Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng phòng hộ vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên

Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng phòng hộ vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên trang 1

Trang 1

Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng phòng hộ vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên trang 2

Trang 2

Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng phòng hộ vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên trang 3

Trang 3

Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng phòng hộ vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên trang 4

Trang 4

Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng phòng hộ vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên trang 5

Trang 5

Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng phòng hộ vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên trang 6

Trang 6

Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng phòng hộ vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên trang 7

Trang 7

Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng phòng hộ vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên trang 8

Trang 8

Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng phòng hộ vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên trang 9

Trang 9

Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng phòng hộ vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên trang 10

Trang 10

Tải về để xem bản đầy đủ

pdf 202 trang nguyenduy 30/08/2025 60
Bạn đang xem 10 trang mẫu của tài liệu "Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng phòng hộ vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng phòng hộ vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên

Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng phòng hộ vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên
un gốc. Ngoài ra, còn 
bón thúc 200g phân 
NPK/hố/năm. 
 Số liệu tại bảng 4.2 cho thấy, kỹ thuật xây dựng rừng phòng hộ vùng đồi núi 
ven biển tỉnh Phú Yên bước đầu đã được chú ý đầu tư theo hướng thâm canh, trong 
đó có sự hoàn thiện dần theo thời gian, cụ thể: 
 - Trong chương trình 327 công tác điều tra lập địa còn chưa được chú trọng 
nhưng sang Dự án 661 nhiệm vụ này đã được quan tâm hơn. Tuy nhiên, do không 
có sự thống nhất giữa trên bản đồ thiết kế với ngoài thực địa nên tỷ lệ sống và chất 
lượng sinh trưởng của các loài cây trồng là không đồng đều. Sang tới Dự án JBIC, 
công tác điều tra lập địa được thực sự quan tâm gắn với loài cây trồng cụ thể. Việc 
kiểm tra, giám sát được làm chặt chẽ. 
 - Nguồn giống cũng được cải thiện hơn qua thời gian. Tiêu chuẩn cây con 
ngày càng được nâng cao để phù hợp với điều kiện khắc nghiệt của điều kiện lập 
địa nơi trồng rừng, cụ thể: Trong chương trình 327 cây bản địa đem trồng chỉ có 
tuổi từ 8 - 10 tháng tuổi thì đã tăng lên 12 - 14 tháng tuổi trong dự án 661 và tiếp 
tục 16 - 18 tháng tuổi trong dự án JBIC. Tiêu chuẩn cây trồng tăng lên có tác động 
tích cực tới việc tăng tỷ lệ sống cũng như khả năng sinh trưởng của cây bản địa. 
 - Trồng rừng ngày càng được đầu tư theo hướng thâm canh. Nếu như trong 
chương trình 327 chỉ có bón lót 100g NPK/hố và không bón thúc, Dự án 661 bón 
lót 150 - 200g phân NPK/hố và không bón thúc thì sang Dự án JBIC số lượng phân 
bón lót là 200 g/hố và có bón thúc 200g phân NPK/hố trong 4 năm chăm sóc. 
 - Các chương trình trồng rừng mới chủ yếu thực hiện trồng thuần loài hoặc 
hỗn loài theo tỷ lệ 1 cây trồng chính bản địa + 1 cây phù trợ, điều này gây khó khăn 
cho việc xây dựng đai rừng có kết cấu nhiều tầng để phòng hộ. Số lượng loài cây 
72 
bản địa đưa vào trồng rừng ở khu vực nói chung còn ít. 
 Nhìn chung, các kỹ thuật của dự án JBIC được coi là hoàn thiện hơn so với 
các chương trình, dự án trồng rừng phòng hộ trước đó đã được triển khai ở khu vực. 
Tuy nhiên, dự án mới chỉ tập trung vào xây dựng 1 mô hình hỗn giao giữa 1 cây 
trồng chính bản địa với 1 cây phù trợ, chưa có sự thử nghiệm để xây dựng mô hình 
hỗn giao nhiều loài, nhiều tầng tán. 
 c) Đánh giá các mô hình 
 Kết quả đánh giá tỷ lệ sống, sinh trưởng của các loài cây trồng rừng phòng 
hộ tại khu vực được tổng hợp tại bảng 4.3. 
Bảng 4.3. Sinh trưởng của các loài cây trồng trong các mô hình trồng rừng 
phòng hộ vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên 
TT 
Mô 
hình 
Tuổi Loài cây 
Mật độ 
trồng 
(cây/ha) 
Tỷ lệ 
sống 
(%) 
D1,3m(cm) Hvn (m) 
3.1D ∆D vnH ∆H 
1. Chương trình 327 
1.1 
Hỗn 
giao 
12 
Keo lá tràm 1.000 70,5 11,5 1,0 9,7 0,8 
Dầu rái 500 55,7 5,1 0,4 6,2 0,5 
1.2 
Hỗn 
giao 
13 
Keo lá tràm 1670 71,6 13,6 1,0 10,4 0,8 
Sao đen 550 57,3 5,5 0,4 7,1 0,6 
1.3 
Thuần 
loài 
12 Keo lá tràm 2.500 69,1 14,2 1,2 11,3 0,9 
2. Dự án 661 
2.1 
Hỗn 
giao 
8 
Keo lá tràm 1.000 80,5 10,6 1,3 8,6 1,1 
Sao đen 500 69,2 5,2 0,7 5,0 0,6 
2.2 
Hỗn 
giao 
7 
Keo lá tràm 1.000 83,1 9,0 1,3 7,9 1,1 
Dầu rái 500 70,0 4,2 0,6 4,6 0,7 
2.3 
Hỗn 
giao 
8 
Sao đen 450 67,3 4,6 0,6 4,1 0,5 
Gõ đỏ 450 49,5 3,2 0,4 3,6 0,5 
73 
Giáng 
hương 
450 0 - - - - 
2.4 
Hỗn 
giao 
6 
Keo lá tràm 1.000 82,6 7,5 1,3 5,8 1,0 
Muồng đen 500 68,5 4,5 0,8 4,2 0,7 
3. Dự án JBIC 
3.1 
Hỗn 
giao 
5 
Keo lá tràm 1.000 85,4 5,8 1,2 6,2 1,2 
Dầu rái 500 74,8 3,6 0,7 4,0 0,8 
Từ số liệu tại bảng 4.3, đề tài rút ra một số nhận xét sau: 
 - Trong chương trình 327: Keo lá tràm sau 12 - 13 năm trồng, tỷ lệ sống chỉ 
đạt 69,1 - 71,6%, lượng tăng trưởng bình quân hàng năm về đường kính đạt 1,0 - 
1,2 cm/năm, chiều cao 0,8 - 0,9 m/năm; Dầu rái và Sao đen đạt tỷ lệ sống thấp từ 
55,7 - 57,3%, lượng tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 0,4 cm/năm về đường kính 
và 0,5 - 0,6 m/năm về chiều cao. Nhìn chung, các loài cây trồng đều đạt tỷ lệ sống 
thấp và sinh trưởng kém. Nguyên nhân dẫn tới hiện tượng này ngoài ảnh hưởng của 
yếu tố kỹ thuật thì suất đầu tư quá thấp cũng là nguyên nhân quan trọng dẫn tới kết 
quả này. 
 - Trong dự án 661: Keo lá tràm sau 6 - 8 năm trồng đạt tỷ lệ sống 80,5 - 
83,1%, lượng tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 1,3 cm/năm về đường kính, 1,0 
m/năm về chiều cao; các loài Dầu rái, Sao đen, Muồng đen sinh trưởng khá tốt, đạt 
tỷ lệ sống 67,3 - 70,0%, lượng tăng trưởng bình quân đạt 0,6 - 0,8 cm/năm về 
đường kính và 0,5 - 0,7 m/năm về chiều cao sau 6 - 8 năm trồng. Các loài Gõ đỏ, 
Giáng hương sinh trưởng khá chậm, tỷ lệ sống đạt thấp hơn 50%, trong đó loài 
Giáng hương bị chết toàn bộ sau khi đem đi trồng. Nhìn chung, cây trồng trong dự 
án 661 đã có sự phát triển tốt hơn so với chương trình 327. Nguyên nhân chủ yếu là 
do yếu tố kỹ thuật đã được cải thiện một phần và suất đầu tư cũng được tăng lên. 
Tuy nhiên, suất đầu tư cho trồng rừng phòng hộ vẫn còn quá thấp so với thực tế nên 
người dân ít quan tâm chăm sóc cho các loài cây trồng, đặc biệt là những cây phòng 
hộ chính. 
 - Trong dự án JBIC: Đây là dự án có vốn đầu tư nước ngoài nên suất đầu tư 
74 
rất cao. Mặt khác, các yếu tố kỹ thuật như điều tra lập địa, tiêu chuẩn cây giống, 
phân bón cũng đặc biệt được chú trọng nên cây trồng sinh trưởng phát triển khá tốt. 
Keo lá tràm sau 5 năm trồng đạt lượng tăng trưởng bình quân hàng năm là 1,2 
cm/năm về đường kính và 1,2 m/năm về chiều cao; Dầu rái đạt lượng tăng trưởng 
bình quân hàng năm là 0,7 cm/năm về đường kính và 0,8 m/năm về chiều cao sau 5 
năm trồng. Kết quả này cho thấy, yếu tố kỹ thuật và suất đầu tư là 2 yếu tố đặc biệt 
quan trọng đối với trồng rừng phòng hộ nói chung và ở khu vực rừng phòng hộ đồi 
núi ven biển tỉnh Phú Yên nói riêng. 
 * Nhận xét chung: 
 - Tại vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên, số loài cây bản địa được thử 
nghiệm và số loài thử nghiệm thành công là còn quá ít. Trong tổng số 8 loài cây 
trồng (bao gồm cả cây trồng chính và cây phù trợ) đã được trồng thử nghiệm thì chỉ 
có Dầu rái, Sao đen, Muồng đen bước đầu tỏ ra phù hợp, thể hiện ở khả năng sinh 
trưởng tốt, tỷ lệ sống đạt khá cao. Do đó, trong thời gian tới, cần phải tiếp tục 
nghiên cứu thử nghiệm nhiều loài cây bản địa mới có khả năng thích nghi tốt với 
điều kiện của khu vực nhằm đa dạng thành phần loài cây trồng và nâng cao khả 
năng phòng hộ của rừng trồng. 
 - Số lượng loài cây trồng hỗn giao trong mỗi mô hình còn ít, mới chỉ dao 
động 2 - 3 loài cây (chủ yếu là 2 loài), trong đó chỉ có 1-2 loài cây bản địa. Nguyên 
nhân chủ yếu là do những hiểu biết về đặc điểm sinh thái, sinh học của các loài cây 
bản địa của chúng ta còn khá hạn chế. Việc trồng cùng lúc cây phù trợ với cây bản 
địa, đặc biệt trên các lập địa khó khăn, đã bị suy thoái ở các mức độ khác nhau tỏ ra 
không phù hợp do cây phù trợ chưa kịp phát triển để tạo hoàn cảnh rừng cho cây 
bản địa sinh trưởng và phát triển. 
 - Vấn đề trồng cây bản địa dưới tán rừng các loài cây phù trợ cũng được 
quan tâm. Trong giai đoạn đầu khi cây bản địa cần có cây che bóng thì cây phù trợ 
tỏ ra hữu hiệu trong việc tạo điều kiện cho cây bản địa phát triển. Giai đoạn sau đó 
khi nhu cầu ánh sáng của cây bản địa cao hơn thì cây phù trợ lại làm cản trở sự phát 
triển của cây bản địa, do đó cần phải tỉa thưa để giải phóng không gian dinh dưỡng 
75 
cho cây bản địa phát triển. Tuy nhiên, việc xác định thời điểm tỉa thưa, cường độ tỉa 
thưa, biện pháp giảm thiểu sự đổ gẫy khi tỉa thưa,... lại là một bài toán khó chưa 
được giải quyết một cách hợp lý, và kịp thời bởi các loài cây khác nhau thì nhu cầu 
ánh sáng theo từng giai đoạn cũng khác nhau. 
 - Khu vực rừng phòng hộ vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên có điều kiện 
lập địa tương đối khắc nghiệt. Do vậy, công tác điều tra lập địa, lựa chọn loài cây 
trồng phù hợp với từng dạng lập địa cần đặc biệt được chú ý. Kỹ thuật trồng rừng 
phòng hộ cũng cần phải thực hiện theo hướng thâm canh, trong đó chú trọng yếu tố 
nguồn giống tốt, kỹ thuật chăm sóc và sử dụng phân bón phù hợp. Tiêu chuẩn cây 
con đem trồng cần phải được nâng lên 16 - 18 tháng tuổi để nâng cao tỷ lệ sống và 
khả năng phát triển của cây con sau khi trồng. 
 - Suất đầu tư cho trồng rừng phòng hộ còn thấp, nguồn vốn giải ngân chậm, 
các đơn vị thực hiện là đơn vị sự nghiệp không có vốn đầu tư, người dân tham gia 
trồng rừng đều là những hộ nghèo nên việc trồng và chăm sóc rừng bỏ qua nhiều 
công đoạn và không đúng tiến độ thời vụ nên chất lượng rừng đạt thấp. 
4.2. Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật trồng rừng phòng hộ vùng đồi núi ven 
biển tỉnh Phú Yên 
 4.2.1. Chọn loài cây trồng rừng phòng hộ vùng đồi núi ven biển 
 4.2.1.1. Cơ sở của việc lựa chọn loài cây dự tuyển đưa vào thí nghiệm 
Việc lựa chọn loài cây dự tuyển đưa vào thí nghiệm chọn loài được dựa trên 
3 căn cứ cơ bản sau: 
- Có các kết quả bước đầu về gây trồng trên diện rộng theo các dự án trồng 
rừng hoặc trồng thử nghiệm quy mô nhỏ, phân tán trong khu vực nghiên cứu. 
- Có phân bố tự nhiên ở vùng nghiên cứu. 
- Có các đặc điểm sinh thái phù hợp với điều kiện lập địa khu vực vùng đồi 
núi ven biển tỉnh Phú Yên. 
Các kết quả khảo sát thực địa và tổng kết, đánh giá các mô hình rừng trồng 
phòng hộ tại khu vực nghiên cứu (phần kết quả 4.1) cho thấy 3 loài cây trồng bản 
địa có triển vọng nhất đã được rút ra là Dầu rái, Sao đen và Muồng đen. Các loài 
76 
cây này có tỷ lệ sống cao, tình hình sinh trưởng tốt hơn các loài khác. Ngoài ra, Lim 
xanh và Thanh thất là 2 loài đã từng được trồng thử nghiệm quy mô nhỏ, phân tán 
trong khu vực và bước đầu tỏ ra có triển vọng. Cả 5 loài cây này đều có phân bố ở 
tỉnh Phú Yên. 
Về đặc điểm sinh thái của các loài cây, đề tài đã tổng hợp nhu cầu một số 
nhân tố sinh thái chủ yếu của các loài cây này tại bảng 4.4. 
Bảng 4.4. Nhu cầu sinh thái của các loài cây dự tuyển 
T
T 
Loài 
cây 
Độ cao 
so với 
mặt 
nước 
biển 
(m) 
Điều kiện khí hậu Điều kiện đất đai 
Lượng 
mưa 
(mm/ 
năm) 
Nhiệt độ (độ C) 
Loại đất 
Độ 
pH 
Trun
g 
bình 
năm 
Tối 
cao 
TB 
Tối 
thấp 
TB 
1 Dầu rái 
100 - 
600 
1.800 - 
2500 
25 - 
28 
32 - 
34 
18 - 
22 
Đất xám trên phù 
sa cổ có sét pha 
cát; đất feralit vàng 
đỏ phát triển trên 
phiến thạch sét, 
phiến thạch mica, 
tầng dầy, ẩm. 
4-5 
2 
Lim 
xanh 
<700 
1.500 - 
3.500 
20 - 
25 
32 - 
34 
11 - 
25 
Đất feralit đỏ vàng 
phát triển trên đá 
mẹ granit, phiến 
thạch sét, phiến 
thạch mica, sa 
thạch, gnai, 
poocphia; ưa đất 
tơi xốp, nhiều mùn. 
4-6 
3 Muồng <1.200 600 - 20 - 32 - 13 - Đất feralit đỏ vàng, 4-6 
77 
đen 3.500 27 33 22 nâu đỏ phát triển 
trên đá Bazal, 
poocphia, phiến 
thạch mica, đá vôi, 
thành phần cơ giới 
cát pha đến thịt nhẹ 
4 
Sao 
đen 
<800 
1.500 - 
2.500 
25 - 
28 
33 - 
35 
16 - 
18 
Mọc tốt trên đất 
xám phù sa cổ; sét 
pha cát; đất feralit 
vàng đỏ phát triển 
trên phiến thạch 
sét, phiến thạch 
mica, tầng dầy. 
4-5 
5 
Thanh 
thất 
<1.000 
1.000 - 
2.500 
18 - 
25 
- - 
Trồng được trên 
nhiều loại đất, 
thích hợp đất thịt 
và ẩm 
4-
7,5 
(Nguồn: Cẩm nang ngành lâm nghiệp - Chương chọn loài cây ưu tiên cho các 
chương trình trồng rừng ở Việt Nam [4]) 
Đối chiếu với các đặc điểm về địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng, của khu vực 
vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên cho thấy đặc điểm sinh thái của 5 loài cây dự 
tuyển phù hợp với điều kiện tự nhiên vùng đồi núi ven biển tỉnh Phú Yên. 
Từ các kết quả đánh giá và phân tích trên đây, đề tài đã lựa chọn 5 loài cây: 
Dầu rái, Sao đen, Muồng đen, Lim xanh và Thanh thất làm các loài cây dự tuyển 
đưa vào thí nghiệm chọn loài. 
4.2.1.2. Đánh giá tỷ lệ sống của các loài cây 
 Kết quả theo dõi tỷ lệ sống của các loài cây bản địa trong 5 công thức thí 
nghiệm sau 6 năm trồng được tổng hợp tại bảng 4.5. 
78 
Bảng 4.5. Diễn biến tỷ lệ sống của 5 loài cây sau 6 năm trồng 
Loài cây trồng 
Diễn biến tỷ lệ sống (%) theo các năm 
Tuổi 1 Tuổi 2 Tuổi 3 Tuổi 4 Tuổi 5 Tuổi 6 
1.Sao đen 97,4 88,5 86,3 85,5 84,3 83,0 
2.Lim xanh 93,6 91,4 87,8 84,7 83,6 82,7 
3.Dầu rái 95,3 85,5 83,7 79,8 77,4 76,8 
4.Muồng đen 94,5 82,8 78,5 75,0 74,0 73,0 
5.Thanh thất 97,8 93,5 92,3 90,1 87,1 86,1 
 Số liệu tại bảng 4.5 cho thấy, tỷ lệ sống của các loài có sự biến động khá lớn 
giữa các công thức thí nghiệm và sự biến động tỷ lệ sống theo thời gian đối với từng 
công thức thí nghiệm, cụ thể như sau: 
 Sau 1 năm trồng, do được trồng dặm nên tỷ lệ sống của các loài đạt khá cao, 
dao động từ 93,6 - 97,8%. Tuy nhiên, ở những năm tiếp theo, tỷ lệ sống của các loài 
có sự giảm rõ rệt do ở khu vực nghiên cứu đất nghèo dinh dưỡng, độ dốc khá lớn, 
tầng đất mỏng, gió biển, mùa khô kéo dài trong năm, đã ảnh hưởng tới tỷ lệ sống 
của cây trồng. Đến tuổi 6, tỷ lệ sống của các loài chỉ còn dao động 73,0 - 86,1%, 
trong đó đạt cao nhất ở công thức thí nghiệm 5 (trồng thuần loài Thanh thất) là 
86,1% và thấp nhất ở công thức thí nghiệm 4 (trồng thuần loài Muồng đen) chỉ đạt 
73,0%. Tuy nhiên, nếu so sánh với tỷ lệ sống của các loài cây bản địa trồng trong 
các chương trình, dự án trước đây (kết quả nghiên cứu phần 4.1) thì tỷ lệ sống chỉ 
dao động từ 55,7 - 74,8% (bảng 4.3), các thí nghiệm của đề tài cho thấy tỷ lệ sống 
đã được cải thiện rõ rệt. Kết quả này cho thấy, hệ thống các biện pháp kỹ thuật lâm 
sinh của đề tài đã có những tác động tích cực tới việc nâng cao tỷ lệ sống của cây 
bản địa trồng ở khu vực. 
4.2.1.3. Đánh giá sinh trưởng đường kính D1.3 và chiều cao vút ngọn Hvn 
 Kết quả đánh giá sinh trưởng đường kính ngang ngực, chiều cao vút ngọn 
của các loài cây bản địa trong thí nghiệm chọn loài tại tuổi 6 ở khu vực nghiên cứu 
được tổng hợp tại bảng 4.6. 
79 
Bảng 4.6. Sinh trưởng D1,3, Hvn của các loài cây trồng tại tuổi 6 
Loài cây 
trồng 
Đường kính D1.3 Chiều cao vút ngọn Hvn 
3.1D
(cm) 
SD1.3 
(%) 
∆D1.3 
(cm/năm) 
Sig05 
vnH 
(m) 
SHvn 
(%) 
∆Hvn 
(m/năm) 
Sig05 
1. Sao đen 6,8 9,9 1,1 
0,000 
5,4 10,0 0,9 
0,000 
2. Lim xanh 7,3 11,7 1,2 5,1 12,0 0,9 
3. Dầu rái 6,3 14,3 1,1 4,8 10,7 0,8 
4. Muồng đen 8,5 17,2 1,4 7,0 15,0 1,2 
5. Thanh thất 7,7 14,6 1,3 6,3 11,2 1,1 
Trung bình 7,3 13,5 1,2 5,7 11,8 1,0 
Số liệu tại bảng 4.6 cho thấy: 
 - Tại tuổi 6, sinh trưởng đường kính ngang ngực của các loài cây trong các 
công thức thí nghiệm dao động từ 6,8 - 8,5cm, trung bình là 7,3 cm, trong đó 
Muồng đen cho sinh trưởng đường kính ngang ngực là nhanh nhất với 8,5cm và 
sinh trưởng thấp nhất đối với loài Dầu rái chỉ đạt 6,3cm. Lượng tăng trưởng bình 
quân hàng năm về đường kính ngang ngực của các loài trong các công thức thí 
nghiệm dao động từ 1,1 - 1,4 cm/năm, trung bình là 1,2 cm/năm, trong đó đạt giá trị 
lớn nhất ở loài Muồng đen là 1,4 cm/năm và thấp nhất đối với loài Sao đen và Dầu 
rái đạt trung bình 1,1 cm/năm. Hệ số biến động về sinh trưởng đường kính giữa các 
loài trong các công thức thí nghiệm dao động từ 9,9 - 17,2%, trung bình là 13,5% 
cho thấy các cây trong từng công thức thí nghiệm và giữa các công thức thí nghiệm 
sinh trưởng có sự chênh lệch không quá lớn. Có thể thấy, lượng tăng trưởng bình 
quân hàng năm về đường kính của các loài cây trong thí nghiệm dao động từ 1,1 - 
1,4 cm/năm là lớn hơn hẳn so với các chương trình, dự án trồng rừng trước đó, nơi 
mà lượng tăng trưởng bình quân về đường kính của các loài cây bản địa chỉ dao 
động 0,4 - 0,8 cm/năm (bảng 4.3). 
 - Sinh trưởng chiều cao vút ngọn của các loài dao động từ 4,8 - 7,0m, trung 
80 
bình là 5,7m, trong đó đạt sinh trưởng cao nhất là loài Muồng đen với Hvn=7,0m, 
tiếp theo là loài Thanh thất đạt 6,3m và thấp nhất là loài Dầu rái chỉ đạt 4,8 m. Các 
loài cây trong các công thức thí nghiệm sinh trưởng khá đồng đều, thể hiện ở hệ số 
biến động về sinh trưởng chiều cao khá thấp, dao động 10,0 - 15,0%, trung bình là 
11,8%. Lượng tăng trưởng bình quân hàng năm về chiều cao của các loài dao động 
từ 0,8 - 1,2 m/năm, trong đó đạt tốt nhất đối với loài Muồng đen và loài Thanh thất 
là 1,1 - 1,2 m/năm, thấp nhất là loài Dầu rái đạt 0,8 m/năm. So sánh với lượng tăng 
trưởng bình quân hàng năm về chiều cao của các loài Sao đen, Muồng đen, Dầu rái 
trong các chương trình, dự án trước đó chỉ đạt 0,5 - 0,8 m/năm (bảng 4.3) thì các 
loài cây trong thí nghiệm của đề tài thể hiện sự sinh trưởng tốt hơn hẳn. 
 Kết quả phân tích phương sai một nhân tố ANOVA cho thấy, giá trị Sig tính 
toán đều đạt 0,000 < 0,05 đối với cả 2 chỉ tiêu sinh trưởng đường kính và chiều cao, 
chứng tỏ giữa các công thức thí nghiệm có sự sai khác rõ rệt về sinh trưởng đường 
kính, chiều cao của các loài cây trồng. Sử dụng tiêu chuẩn Ducan để so sánh các 
công thức thí nghiệm với nhau, kết quả cho thấy loài Muồng đen cho sinh trưởng 
đường kính, chiều cao là tốt nhất, tiếp đến là loài Thanh thất, Sao đen, Lim xanh và 
thấp nhất đối với loài Dầu rái. 
81 
Hình 4.1. Biểu đồ so sánh sinh trưởng D1,3, Hvn của 5 loài cây tại tuổi 6 trong 
thí nghiệm chọn loài 
Hình 4.2. Muồng đen 6 năm tuổi trồng trong thí nghiệm chọn loài 
82 
Hình 4.3. Thanh thất 6 năm tuổi trồng trong thí nghiệm chọn loài 
Hình 4.4. Dầu rái 6 năm tuổi trồng trong thí nghiệm chọn loài 
83 
4.2.1.3. Đánh giá chất lượng sinh trưởng của các loài cây 
 Chất lượng sinh trưởng của loài cây phản ánh năng lực sinh trưởng và khả 
năng thích nghi của loài đó đối với điều kiện lập địa nơi trồng. Kết quả đánh giá 
chất lượng của các loài cây tại tuổi 6 tại khu vực nghiên cứu được thể hiện tại bảng 
4.7. 
Bảng 4.7. Chất lượng cây trồng trong các công thức thí nghiệm chọn loài 
Loài cây trồng 
Chất lượng (%) 
Tốt Trung bình Xấu 
1. Sao đen 43,4 47,8 8,8 
2. Lim xanh 41,8 50,6 7,6 
3. Dầu rái 46,0 40,5 13,5 
4. Muồng đen 35,7 55,7 8,6 
5. Thanh thất 35,7 45,8 18,5 
Trung bình 40,5 48,1 11,4 
Số liệu tại bảng 4.7 cho thấy, sau 6 năm trồng các loài cây trong thí nghiệm 
chọn loài đều sinh trưởng rất tốt, trong đó tỷ lệ cây phẩm chất tốt dao động 36,7 - 
46,0% (trung bình là 40,5%); tỷ lệ cây phẩm chất trung bình dao động 40,5 - 55,7% 
(trung bình là 48,1%); cây phẩm chất xấu chiếm tỷ lệ khá thấp, dao động 7,6 - 
18,5% (trung bình là 11,4%). Trong 5 loài cây đem trồng thì chỉ có Dầu rái và 
Muồng đen có tỷ lệ cây phẩm chất xấu trên 10%, trong đó Muồng đen có tỷ lệ cây 
phẩm chất xấu là lớn nhất lên tới 18,5%, cho thấy khả năng sinh trưởng của loài cây 
này tại khu vực nghiên cứu là không đồng nhất. 
Nhận xét và đánh giá chung: 
Từ những kết quả đánh giá về tỷ lệ sống, sinh trưởng đường kính ngang 
ngực, chiều cao vút ngọn, chất lượng của 5 loài cây trồng bản địa trong thí nghiệm 
chọn loài tại tuổi 6, có thể rút ra một số nhận xét sau: 
- Tỷ lệ sống của các loài cây đều đạt mức khá cao, dao động 73,0 - 86,1%, 
trong đó đạt cao nhất đối với loài Thanh thất là 86,1% và thấp nhất đối với loài 
Muồng đen chỉ đạt 73,0%. 
84 
- Muồng đen là loài đạt sinh trưởng đường kính ngang ngực lớn nhất đạt 
8,5cm, tiếp đó là tới các loài Thanh thất (D1.3 = 7,7cm), Lim xanh (D1.3 = 7,3cm), 
Sao đen (D1.3 = 6,8cm) và thấp nhất là loài Dầu rái đường kính D1.3 chỉ đạt 6,3cm 
sau 6 năm trồng. Muồng đen vẫn là loài sinh trưởng ưu thế về chiều cao vút ngọn 
trong các loài cây thí nghiệm (Hvn = 7,3m), tiếp đến là Thanh thất (Hvn = 6,3m), Sao 
đen (Hvn = 5,4m), Lim xanh (Hvn = 5,1m) và thấp nhất là loài Dầu rái chỉ đạt Hvn là 
4,8m sau 6 năm trồng. Tuy nhiên, hệ số biến động về sinh trưởng về đường kính và 
chiều cao của loài Muồng đen lại lớn hơn hẳn so với các loài còn lại đạt 17,2% về 
biến động sinh trưởng đường kính và 15,0% về biến động sinh trưởng chiều cao cho 
thấy khả năng sinh trưởng của loài là không đồng đều. 
- Tỷ lệ cây phẩm chất xấu chiếm lớn nhất ở loài Muồng đen là 18,5%, tiếp 
đến là loài Dầu rái với 13,5%, các loài cây còn lại cho sinh trưởng khá tốt với tỷ lệ 
cây phẩm chất xấu đều đạt dưới 10%. 
- Tỷ lệ sống, khả năng sinh trưởng đường kính, chiều cao của các loài cây 
bản địa trong thí nghiệm của đề tài đều thể hiện sự vượt trội hơn hẳn so với các 
chương tr

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_mot_so_bien_phap_ky_thuat_trong_rung_va_khoanh_nu.pdf
  • docThongTinDiemMoiCuaLuanAn(HoangPhuMy).doc
  • docTomTatLuanAn(HoangPhuMy).doc