Tóm tắt Luận án Nghiên cứu bảo tồn quần xã thú móng guốc chẵn (Artiodactyla) ở khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai, tỉnh Đồng Nai

Trang 1

Trang 2

Trang 3

Trang 4

Trang 5

Trang 6

Trang 7

Trang 8

Trang 9

Trang 10
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 10 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận án Nghiên cứu bảo tồn quần xã thú móng guốc chẵn (Artiodactyla) ở khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai, tỉnh Đồng Nai", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Tóm tắt Luận án Nghiên cứu bảo tồn quần xã thú móng guốc chẵn (Artiodactyla) ở khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai, tỉnh Đồng Nai

trình lớn như: 9 Van Peenen và cs. (1969), Đặng Huy Huỳnh và cs. (1981), Đào Văn Tiến (1985), Đặng Huy Huỳnh và cs, Đặng Ngọc Cần và cs. (2008). Nghiên cứu về sinh học, sinh thái và bảo tồn các loài thú MGC ở Việt Nam không có nhiều, một số công trình nghiên cứu đáng chú ý nhất thuộc hướng này có: Lê Hiền Hào (1973), Đặng Huy Huỳnh (1986), Đặng Huy Huỳnh và cs. (2008, 2010). Nhìn chung, đã có một số công trình nghiên cứu về sinh học, sinh thái của một số loài thú MGC ở Việt Nam. Tuy nhiên, các nghiên cứu này chưa nhiều và đầy đủ, chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác bảo tồn và sử dụng bền vững các loài thú MGC nguy cấp, quý, hiếm và có giá trị kinh tế, bảo tồn ở Việt Nam. 1.4.2. Tình hình nghiên cứu thú MGC ở vùng nghiên cứu và lân cận Công tác nghiên cứu thú MGC ở KBTTN-VH Đồng Nai và vùng lân cận mới chỉ dừng lại ở mức độ khảo sát phát hiện thành phần loài và xác định các đe dọa đối với các loài và sinh cảnh, các nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái và bảo tồn của các loài thú MGC trong vùng nghiên cứu còn rất hạn chế, trừ một số nghiên cứu về loài Bò tót. Đây là một trở ngại đáng kể cho công tác quản lý, bảo tồn thú MGC trong KBTTN-VH Đồng Nai và vùng lân cận. Chƣơng 2: MỤC TI U, NỘI DUNG, Đ I TƢỢNG, PHẠM VI VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHI N CỨU 2.1. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu chung của Luận án là cung cấp dữ liệu khoa học làm cơ sở xây dựng các giải pháp bảo tồn và phát triển quần thể các loài thú MGC ở KBTTN- VH Đồng Nai. 2.2. Nội dung nghiên cứu - Điều tra hiện trạng quần thể các loài thú MGC trong vùng nghiên cứu. - Nghiên cứu đặc điểm sinh cảnh và sự phân bố theo sinh cảnh của thú MGC trong vùng nghiên cứu. - Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của loài Cheo cheo kanchil có giá trị bảo tồn cao trong vùng nghiên cứu. 10 - Điều tra các yếu tố tác động đến quần thể và sinh cảnh của các loài thú MGC trong vùng nghiên cứu. - Đề xuất các giải pháp quản lý bảo tồn các loài thú MGC trong vùng nghiên cứu. 2.3. Đối tƣợng nghiên cứu: Tất cả các loài thú thuộc bộ Móng guốc chẵn (Artiodactyla) cư trú trong vùng nghiên cứu. 2.4. Phạm vi nghiên cứu: Vùng lõi và vùng đệm KBTTN-VH Đồng Nai. 2.5. Phƣơng pháp nghiên cứu 2.5.1. Phương pháp thu thập số liệu nghiên cứu 2.5.1.1. Phương pháp điều tra khảo sát hiện trạng quần thể thú MGC Phỏng vấn người dân địa phương và cán bộ Khu bảo tồn; Thu thập thông tin từ Kiểm lâm viên bằng phiếu điều tra; Điều tra theo tuyến; Điều tra theo điểm; Giám định loài trên hiện trường. 2.5.1.2. Phương pháp nghiên cứu sinh cảnh của thú MGC Điều tra theo các tuyến khảo sát điển hình; Điều tra theo các ô tiêu chuẩn. 2.5.1.3. Phương pháp điều tra, đánh giá các tác động đến quần thể và sinh cảnh của các loài thú MGC 2.5.1.4. Phương pháp nghiên cứu sinh học, sinh thái Cheo cheo kanchil Nghiên cứu trong các sinh cảnh tự nhiên của KBTTN-VH Đồng Nai; Kiểm định phân loại của Cheo cheo kanchil; Nghiên cứu trong điều kiện nuôi bán hoang dã; Nghiên cứu đặc điểm dinh dưỡng; Nghiên cứu đặc điểm sinh sản và sinh trưởng; Nghiên cứu tập tính hoạt động. 2.5.2. Phương pháp xử lý số liệu và xây dựng luận án Áp dụng các phương pháp thống kê sinh học, tùy thuộc vào từng nội dung nghiên cứu và dạng số liệu thu thập được để sử dụng phương pháp thống kê phù hợp với câu hỏi nghiên cứu để đảm bảo các nhận định và đánh giá dựa trên kết quả tính toán đều có độ tin cậy >95%. Xử lý thống kê các số liệu bằng phần mềm PAST 2.17 và phần mềm Excel. Sử dụng công nghệ chồng ghép bản đồ GIS để xây dựng các bản đồ chuyên đề. 11 Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHI N CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1. Thành phần loài và hiện trạng quần thể các loài thú MGC ở KBTTN- VH Đồng Nai 3.1.1. Thành phần các loài thú MGC ở KBTTN-VH Đồng Nai Kết quả nghiên cứu của Luận án đã khẳng định sự hiện diện của 6 loài thú MGC ở KBTTN-VH Đồng Nai, gồm Lợn rừng, Nai đen, Hoẵng, Cheo cheo kanchil, Bò tót và Bò rừng (Bảng 3.1). Bảng 3.1: Các loài thú MGC hiện còn sinh sống ở KBTTN-VH Đồng Nai TT Tên VN Tên khoa học Tƣ liệu ghi nhận Quan sát (cá thể) Ảnh chụp (ảnh) Mẫu vật (cá thể) 1 Lợn rừng Sus scrofa 36 200 40 2 Nai đen Rusa unicolor 11 100 6 3 Hoẵng Muntiacus muntjak 4 35 3 4 Cheo cheo kanchil Tragulus kanchil 202 500 80 5 Bò tót Bos frontalis 96 185 7 6 Bò rừng Bos javanicus Dấu chân, tài liệu Ngoài ra, còn 2 loài được các tác giả khác thông báo có ở KBTTN-VH Đồng Nai là Sơn dương (Capricornis milneedwardsii) và Hươu vàng (Axis porcinus). Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu của Luận án, không có thông tin khẳng định nào về sự tồn tại của 2 loài này được tìm thấy. Có thể, 2 loài Sơn dương và Hươu vàng không còn cư trú ở KBTTN-VH Đồng Nai hoặc với số lượng cá thể không đáng kể, không có ý nghĩa trong hệ sinh thái. 3.1.2. Hiện trạng quần thể các loài thú MGC ở KBTTN-VH Đồng Nai * Lợn rừng (Sus scrofa) Trong thời gian nghiên cứu đã ghi nhận được 500 lượt cá thể. Trong đó, trực tiếp quan sát được 8 đàn với tổng số 36 cá thể. Kết quả điều tra lặp lại trên 45 tuyến cho thấy, trong mùa khô tần suất bắt gặp Lợn rừng trên tuyến điều tra thấp hơn mùa mưa. (Hình 3.1). 12 Hình 3.1: Tần suất bắt gặp Lợn rừng trên tuyến trong các đợt điều tra * Cheo cheo kanchil (Tragulus kanchil) Kết quả nghiên cứu, đã ghi nhận được 202 cá thể. Trong đó, có 6 lần quan sát trực tiếp được 13 cá thể. Kết quả điều tra lặp lại trên 45 tuyến qua các đợt điều tra cho thấy, tần suất bắt gặp cá thể gián tiếp được thể hiện trong Hình 3.3. Hình 3.3: Tần suất bắt gặp Cheo cheo kanchil trên tuyến trong các đợt điều tra * Hoẵng (Muntiacus muntjak) Trong quá trình điều tra khảo sát của Luận án, chỉ có 4 lần trực tiếp ghi nhận được sự hiện diện của Hoẵng. Tuy nhiên, các dấu chân và phân của Hoẵng được ghi nhận nhiều lần và tại nhiều khu vực khác nhau trong Khu bảo tồn. * Nai đen (Rusa unicolor) Kết quả điều tra, đã ghi nhận được 61 cá thể Nai đen. Trong đó, quan sát trực tiếp được 6 đàn với tổng số 11 cá thể, mỗi đàn thường chỉ 1-2 cá thể, đàn lớn nhất là 3 cá thể. Nai đen phân bố tập trung ở các khu vực gần các sông Mã Đà, sông Bé, gần hồ Bà Hào và hồ Trị An, nhiều nhất là ở khu vực Phú Lý. Kết quả điều tra lặp lại trên 45 tuyến, qua các đợt điều tra cho thấy mùa khô năm 2010 – 2011 không ghi nhận được loài Nai đen, mùa mưa năm 2010 và 2013 tần suất bắt gặp cá thể gián tiếp lần lượt là 0,06 và 0,07 cá thể/km (Hình 3.6). 13 Hình 3.6: Tần suất bắt gặp Nai đen trên tuyến trong các đợt điều tra * Bò tót (Bos frontalis) Trong quá trình khảo sát từ 2008 đến 2014, đã ghi nhận được từ 88 - 105 cá thể. Trong đó, quan sát trực tiếp được 26 đàn với tổng số 96 cá thể (đàn nhiều nhất là 12 cá thể). Luận án đã xác định được trong KBTTN- VH Đồng Nai có 06 vùng hoạt động của các đàn Bò tót. Kết quả tính toán tần suất bắt gặp cá thể gián tiếp của các đợt điều tra lặp lại trên 45 tuyến của Bò tót được thể hiện trong Hình 3.10. Hình 3.10: Tần suất bắt gặp Bò tót trên tuyến trong các đợt điều tra * ò rừng (Bos javanicus) Dự án bò hoang dã Việt – Pháp (2005), Viện Sinh học Nhiệt đới (2011) đã tiến hành khảo sát tại Bình Phước ghi nhận được một đàn khoảng 4 – 10 cá thể cư trú ở khu rừng kinh tế Tân Lập, huyện Đồng Phú và ghi nhận đàn bò này thỉnh thoảng qua lại kiếm ăn ở KBTTN-VH Đồng Nai. Trong thời gian nghiên cứu, NCS không quan sát trực tiếp được Bò rừng ở KBTTN-VH Đồng Nai, nhưng ghi nhận được một số dấu chân Bò rừng ở khu vực Mã Đà, nơi giáp ranh với huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước vào tháng 3/2012. 14 3.2. Đặc điểm sinh cảnh của thú MGC ở KBTTN-VH Đồng Nai 3.2.1. Đặc điểm thảm thực vật rừng ở KBTTN-VH Đồng Nai Áp dụng hệ thống phân loại rừng của Thái Văn Trừng (1999), KBTTN-VH Đồng Nai có ba kiểu rừng chính sau: (1) Kiểu rừng kín thường xanh mưa nhiệt đới (Rkx): chiếm 84,3% tổng diện tích, (2) Kiểu rừng kín nửa rụng lá ẩm nhiệt đới (Rkn): chiếm khoảng 15,0% tổng diện tích và (3) Kiểu rừng kín rụng lá hơi ẩm nhiệt đới (Rkr): chiếm 0,7% tổng diện tích đất lâm nghiệp của KBTTN-VH Đồng Nai. 3.2.2. Đặc điểm các dạng sinh cảnh của thú MGC ở KBTTN-VH Đồng Nai Luận án đã dựa vào đặc điểm các kiểu thảm thực vật để chia diện tích đất lâm nghiệp của KBTTN-VH Đồng Nai (67.904 ha) thành 4 dạng sinh cảnh chính như sau (Bảng 3.3). Bảng 3.3: Các dạng sinh cảnh chính của thú MGC ở KBTTN-VH Đồng Nai Dạng sinh cảnh Ký hiệu Diện tích (ha) Tỷ lệ (%) Sinh cảnh rừng cây gỗ thứ sinh SC1 44.143 65,0 Sinh cảnh rừng hỗn giao cây gỗ - tre nứa SC2 8.099 11,9 Sinh cảnh rừng trồng, trảng cỏ cây bụi và nương rẫy SC3 9.047 13,3 Sinh cảnh đất ngập nước ven thủy vực lớn (sông, suối, hồ) SC4 6.615 9,7 Tổng cộng 67.904 100 3.3. Tình trạng sử dụng sinh cảnh của thú MGC ở KBTN-VH Đồng Nai 3.3.1. Hình thức và mức độ sử dụng các dạng sinh cảnh của các loài thú MGC Các hình thức sử dụng sinh cảnh chính của thú MGC gồm: Nơi trú ẩn; Kiếm ăn; Giao lưu; Nguồn nước. Kết quả nghiên cứu của Luận án cho thấy, trong 4 dạng sinh cảnh chính ở KBTTN-VH Đồng Nai, có 2 sinh cảnh (SC1 và SC2) các loài thú sử dụng cho cả 4 mục đích hoạt động sống. SC3 các loài chỉ sử dụng cho mục đích kiếm ăn, giao lưu và nước uống. SC4 thú MGC chỉ sử dụng cho mục đích uống nước và đằm mình. Kết quả phân tích số liệu phiếu điều tra từ các trạm Kiêm lâm cũng cho thấy, các loài thú MGC hoạt động chủ yếu ở các dạng sinh cảnh SC1 và SC2, 15 chúng cũng gặp ở sinh cảnh SC3 nhưng với tần suất thấp và rất ít gặp chúng ở SC4 (Bảng 3.5). Bảng 3.5: Tỷ lệ số phiếu ghi nhận các loài thú MGC theo sinh cảnh Loài Số phiếu Tỷ lệ % số phiếu ghi nhận theo sinh cảnh SC1 SC2 SC3 SC4 Lợn rừng 238 66,4 25,6 6,7 1,3 Cheo cheo kanchil 27 70,4 14,8 14,8 Hoẵng 4 25,0 25,0 50,0 Nai đen 39 38,5 56,4 5,1 Bò tót 1.167 58,8 30,7 9,3 1,2 Kết quả điều tra lặp lại trên 45 tuyến, cho kết quả về tần suất bắt gặp cá thể gián tiếp theo dạng sinh cảnh được nêu trong (Bảng 3.6). Bảng 3.6: Kết quả điều tra lặp lại thú MGC trong các năm 2010 và 2013 Loài SC1 (60,08 km) SC2 (45,58km) SC3 (26,98 km) SC4 (2,11 km) Cá thể Tần suất* Cá thể Tần suất* Cá thể Tần suất* Cá thể Tần suất* Lợn rừng 179 0,99 81 0,59 19 0,23 Cheo cheo kanchil 23 0,13 1 0,01 Hoẵng 1 0,01 Nai đen 7 0,04 9 0,07 2 0,02 Bò tót 172 0,95 98 0,72 34 0,42 4 0,63 Ghi chú: Tần suất*: Số cá thể ghi nhận gián tiếp/ số km khảo sát theo sinh cảnh (cá thể/km). Như vậy, tất cả các loài thú MGC đều sử dụng sinh cảnh SC1 và SC2, chúng cũng sử dụng SC3 nhưng hạn chế hơn và rất ít gặp ở SC4. Điều này cũng dễ hiểu, vì các sinh cảnh SC1 và SC2 có điều kiện sinh sống tốt hơn (có diện tích lớn hơn các sinh cảnh khác, an toàn hơn, nguồn thức ăn giàu hơn và cũng có đủ nguồn nước và nơi giao lưu). 3.3.2. Tình trạng sử dụng sinh cảnh của các loài thú MGC ở KBTTN-VH Đồng Nai Lợn rừng (Sus scrofa) 16 Có 238 phiếu điều tra từ các Kiểm lâm viên có ghi nhận về Lợn rừng và giám sát theo tuyến ghi nhận được 279 cá thể. Kết quả phân tích các số liệu này cho thấy, Lợn rừng gặp ở cả 4 dạng sinh cảnh ở KBTTN-VH Đồng Nai, nhưng tập trung ở các dạng SC1, SC2, SC3, ít gặp hơn ở SC4 (Hình 3.17a,b). Tỷ lệ phiếu ghi nhận Lợn rừng 66% 26% 7% 1% SC1 SC2 SC3 SC4 (a)-Tỷ lệ phiếu ghi nhận (%) (b)- Tần suất bắt gặp (cá thể/km) Hình 3.17: Biểu đồ so sánh tần suất ghi nhận Lợn rừng trong các dạng sinh cảnh Cheo cheo kanchil (Tragulus kanchil) Có 27 phiếu điều tra từ các Kiểm lâm viên, có ghi nhận Cheo cheo kanchil và giám sát theo tuyến đã ghi nhận được 24 cá thể. Kết quả phân tích các số liệu cho thấy, Cheo cheo kanchil gặp ở 3 dạng sinh cảnh, nhưng tập trung ở SC1, nhưng không gặp ven các thủy vực lớn (SC4) (Hình 3.18a, b). Tỷ lệ phiếu ghi nhận Cheo cheo 70% 15% 15% 0% SC1 SC2 SC3 SC4 (a)-Tỷ lệ phiếu ghi nhận (%) Tần suất bắt gặp Cheo cheo 0,13 0,01 0,000,00 0,00 0,02 0,04 0,06 0,08 0,10 0,12 0,14 SC1 SC2 SC3 SC4 Dạng sinh cảnh Tần suất SC1 SC2 SC3 SC4 (b)- Tần suất bắt gặp (cá thể/km) Hình 3.18: Biểu đồ so sánh tần suất ghi nhận Cheo cheo kanchil trong các dạng sinh cảnh tại KBTTN-VH Đồng Nai Hoẵng (Muntiacus muntjak) Kết quả phân tích phiếu điều tra từ các Kiểm lâm viên cho thấy Hoẵng, chỉ có 4 phiếu được ghi nhận, trong đó 50% ở sinh cảnh SC3, 25% ở sinh cảnh SC2 và 25% ở sinh cảnh SC1, không ghi nhận được Hoẵng ở sinh cảnh SC4 17 (Hình 3.19a). Kết quả giám sát theo tuyến chỉ phát hiện được 1 cá thể Hoẵng tại sinh cảnh SC2 (Hình 3.19b). Tỷ lệ phiếu ghi nhận Hoẵng 25% 25% 50% 0% SC1 SC2 SC3 SC4 a) Tỷ lệ phiếu ghi nhận (%) (b)- Tần suất bắt gặp (cá thể/km) Hình 3.19: Biểu đồ so sánh tần suất ghi nhận Hoẵng trong các dạng sinh cảnh Việc ghi nhận Hoẵng rất hạn chế ở trên không phản ảnh đặc điểm phân bố của loài ở KBTTN-VH Đồng Nai mà thể hiện tình trạng quần thể Hoẵng ở đây đã bị săn bắn quá mức dẫn đến suy giảm nghiêm trọng về số lượng cá thể. Nai đen (Rusa unicolor) Có 39 phiếu điều tra từ các Kiểm lâm viên có ghi nhận về Nai đen và giám sát theo tuyến ghi nhận được 18 cá thể. Phân tích số liệu phiếu điều tra cho thấy, Nai đen gặp ở 3 dạng sinh cảnh (Hình 3.20a). Kết quả giám sát theo tuyến cho thấy tần suất bắt gặp Nai đen ở 3 dạng sinh cảnh và cao nhất ở SC2 và không gặp ở SC4 (Hình 3.20b). Tỷ lệ phiếu ghi nhận Nai đen 38% 57% 5% 0% SC1 SC2 SC3 SC4 (a)-Tỷ lệ phiếu ghi nhận (%) (b)- Tần suất bắt gặp (cá thể/km) Hình 3.20: Biểu đồ so sánh tần suất ghi nhận Nai đen tại KBTTN-VH Đồng Nai Cũng giống như Hoẵng, Nai đen ở KBTTN-VH Đông Nai đã bị săn bắt quá mức, số lượng cá thể bị suy giảm nghiêm trọng. Bò tót (Bos frontalis) Kết quả phân tích cho thấy, Bò tót gặp ở cả 4 dạng sinh cảnh và phân bố nhiều nhất ở sinh cảnh SC1 (59% số phiếu), tiếp đến là sinh cảnh SC2 (31% số phiếu), CS3 (9% số phiếu) và thấp hơn ở SC4 (1% số phiếu) (Hình 3.21a). Điều 18 này phù hợp với đặc điểm rộng sinh cảnh và có vùng hoạt động rộng của loài. Tỷ lệ phiếu ghi nhận Bò tót 59% 31% 9% 1% SC1 SC2 SC3 SC4 (a)-Tỷ lệ phiếu ghi nhận (%) (b)- Tần suất bắt gặp (cá thể/km) Hình 3.21: Biểu đồ so sánh tần suất ghi nhận Bò tót trong các dạng sinh cảnh Kết quả giám sát theo tuyến cũng cho thấy, tần suất bắt gặp cá thể gián tiếp thấp nhất ở SC3 và cao dần theo các dạng SC4, SC2 và SC1 (Hình 3.21b). 3.3.3. Các điểm sinh cảnh đặc biệt quan trọng đối với thú MGC ở KBTTN- VH Đồng Nai Qua điều tra khảo sát, Luận án đã ghi nhận được trong KBTTN-VH Đồng Nai có 4 điểm khoáng, 10 nguồn nước, 4 bãi kiếm ăn quan trọng của các loài thú MGC. 3.4. Đặc điểm sinh học, sinh thái Cheo cheo kanchil ở KBTTN-VH Đồng Nai 3.4.1 Kiểm định vị trí phân loại của quần thể Cheo cheo ở KBTTN-VH Đồng Nai Đặc điểm hình thái ngoài cơ thể Kết quả phân tích so sánh, cho thấy phạm vi kích thước các số đo cơ thể của Cheo cheo có nguồn gốc từ KBTTN-VH Đồng Nai trùng với phạm vi kích thước của loài Tragulus kanchil và nhỏ hơn phạm vi kích thước cơ thể của loài Tragulus napu. Sự khác biệt về hình thái ngoài giữa T. kanchil và T. versicolor thể hiện chủ yếu ở màu sắc và các hoa văn trên bộ lông của chúng (Hình 3.23). H1 H2 Hình 3.23: (H1) Bộ da của T. versicolor (trái) và T. kanchil (phải) (Nguồn: 19 Kuznetsov et al. 2004); (H2) Cheo cheo kanchil ở KBTTN-VH Đồng Nai Các đặc điểm hình thái bộ lông của các mẫu vật Cheo cheo ở KBTTN- VH Đồng Nai hoàn toàn trùng hợp với các đặc điểm đặc trưng của loài Tragulus kanchil. Đặc điểm hình thái sọ Kết quả so sánh số đo 12 chỉ tiêu của 34 mẫu sọ Cheo cheo ở KBTTN-VH Đồng Nai cho thấy không có sự sai khác với số đo mẫu sọ T. kanchil của Meijaard at al. 2004, nhưng có sự khác biệt với các số đo sọ T.versicolor. Trình tự ADN gen ty thể Cytochrome B Kết quả cho thấy, trình tự AND gen ty thể của các mẫu vật Cheo cheo tại KBTTN-VH Đồng Nai có mức tương đồng 94% với trình tự ADN của Cheo cheo napu (Tragulus napu) và có mức tương động tới 98 và 99% với loài Cheo cheo Kanchil (Tragulus kanchil). Như vậy, có thể khẳng định loài Cheo cheo mà Luận án nghiên cứu tại KBTTN-VH Đồng Nai chính là loài Cheo cheo kanchil (Tragulus kanchil). 3.4.2. Đặc điểm sử dụng sinh cảnh của Cheo cheo kanchil Kết quả nghiên cứu cho thấy ở KBTTN-VH Đồng Nai, Cheo cheo kanchil gặp ở 3 dạng sinh cảnh, không gặp ven các thủy vực lớn (SC4), tập trung hơn ở SC1 (70,4% số phiếu ghi nhận, tần suất bắt gặp: 0,13 cá thể/km). 3.4.3. Đặc điểm dinh dưỡng của Cheo cheo kanchil • Thành phần cây thức ăn và bộ phận cây thức ăn Luận án đã xác định được 241 loài thực vật thuộc 65 họ là thành phần cây thức ăn của Cheo cheo kanchil ở KBTTN-VH Đồng Nai. Dựa vào sự lựa chọn ăn loài thực vật nào trước, loài nào hay ăn và ăn nhiều hơn Luận án đã xác định được 74 loài cây Cheo cheo kanchil ưa thích ăn nhất. Trong đó: 34 loài ăn lá, ngọn; 32 loài ăn lá, hoa, quả; 6 loài ăn củ và 2 loài ăn hạt. • Lượng thức ăn tiêu thụ trong ngày Nghiên cứu đã xác định được lượng thức ăn của Cheo cheo kanchil tiêu thụ trong mùa khô thấp hơn mùa mưa, trung bình 786 g/ngày/cá thể mùa mưa và 569,1 g/ngày/cá thể mùa khô. Lượng thức ăn thiêu thụ trong ngày của Cheo cheo kanchil chiếm 37,9% khối lượng cơ thể vào mùa khô và 52,4% khối lượng cơ thể vào mùa mưa. 20 Tỷ lệ này hơi cao hơn so với số liệu các nghiên cứu khác. Có thể do trong điều kiện nuôi, Cheo cheo kanchil được cung cấp đầy đủ thức ăn hơn nên tiêu thụ nhiều hơn. 3.4.4. Đặc điểm sinh sản của Cheo cheo kanchil • Sự khác biệt giới tính Quan sát 167 cá thể Cheo cheo kanchil, không phát hiện có sự khác nhau rõ ràng về hình dạng cơ thể và màu sắc lông. Kết quả đo kích thước cơ thể của 08 cá thể cái và 05 cá thể đực, cũng không thể hiện rõ sự khác biệt giới tính của loài. Nghiên cứu của nhiều tác giả trong nước và trên thế giới cũng cho rằng không có sự khác biệt giới tính ở Cheo cheo kanchil đực và cái. • Tuổi thành thục sinh dục Chưa có tác giả nào cung cấp số liệu về tuổi thành thục sinh dục của Cheo cheo kanchil ở Việt Nam. Vào tháng 6/2009, có 3 cá thể cái Cheo cheo kanchil 1 tháng tuổi được đưa vào nuôi tại Trung tâm cứu hộ của KBTTN-VH Đồng Nai. Đến tháng 7/2011, các cá thể này sinh con lứa đầu. Như vậy, tuổi thành thục sinh sản của Cheo cheo kanchil khoảng 2 năm tuổi. • Tranh giành con cái và giao phối Hoạt động đánh nhau, tranh giành Cheo cheo kanchil cái thường xảy ra vào khoảng thời gian từ 7 giờ sáng đến 14 giờ chiều. Hoạt động giao phối của Cheo cheo kanchil xảy ra vào mùa khô (tháng 2) và mùa mưa (tháng 7, tháng 8) với tần suất giao phối cao nhất vào tháng 8. Thời gian xảy ra giao phối, tập trung từ 15 giờ đến 18 giờ. Cheo cheo kanchil giao phối ở tư thế con đực nằm trên lưng con cái, thời gian giao phối khoảng 3 – 5 phút. • Mùa sinh sản Kết quả theo dõi 3 năm trong điều kiện nuôi bán hoang dã đã ghi nhận được 31 lần Cheo cheo kanchil sinh con với tổng số 35 con non. Tỷ lệ con non được sinh ra phát triển khỏe mạnh chiếm 82,86 %. Trong điều kiện nuôi bán hoang dã, Cheo cheo kanchil sinh sản ở hầu hết các tháng trong năm, tập trung nhiều vào các tháng 5 và 6. Tháng 2 và tháng 9 không có cá thể cái nào sinh sản. Điều này, có thể do thời tiết bất lợi vào tháng 2 là tháng nắng nóng nhất của mùa khô và tháng 9 là tháng mưa nhiều nhất của mùa mưa. 21 • Thời gian mang thai, tỷ lệ cá thể cái sinh con và phát triển thai Qua theo dõi trong điều kiện nuôi bán hoang dã, đã xác định thời gian mang thai của loài Cheo cheo kanchil ở KBTTN-VH Đồng Nai vào khoảng 125 – 150 ngày. Tỷ lệ Cheo cheo kanchil cái sinh con năm 2010, đạt 50% số lượng con cái ở tuổi sinh sản, năm 2011 đạt 68,18% và năm 2012 đạt 56,36%. Cheo cheo kanchil sinh sản mỗi năm 01 lần và mỗi lứa 01 con. • Chăm sóc con và sinh trưởng của con non Chỉ có Cheo cheo kanchil mẹ chăm sóc con. Cheo cheo kanchil đực
File đính kèm:
tom_tat_luan_an_nghien_cuu_bao_ton_quan_xa_thu_mong_guoc_cha.pdf