 0,000 5,4 10,0 0,9 0,000 2. Lim xanh 7,3 11,7 1,2 5,1 12,0 0,9 3. Dầu rái 6,3 14,3 1,1 4,8 10,7 0,8 4. Muồng đen 8,5 17,2 1,4 7,0 15,0 1,2 5. Thanh thất 7,7 14,6 1,3 6,3 11,2 1,1 Trung bình 7,3 13,5 1,2 5,7 11,8 1,0 Số liệu tại bảng 4.6 cho thấy: - Tại tuổi 6, sinh trưởng đường kính ngang ngực của các loài cây trong các công thức thí nghiệm dao động từ 6,8 - 8,5cm, trung bình là 7,3 cm, trong đó Muồng đen cho sinh trưởng đường kính ngang ngực là nhanh nhất với 8,5cm và sinh trưởng thấp nhất đối với loài Dầu rái chỉ đạt 6,3cm. Lượng tăng trưởng bình quân hàng năm về đường kính ngang ngực của các loài trong các công thức thí nghiệm dao động từ 1,1 - 1,4 cm/năm, trung bình là 1,2 cm/năm, trong đó đạt giá trị lớn nhất ở loài Muồng đen là 1,4 cm/năm và thấp nhất đối với loài Sao đen và Dầu rái đạt trung bình 1,1 cm/năm. Hệ số biến động về sinh trưởng đường kính giữa các loài trong các công thức thí nghiệm dao động từ 9,9 - 17,2%, trung bình là 13,5% cho thấy các cây trong từng công thức thí nghiệm và giữa các công thức thí nghiệm sinh trưởng có sự chênh lệch không quá lớn. Có thể thấy, lượng tăng trưởng bình quân hàng năm về đường kính của các loài cây trong thí nghiệm dao động từ 1,1 - 1,4 cm/năm là lớn hơn hẳn so với các chương trình, dự án trồng rừng trước đó, nơi mà lượng tăng trưởng bình quân về đường kính của các loài cây bản địa chỉ dao động 0,4 - 0,8 cm/năm (bảng 4.3). - Sinh trưởng chiều cao vút ngọn của các loài dao động từ 4,8 - 7,0m, trung 80 bình là 5,7m, trong đó đạt sinh trưởng cao nhất là loài Muồng đen với Hvn=7,0m, tiếp theo là loài Thanh thất đạt 6,3m và thấp nhất là loài Dầu rái chỉ đạt 4,8 m. Các loài cây trong các công thức thí nghiệm sinh trưởng khá đồng đều, thể hiện ở hệ số biến động về sinh trưởng chiều cao khá thấp, dao động 10,0 - 15,0%, trung bình là 11,8%. Lượng tăng trưởng bình quân hàng năm về chiều cao của các loài dao động từ 0,8 - 1,2 m/năm, trong đó đạt tốt nhất đối với loài Muồng đen và loài Thanh thất là 1,1 - 1,2 m/năm, thấp nhất là loài Dầu rái đạt 0,8 m/năm. So sánh với lượng tăng trưởng bình quân hàng năm về chiều cao của các loài Sao đen, Muồng đen, Dầu rái trong các chương trình, dự án trước đó chỉ đạt 0,5 - 0,8 m/năm (bảng 4.3) thì các loài cây trong thí nghiệm của đề tài thể hiện sự sinh trưởng tốt hơn hẳn. Kết quả phân tích phương sai một nhân tố ANOVA cho thấy, giá trị Sig tính toán đều đạt 0,000 < 0,05 đối với cả 2 chỉ tiêu sinh trưởng đường kính và chiều cao, chứng tỏ giữa các công thức thí nghiệm có sự sai khác rõ rệt về sinh trưởng đường kính, chiều cao của các loài cây trồng. Sử dụng tiêu chuẩn Ducan để so sánh các công thức thí nghiệm với nhau, kết quả cho thấy loài Muồng đen cho sinh trưởng đường kính, chiều cao là tốt nhất, tiếp đến là loài Thanh thất, Sao đen, Lim xanh và thấp nhất đối với loài Dầu rái. 81 Hình 4.1. Biểu đồ so sánh sinh trưởng D1,3, Hvn của 5 loài cây tại tuổi 6 trong thí nghiệm chọn loài Hình 4.2. Muồng đen 6 năm tuổi trồng trong thí nghiệm chọn loài 82 Hình 4.3. Thanh thất 6 năm tuổi trồng trong thí nghiệm chọn loài Hình 4.4. Dầu rái 6 năm tuổi trồng trong thí nghiệm chọn loài 83 4.2.1.3. Đánh giá chất lượng sinh trưởng của các loài cây Chất lượng sinh trưởng của loài cây phản ánh năng lực sinh trưởng và khả năng thích nghi của loài đó đối với điều kiện lập địa nơi trồng. Kết quả đánh giá chất lượng của các loài cây tại tuổi 6 tại khu vực nghiên cứu được thể hiện tại bảng 4.7. Bảng 4.7. Chất lượng cây trồng trong các công thức thí nghiệm chọn loài Loài cây trồng Chất lượng (%) Tốt Trung bình Xấu 1. Sao đen 43,4 47,8 8,8 2. Lim xanh 41,8 50,6 7,6 3. Dầu rái 46,0 40,5 13,5 4. Muồng đen 35,7 55,7 8,6 5. Thanh thất 35,7 45,8 18,5 Trung bình 40,5 48,1 11,4 Số liệu tại bảng 4.7 cho thấy, sau 6 năm trồng các loài cây trong thí nghiệm chọn loài đều sinh trưởng rất tốt, trong đó tỷ lệ cây phẩm chất tốt dao động 36,7 - 46,0% (trung bình là 40,5%); tỷ lệ cây phẩm chất trung bình dao động 40,5 - 55,7% (trung bình là 48,1%); cây phẩm chất xấu chiếm tỷ lệ khá thấp, dao động 7,6 - 18,5% (trung bình là 11,4%). Trong 5 loài cây đem trồng thì chỉ có Dầu rái và Muồng đen có tỷ lệ cây phẩm chất xấu trên 10%, trong đó Muồng đen có tỷ lệ cây phẩm chất xấu là lớn nhất lên tới 18,5%, cho thấy khả năng sinh trưởng của loài cây này tại khu vực nghiên cứu là không đồng nhất. Nhận xét và đánh giá chung: Từ những kết quả đánh giá về tỷ lệ sống, sinh trưởng đường kính ngang ngực, chiều cao vút ngọn, chất lượng của 5 loài cây trồng bản địa trong thí nghiệm chọn loài tại tuổi 6, có thể rút ra một số nhận xét sau: - Tỷ lệ sống của các loài cây đều đạt mức khá cao, dao động 73,0 - 86,1%, trong đó đạt cao nhất đối với loài Thanh thất là 86,1% và thấp nhất đối với loài Muồng đen chỉ đạt 73,0%. 84 - Muồng đen là loài đạt sinh trưởng đường kính ngang ngực lớn nhất đạt 8,5cm, tiếp đó là tới các loài Thanh thất (D1.3 = 7,7cm), Lim xanh (D1.3 = 7,3cm), Sao đen (D1.3 = 6,8cm) và thấp nhất là loài Dầu rái đường kính D1.3 chỉ đạt 6,3cm sau 6 năm trồng. Muồng đen vẫn là loài sinh trưởng ưu thế về chiều cao vút ngọn trong các loài cây thí nghiệm (Hvn = 7,3m), tiếp đến là Thanh thất (Hvn = 6,3m), Sao đen (Hvn = 5,4m), Lim xanh (Hvn = 5,1m) và thấp nhất là loài Dầu rái chỉ đạt Hvn là 4,8m sau 6 năm trồng. Tuy nhiên, hệ số biến động về sinh trưởng về đường kính và chiều cao của loài Muồng đen lại lớn hơn hẳn so với các loài còn lại đạt 17,2% về biến động sinh trưởng đường kính và 15,0% về biến động sinh trưởng chiều cao cho thấy khả năng sinh trưởng của loài là không đồng đều. - Tỷ lệ cây phẩm chất xấu chiếm lớn nhất ở loài Muồng đen là 18,5%, tiếp đến là loài Dầu rái với 13,5%, các loài cây còn lại cho sinh trưởng khá tốt với tỷ lệ cây phẩm chất xấu đều đạt dưới 10%. - Tỷ lệ sống, khả năng sinh trưởng đường kính, chiều cao của các loài cây bản địa trong thí nghiệm của đề tài đều thể hiện sự vượt trội hơn hẳn so với các chương tr
File đính kèm:
nghien_cuu_mot_so_bien_phap_ky_thuat_trong_rung_va_khoanh_nu.pdf
ThongTinDiemMoiCuaLuanAn(HoangPhuMy).doc
TomTatLuanAn(HoangPhuMy).doc