Tóm tắt Luận án Lịch sử tiến hóa địa chất Holocen đới bờ khu vực Thừa Thiên - Huế - Đà Nẵng

Tóm tắt Luận án Lịch sử tiến hóa địa chất Holocen đới bờ khu vực Thừa Thiên - Huế - Đà Nẵng trang 1

Trang 1

Tóm tắt Luận án Lịch sử tiến hóa địa chất Holocen đới bờ khu vực Thừa Thiên - Huế - Đà Nẵng trang 2

Trang 2

Tóm tắt Luận án Lịch sử tiến hóa địa chất Holocen đới bờ khu vực Thừa Thiên - Huế - Đà Nẵng trang 3

Trang 3

Tóm tắt Luận án Lịch sử tiến hóa địa chất Holocen đới bờ khu vực Thừa Thiên - Huế - Đà Nẵng trang 4

Trang 4

Tóm tắt Luận án Lịch sử tiến hóa địa chất Holocen đới bờ khu vực Thừa Thiên - Huế - Đà Nẵng trang 5

Trang 5

Tóm tắt Luận án Lịch sử tiến hóa địa chất Holocen đới bờ khu vực Thừa Thiên - Huế - Đà Nẵng trang 6

Trang 6

Tóm tắt Luận án Lịch sử tiến hóa địa chất Holocen đới bờ khu vực Thừa Thiên - Huế - Đà Nẵng trang 7

Trang 7

Tóm tắt Luận án Lịch sử tiến hóa địa chất Holocen đới bờ khu vực Thừa Thiên - Huế - Đà Nẵng trang 8

Trang 8

Tóm tắt Luận án Lịch sử tiến hóa địa chất Holocen đới bờ khu vực Thừa Thiên - Huế - Đà Nẵng trang 9

Trang 9

Tóm tắt Luận án Lịch sử tiến hóa địa chất Holocen đới bờ khu vực Thừa Thiên - Huế - Đà Nẵng trang 10

Trang 10

Tải về để xem bản đầy đủ

pdf 27 trang nguyenduy 01/04/2025 60
Bạn đang xem 10 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận án Lịch sử tiến hóa địa chất Holocen đới bờ khu vực Thừa Thiên - Huế - Đà Nẵng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Tóm tắt Luận án Lịch sử tiến hóa địa chất Holocen đới bờ khu vực Thừa Thiên - Huế - Đà Nẵng

Tóm tắt Luận án Lịch sử tiến hóa địa chất Holocen đới bờ khu vực Thừa Thiên - Huế - Đà Nẵng
 
biotit hạt vừa đến lớn, kiến trúc dạng porphyr và granodiorit biotit. 
Pha 2: granit 2 mica sáng màu, hạt nhỏ đến vừa. Pha đá mạch: đá 
granit dạng mạch aplit và granit pegmatit. 
1.3.3. Kiến tạo 
1.3.3.1. Vị trí kiến tạo: KVNC là một bộ phận của thềm lục địa 
miền Trung Việt Nam. Vì vậy sự tiến hóa kiến tạo của đới bờ khu 
vực nghiên cứu có mối quan hệ chặt chẽ với tiến hóa kiến tạo. 
1.3.3.2. Các hệ thống đứt gãy: có 4 hệ thống đứt gãy chính: TB - 
ĐN, ĐB - TN, phương á vĩ tuyến và phương á kinh tuyến. 
8 
CHƢƠNG 2. CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƢƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
2.1. Cơ sở khoa học 
2.1.1. Một số thuật ngữ 
Tướng trầm tích (sedimentary facies): Theo Rukhin, tướng 
trầm tích gồm tập hợp các trầm tích được thành tạo trong một vị 
trí nhất định có những điều kiện thành tạo đặc trưng khác với 
những vùng lân cận. 
Đường bờ (shoreline): Đường bờ được hiểu là đường ranh giới 
phân chia giữa đất liền và biển. 
Đới bờ (Coastal zone): Đới bờ (bao gồm trước bờ và sau bờ) là đới 
chuyển tiếp giữa lục địa và đại dương mà ở đó có sự ảnh hưởng tương 
tác giữa đất liền và biển. 
Trầm tích Holocen: Các thành tạo trầm tích Holocen được hình 
thành vào giai đoạn muộn nhất của Kỷ Đệ Tứ và được xác định là bắt 
đầu từ 11.700 năm trước. 
2.1.2. Khái quát về tiến hóa địa chất đới bờ 
Tiến hóa địa chất (geological evolution) có nghĩa là sự thay đổi 
thành phần vật chất, tính chất hóa - lý và các quá trình địa chất của 
Trái đất theo thời gian. Bản chất là quá trình thay đổi về thành phần 
hóa học, khoáng vật, thạch học, điều kiện môi trường hóa lý, cấu trúc 
- kiến tạo của các thành tạo địa chất theo không gian và thời gian 
dưới tác động của các quá trình địa chất nội sinh và ngoại sinh. 
2.2. Các phƣơng pháp nghiên cứu 
2.2.1. Phương pháp tng pháp nghiên cứuác độn 
NCS tiến hành tổng hợp các tài liệu có trước, phân tích để đưa ra 
những đánh giá về các kết quả nghiên cứu về mặt địa chất, các tài 
liệu địa vật lý, hải văn. Trên cơ sở đó NCS xác định những vấn đề 
cần giải quyết. 
9 
2.2.2. Phương pháp khảo sát thực địa 
NCS tiến hành 03 đợt khảo sát thực địa trong toàn khu vực nghiên 
cứu, theo các mặt cắt vuông góc với phương cấu trúc, kéo từ tây sang 
đông ra đến biển. Mục đích của thực địa là thu thập mẫu, thông tin địa 
hình, địa mạo, cấu tạo, thành phần địa tầng và các hiện tượng biến dạng 
của các đá móng trước Kainozoi phục vụ cho việc luận giải địa chất sau 
này. 
2.2.3. Nhóm các phương pháp trong phòng thí nghiệm 
2.2.3.1. Phương pháp phân tích độ hạt trầm tích: NCS sử dụng 
phương pháp này để nghiên cứu độ hạt và tính toán các thông số trầm 
tích. 
2.2.3.2. Phương pháp phân loại trầm tích: Trên cơ sở kết quả 
phân tích độ hạt, NCS tính phần trăm (%) của các nhóm: sạn sỏi, cát, 
bột và sét. Sử dụng phần mềm để phân loại các trường trầm tích theo 
biểu đồ của Folk, 1954. Trên cơ sở kết quả phân loại, xác định chính 
xác tên gọi của các loại trầm tích. 
2.2.3.3. Phân tích thành phần và kiến trúc hạt vụn 
Xác định thành phần và cấu trúc khoáng vật bằng SEM: Mục 
đích của NCS là để nghiên cứu chi tiết hơn về hình thái, cấu trúc tinh 
thể và thành phần của các khoáng vật trong trầm tích. NCS đã phân 
tích 30 mẫu bở rời và mẫu lát mỏng tại Trung tâm thí nghiệm Công 
nghệ cao, Trường Đại học Mỏ - Địa chất. 
Phân tích thành phần trầm tích vụn bằng kính hiển vi phân cực: 
Trầm tích vụn bở rời được gia công thành mẫu lát mỏng và phân tích 
bằng kính hiển vi phân cực như phân tích lát mỏng thạch học. NCS 
phân tích 12 mẫu để xác định thành phần mảnh vụn. 
2.2.3.4. Phương pháp địa chấn địa tầng: NCS tiến hành tái xử lý 
và minh giải tài liệu địa chấn nông phân giải cao để phân chia các tập 
địa tầng địa chấn, phân tích các đặc điểm về tướng địa chấn, hình 
10 
thái, kích thước, phân bố không gian và thứ tự các tập địa tầng, thành 
lập các bản đồ đẳng sâu và bản đồ đẳng dày cho KVNC. Việc minh 
giải được thực hiện trên phần mềm Kingdom Suite V8.5. 
2.2.3.5. Nhóm các phương pháp địa hóa 
Phương pháp định tuổi tuyệt đối U-Pb trên khoáng vật zircon: 
NCS đã sử dụng khoáng vật zircon để định tuổi tuyệt đối bằng 
phương pháp U-Pb. 10 mẫu được lấy ở các độ sâu khác nhau trong lỗ 
khoan LK.ĐL đã được NCS tách khoáng vật zircon. Việc phân tích 
tuổi được tiến hành bằng máy phân tích LA-ICPMS tại phòng thí 
nghiệm của Đại học Birkbeck London. Mỗi mẫu khoảng 100 hạt 
zircon được lựa chọn để phân tích. Từ kết quả phân tích, vẽ biểu đồ 
từ đó định lượng nguồn trầm tích của KVNC. 
Phân tích đồng vị oxy trên các hóa thạch Foraminifera (Trùng lỗ): 
NCS đã chọn 2 loài Foraminifera là Ammonia annecten và 
Pseudorotalia schroeteriana trong LK.ĐL ở 7 độ sâu khác nhau. Tổng 
số 14 mẫu được NCS phân tích tại phòng thí nghiệm của Trường Đại 
học Đồng Tế, Trung Quốc. Kết quả phân tích mẫu chỉ ra tỷ số đồng vị 
O
18/
O
16
 ở các độ sâu khác nhau. Trên cơ sở đó biết được sự thay đổi của 
nhiệt độ môi trường cổ trong các giai đoạn lịch sử khác nhau. 
2.2.3.6. Phương pháp nghiên cứu hóa thạch vi cổ sinh: NCS đã 
tiến hành phân tích, xác định tên loài hóa thạch Foraminifera có trong 
mẫu trầm tích trong giếng khoan bãi triều và trầm tích tầng mặt bằng 
kính hiển vi hai mắt. Kết quả xác định các loài Foraminifera, tuổi địa 
tầng, môi trường thành tạo trầm tích và điều kiện cổ địa lý. 
2.2.3.7. Phương pháp tướng đá - cổ địa lý: NCS đã thành lập sơ 
đồ phân bố các tướng đá trong KVNC. Bản đồ thể hiện những đặc 
điểm môi trường trầm tích, phương thức vận chuyển của vật liệu vụn, 
vùng xâm thực bóc mòn và đặc điểm tướng đá. 
11 
CHƢƠNG 3. ĐẶC ĐIỂM CÁC TRẦM TÍCH HOLOCEN 
KHU VỰC ĐỚI BỜ THỪA THIÊN - HUẾ - ĐÀ NẴNG 
3.1. Trầm tích Holocen sớm - giữa 
3.1.1. Hình thái và đặc điểm phân bố của các thành tạo trầm 
tích Holocen sớm - giữa 
Trên các mặt cắt địa chấn nông phân giải cao, các thành tạo trầm 
tích Q2
1-2
 có phản xạ địa chấn liên tục và song song với nhau, biên độ 
phản xạ mạnh dần từ dưới lên trên, phù hợp với thành phần độ hạt thay 
đổi từ dưới lên (từ mịn lên thô với tỉ lệ cát tăng dần). Ranh giới dưới là 
bề mặt bào mòn, các dòng chảy cổ và rãnh xâm thực khá rõ. Trầm tích 
Q2
1-2
 chịu tác động của hoạt động kiến tạo nên bị biến dạng uốn nếp 
yếu được thể hiện qua phản xạ địa chấn song song và lượn sóng. Ngoài 
ra, còn có một số các đứt gãy trẻ cắt qua trầm tích Holocen. Các đứt 
gãy có biên độ dịch chuyển nhỏ, thuận hoặc thẳng đứng. 
Bản đồ đẳng sâu, ranh giới dưới của tập trầm tích Q2
1-2
 phân bố 
từ ~ 30m (ven bờ), tới trên 85m (ra ngoài rìa). Bề mặt đáy của tầng 
này tương đối dốc ở ven bờ và càng ra xa càng thoải, cho thấy chúng 
chịu ảnh hưởng của hoạt động sụt lún của các đứt gãy tầng nông ven 
bờ. Chiều dày tập được dự báo từ ~ 10 - 25 m. 
Bản đồ đẳng dày cho thấy quy luật tích tụ trầm tích từ Bắc xuống 
Nam và từ Đông sang Tây có sự khác nhau. Phía bắc đến Lăng Cô thì 
chiều dày trầm tích có xu hướng giảm từ ven bờ (~ 25m) ra vùng 
nước sâu (~ 10m). Do ở ven bờ bị sụt võng mạnh hơn nên phần lớn 
vật liệu trầm tích từ đất liền vận chuyển ra được giữ lại ở trung tâm 
lắng đọng ven bờ, chỉ có một lượng ít các hạt mịn được vận chuyển 
ra xa nên phần nước sâu có chiều dày trầm tích mỏng hơn. Ngược lại, 
khu vực phía nam từ Lăng Cô (Huế) trở vào, vùng ven biển được cấu 
tạo chủ yếu bởi các đá granit của phức hệ Hải Vân nên địa mạo đáy 
biển cổ dốc nhanh ra phía ngoài. Vì vậy, trầm tích đổ vào sẽ được 
nhanh chóng vận chuyển ra xa do tác động của trọng lực, sóng, thủy 
12 
triều và độ dốc đáy biển lớn nên chiều dày trầm tích có xu hướng 
tăng dần từ ven bờ ra xa bờ. 
3.1.2. Đặc điểm tướng và môi trường trầm tích Holocen sớm - 
giữa được phân chia thành bốn tướng trầm tích: 
3.1.2.1. Tướng trầm tích cát sông - biển (amQ2
1-2
): không lộ ra 
trên bề mặt nhưng trong LK.LC có gặp chúng ở độ sâu 29 - 31,6m. 
Phần dưới từ 30 - 31,6m, có cát bột màu xám sẫm. Thành phần: cát 
73,8%, bột 23%, sét 3,1%. Md = 0,12mm; So = 1,93; Sk = 0,89. 
Phần trên từ 29 - 30m, có cát bùn chứa sạn, xen kẹp các lớp bột sét 
mỏng màu xám xanh, phớt vàng. Thành phần: sạn (1,3 - 19%), cát 
(54,1 - 79,7%), bột (19 - 37%), sét (0 - 3,1%). Md = 0,1 - 0,16mm; 
So = 1,7 - 4,4; Sk = 0,3 - 0,7. 
3.1.2.2. Tướng trầm tích bùn lẫn cát sông - biển - đầm lầy 
(abmQ2
1-2
): không có trên bề mặt nhưng trong LK.ĐL ở Điền Lộc 
gặp ở 28,5 - 44,3m. Tướng trầm tích này gồm 5 phần: Phần dưới 
cùng (1) từ 41 - 44,3m, có bùn sét lẫn cát màu xám xanh. Thành 
phần: bột (34 - 42,4%), sét (55 - 57%), cát (0 - 8%). Md = 0,003 - 
0,004mm; So = 3,46 - 3,97; Sk = 0,53 - 0,94. Phần (2) từ 37,2 - 41m, 
trầm tích chuyển sang bùn cát màu xám xanh, có nhiều mảnh vỏ sinh 
vật, chuyển xuống dưới vụn sinh vật giảm hẳn. Thành phần: bột (32 - 
42,8%), sét (40 - 49,85%), cát (6 - 28%). Cát có thạch anh, zircon, 
inmenit. Md = 0,004 - 0,008mm; So = 3,71 - 7,15; Sk = 0,74 - 2,55. 
Phần (3) từ 36,2 - 37,2 m, có cát bùn lẫn sạn nhỏ và nhiều vụn vỏ 
sinh vật màu nâu đất, chứa nhiều ố sét laterit. Thành phần: cát (50%), 
bột (29%), sét (13%), sạn (8%). Mảnh vụn: thạch anh, mảnh đá, 
zircon và inmenit. Md = 0,167mm; So = 9,366; Sk = 0,414. Phần (4) 
từ 29,4 - 36,2m, thành phần có bùn lẫn ít cát màu xám tối. Trong đó: 
sét (47 - 54%), bột (40 - 46%), cát (0 - 7%). Md = 0,003 - 0,004mm; 
So= 3,4 - 4,8; Sk= 0,85 - 1,4. Phần trên cùng (5) từ 28,5 - 29,4m, 
trầm tích chuyển sang bùn cát màu xám tối. Thành phần: cát (22 - 
26%), bột (29 - 35%) và sét (39 - 49% gồm Gơtit: 6%, 
13 
Monmorilonit: ít, Clorit: 7%, Kaolinit: 15%). Md = 0,005 - 0,009 
mm; So = 4,82 - 6,71; Sk = 0,98 - 1,88. 
3.1.2.3. Tướng trầm tích cát - sạn nguồn gốc bãi triều (msQ2
1-2
): 
phân bố trên bề mặt ở độ sâu 19 - 25m tạo thành các đê cát ngầm, cồn 
ngầm kéo dài thành 2 đoạn từ Điền Hương đến Tư Hiền, rải rác ở 
phía đông ngoài khơi mũi Chân Mây và phía bắc mũi Hải Vân. Các 
cồn ngầm này cũng nổi cao so với địa hình đáy biển từ 2 - 10m. 
Thành phần: cát, cát sạn, cát lẫn sạn màu xám vàng. Thành phần: cát 
~ 99%, Md = 0,301mm, So = 1,24, Sk = 1,05. Mảnh vụn: thạch anh = 
95- 96%, mảnh đá = 2-3%, felspat = 2%, ngoài ra còn gặp inmenit, 
zircon, rutin, turmalin. 
3.1.2.4. Tướng trầm tích cát biển hạt mịn (mQ2
1-2
): phân bố trên 
bề mặt đáy biển ở độ sâu ngoài 10 - 15m nước từ Điền Hương đến Tư 
Hiền và từ 15 - 30 m nước từ Tư Hiền đến Đà Nẵng. Thành phần chia 
2 phần theo độ sâu: Phần dưới là cát trắng chuyển lên là cát bùn, bùn 
cát, bùn sét màu xám xanh giàu vụn sinh vật biển. Phần trên lộ ra trên 
đáy biển chủ yếu là tầng hạt mịn gồm bùn cát, bùn sét. Thành phần: cát 
(4,2 - 9,8%), bùn (33,1 - 63,8%), sét (32,0 - 61,1%), Md = 0,002 - 
0,015mm, So = 2,41 - 5,6, Sk = 0,84 - 1,4. Sét: monmorilonit = 7%, 
clorit = 11,31%, kaolinit = 28,05%, hydromica = 49,16%. 
3.2. Trầm tích Holocen muộn 
3.2.1. Hình thái và đặc điểm phân bố của các thành tạo trầm 
tích Holocen muộn 
 Trên mặt cắt địa chấn nông phân giải cao, các thành tạo trầm 
tích Q2
3 
có sóng địa chấn phản xạ liên tục, song song và nằm ngang 
với biên độ phản xạ mạnh. Trên bề mặt đáy biển, có các đứt gãy cắt 
qua cho thấy các hoạt động kiến tạo trẻ khá phổ biến và điển hình 
trong khu vực nghiên cứu với quy mô và cường độ không mạnh. 
Bản đồ đẳng sâu, bề mặt đáy Q2
3
 phân bố từ ~ 20 - 60m. Bề mặt 
cổ địa lý khá dốc song chúng có độ sâu tăng dần từ Tây sang Đông 
14 
(từ ven bờ ra xa bờ), phù hợp với xu thế tụt bậc của thềm lục địa tách 
giãn ở miền Trung Việt Nam. Bên cạnh yếu tố kiến tạo thì bề mặt 
tương đối gồ ghề của tầng móng trước Kainozoi cũng đóng vai trò chi 
phối hình thái bề mặt đáy của trầm tích Q2
3 
trong vùng. 
Bản đồ đẳng dày của trầm tích Q2
3
 được xác định từ ~ 10m 
(vùng ven bờ) đến ~ 35m vùng rìa ngoài của khu vực nghiên cứu. So 
với trầm tích Q2
1-2
 thì Q2
3
 có hình thái đơn giản hơn với chiều dày 
thay đổi từ từ hơn mặc dù chúng vẫn có xu thế chung là tăng dần từ 
ven bờ ra xa bờ. Điều này cho thấy chế độ sụt lún kiến tạo trong 
Holocen muộn về cơ bản là yếu dần. Bên cạnh đó, mực nước biển 
tăng chậm lại vào cuối thời kỳ biển tiến Flandrian sau đó hạ thấp 
xuống vị trí hiện tại ngày nay đã làm cho nguồn cung cấp vật liệu 
trầm tích chiếm ưu thế hơn so với sự thành tạo không gian lắng đọng. 
Quá trình này dẫn đến hệ thống lắng đọng trầm tích được lấn dần ra 
phía nước sâu được đặc trưng bởi các cấu tạo tiến triển dạng xiên 
chéo trên băng địa chấn. Vì vậy trầm tích Q2
3
 trong khu vực nghiên 
cứu được đặc trưng bởi các trầm tích hạt thô mang ảnh hưởng của 
nguồn lục địa chủ yếu là cát chiếm ưu thế. 
3.2.2. Đặc điểm tướng và môi trường trầm tích Holocen muộn 
3.2.2.1. Tướng trầm tích cát - bùn sông - biển (amQ2
3
): ở Cửa 
Thuận An đến Cửa Tư Hiền, ngoài khơi cửa Tư Hiền, cửa Kiểng 
(Vụng Chân Mây) và cửa Khẩu (ngoài đầm An Cư) ở 0 - 15m, ven 
vịnh Đà Nẵng. Thành phần: cát (90,4 - 100%), cát bùn, bùn cát (bột 0 
- 0,6%) màu xám nâu, xám phớt vàng. Md = 0,1 - 0,4mm; So = 1,1 - 
1,5; Sk = 0,7 - 1,2. Mảnh vụn: thạch anh 74 - 93%, mảnh đá 4,7 - 
23%, felspat ít, mica 1 - 4,8%. Bề dày 2 - 10m. 
3.2.2.2. Tướng trầm tích bùn lẫn cát sông - biển - đầm lầy 
(ambQ2
3
): có diện lộ hơn 11km
2
 nằm trong vịnh Đà Nẵng. Thành phần: 
cát, cát bùn, bùn sét màu xám đến xám đen, xám nâu chứa mùn thực vật. 
Chiều dày 3 - 15m. Phần ven vịnh gồm: cát (10 - 40%), bột (30,1 - 
53,9%), sét (22,5 - 59,9%). Md = 0,003 - 0,035mm; So = 2,7 - 8,5; Sk = 
15 
0,2 - 1,6, độ mài tròn kém. Mảnh vụn: thạch anh (95%), mảnh đá (4%), 
số ít inmenit và zircon (1%). Trung tâm vịnh: sét (42,5 - 64,8%), bột 
(32,4 - 48,1%), cát (1 - 9,4%); Md = 0,002 - 0,007mm; So = 3,3 - 5,5; Sk 
= 0,7 - 1,2. Sét gồm: kaonilit 25%, hydromica 22%; pH 6,7 - 6,9. 
3.2.2.3. Tướng trầm tích cát - bùn biển - đầm lầy (bmQ2
3
): ở đầm 
Lăng Cô, thành phần, độ hạt của chúng rất phức tạp. Thành phần: cát 
chứa sạn, cát, cát bột, sét màu xám đen, xám tối giàu mùn bã thực vật. 
Cát (74,9 - 87,9%), bột (11,8 - 24,5%); Md = 0,12 - 0,3mm; So = 1,19 - 
2,15; Sk = 0,4 - 1,0. Độ mài tròn trung bình. Mảnh vụn: thạch anh 
85,7%, mảnh đá 11,3%, 1% inmenit và zircon, mùn bã thực vật (0,01 - 
0,1%), chủ yếu là dạng rễ, lá cây đã phân hủy; pH 6,71 - 6,77. 
3.2.2.4. Tướng trầm tích cát biển hạt mịn (mQ2
3
): có diện phân 
bố rộng khắp từ bắc xuống phía nam, chạy thành dải hẹp ven bờ ở 0 - 
15m. Thành phần: cát hạt mịn màu xám, xám trắng, xám sáng, độ 
chọn lọc và mài tròn rất tốt. Tại LK.ĐL gặp các trầm tích mQ2
3
 ở 0 - 
6m. Mảnh vụn: thạch anh khoảng 99%, mảnh đá, feldspat, mica, 
zircon, inmenit. Md = 0,231mm, So = 1,192 - 1,23, Sk = 0,93 - 0,983. 
Độ mài tròn kém. 
3.3. Đặc điểm thành phần Foraminifera 
KVNC có 5 phụ bộ, 26 họ, 44 giống, 86 loài, phần lớn là các loài 
sống đáy (với 4 phụ bộ), số rất ít là trôi nổi (1 phụ bộ, 3 giống và 7 
loài). Các loài sống đáy không chỉ có số lượng giống loài phong phú 
mà còn chiếm ưu thế về số lượng hóa thạch. Trong các mẫu phân tích 
chỉ có một số mẫu có độ sâu > 15m mới gặp rất ít một số hóa thạch 
trôi nổi (của phụ bộ Globigerinina). Các loài bám đáy được thống kê 
phần lớn có khả năng thích nghi với biên độ giao động lớn của độ 
mặn, đặc trưng cho môi trường cửa sông ven biển, nơi độ muối 
không ổn định. Bên cạnh đó một số loài có đặc điểm hình thái dẹt dễ 
chao liệng (hình đĩa), vỏ chắc, có khả năng thích nghi với môi trường 
có động lực mạnh. Đặc điểm này phản ánh điều kiện môi trường ven 
biển có cửa sông ven biển. 
16 
CHƢƠNG 4. TIẾN HÓA ĐỊA CHẤT HOLOCEN KHU VỰC 
ĐỚI BỜ THỪA THIÊN - HUẾ - ĐÀ NẴNG 
4.1. Tiến hóa kiến tạo - cổ địa mạo 
Thềm lục địa Việt Nam nói chung và TTH - ĐN nói riêng được 
hình thành do quá tách giãn biển Đông và phá hủy đá móng trước 
Kainozoi bắt đầu khoảng ~ 31.tr.năm trước. Sự hình thành Biển Đông 
và thềm lục địa Việt Nam được gắn liền và bị khống chế bởi hoạt 
động của hệ thống đứt gãy trượt bằng Sông Hồng và phần mở rộng 
của nó về phía Đông Nam là đứt gãy kinh tuyến 109
o
. 
Các tài liệu minh giải địa chấn cho thấy hoạt động tách giãn 
mạnh mẽ nhất được xảy ra trong giai đoạn Eocen - Miocen sớm hình 
thành nên cấu trúc tụt bậc và các bể trầm tích Đệ Tam trên thềm lục 
địa Việt Nam như bể Sông Hồng ở phía Bắc, bể Phú Khánh ở Nam 
Trung Bộ và bể Cửu Long, Nam Côn Sơn ở phía Nam. Sau giai đoạn 
nghịch đảo kiến tạo khu vực trong Miocen, thềm lục địa khu vực 
TTH - ĐN trở lên bình ổn hơn. Trên các tài liệu địa chấn nông phân 
giải cao có quan sát được một số đứt gãy cắm gần như thẳng đứng 
nhưng biên độ nhỏ. Phần lớn các đứt gãy này phát triển trong các 
tầng trầm tích Pliocen hoặc cổ hơn, chúng bị cắt cụt bởi mặt bào mòn 
bất chỉnh hợp vào đầu Holocen sớm. Chỉ một vài đứt gãy hiện đại 
phát triển lên tận bề mặt đáy biển nhưng biên độ dịch chuyển gần như 
không đáng kể. 
Bên cạnh đó, các tập trầm tích Holocen ở KVNC có thế nằm rất 
thoải tới nằm ngang, chiều dày khá ổn định, cho thấy, hoạt động kiến 
tạo của KVNC trong giai đoạn Holocen rất yếu ớt, chỉ có một số hoạt 
động đứt gãy mang tính địa phương với biên độ nhỏ không đáng kể. 
Mặc dù vậy, bản đồ đẳng sâu và đẳng dày của Holocen sớm cho thấy 
17 
ven bờ Thừa Thiên - Huế có độ sâu và chiều dày lớn hơn khu vực xa 
bờ. Các hoạt động đứt gãy và sụt lún kiến tạo trong Holocen sớm tạo 
nên các cấu trúc địa hào là cơ sở cho hệ thống đầm phá cổ phát triển 
bên cạnh phá Tam Giang và Cầu Hai ngày nay. 
4.2. Tiến hóa trầm tích 
4.2.1. Tiến hóa nguồn gốc vật liệu trầm tích dựa trên kết quả 
phân tích tuổi U - Pb 
Trên cơ sở kết quả phân tích tuổi U - Pb, NCS tiến hành vẽ biểu đồ 
tần suất bằng phần mềm Isoplot phiên bản 4.1. Biểu đồ được sử dụng để 
đánh giá sự thay đổi của nguồn trầm tích. 
4.2.1.1. Đánh giá sự thay đổi nguồn trầm tích 
Tuổi kết tinh của các hạt zircon đơn lẻ rất đa dạng, dao động trên 
một phổ tuổi rất rộng từ ~ 27 tr.năm đến dưới 3 tỉ năm. Chứng tỏ 
nguồn cung cấp vật liệu trầm tích của KVNC rất đa dạng cả về tuổi 
và thành phần thạch học của các thành tạo đá gốc trên lục địa. 
Tuổi tiền Cambri đều xuất hiện trong các mẫu, ổn định từ độ sâu 
67 - 69m đến 8,5 - 11m sau đó có giảm nhẹ ở 4 - 6m. 
Ở 18 - 44m, tương ứng với Q2
1-2
 nguồn trầm tích duy trì ổn định. 
Riêng 44 - 46m, xuất hiện một số hạt trầm tích có tuổi trẻ ~ 27 tr.năm 
và ~ 90 tr.năm nhưng những hạt này không xuất hiện ở các mẫu nằm 
trên, đây có thể là nguồn địa phương. 
Ở 0 - 15m tương ứng với Q2
1-2 
- Q2
3
, phổ tuổi trở phức tạp hơn, 
nguồn trầm tích bắt đầu thay đổi so với bên dưới. Ngoài 3 tuổi giống 
phần dưới, có một số hạt ~ 27 - 90 triệu năm phổ biến hơn và xuất hiện 
đều trong tất cả các mẫu nằm phần trên của lỗ khoan. Trên cùng, tuổi 
Q2
3
, có sự tăng của tuổi tiền Cambri so với phần bên dưới. 
18 
Như vậy, nguồn cung cấp vật liệu trầm tích vô cơ cho KVNC có sự 
thay đổi theo: Trước Q2
1
, Q2
1 
- Q2
2
 và Q2
3
. Sự thay đổi về nguồn, lượng 
và tuổi kết tinh của các mảnh vụn cơ học được cho là thay đổi về thành 
phần đá gốc. Giải thích cho sự thay đổi phổ tuổi là do thay đổi lưu vực 
của các hệ thống dòng chảy cổ chảy qua các khu vực có thành phần 
thạch học và chế độ kiến tạo khác nhau. Các phổ tuổi tuy có hình thái 
giống nhau nhưng tần suất xuất hiện khác nhau còn được khống chế bởi 
các hoạt động kiến tạo và tốc độ bóc mòn đá gốc. 
4.2.1.2. Đánh giá vai trò của các sự kiện kiến tạo đối với sự biến 
đổi nguồn cung cấp vật liệu trầm tích 
Tuổi trước 538 tr.năm (tiền Cambri) phân bố nhiều và đều có 
mặt trong tất cả các mẫu, các hạt zircon này có thể được bóc mòn từ 
các thành tạo đá biến chất có tuổi tiền Cambri. 
 Tuổi 420 - 450 tr.năm có mặt trong tất cả các mẫu và chiếm một 
tỉ lệ khá lớn (~ 25 - 45%). Việc tập trung hàm lượng cao các hạt 
zircon trong khoảng tuổi này được cho là liên quan đến quá trình xuất 
lộ nhanh chóng các đá magma và đá biến chất do hoạt động tạo núi 
Caledoni kéo dài từ 390 - 490 tr.năm. 
- Tuổi 230 - 270 tr.năm, có tần suất xuất hiện cao (~ 16 - 28%

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_an_lich_su_tien_hoa_dia_chat_holocen_doi_bo_khu.pdf