Tóm tắt Luận án Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc bảo vệ nguồn lợi cá ở vùng biển tỉnh Thanh Hóa

Trang 1

Trang 2

Trang 3

Trang 4

Trang 5

Trang 6

Trang 7

Trang 8

Trang 9

Trang 10
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 10 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận án Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc bảo vệ nguồn lợi cá ở vùng biển tỉnh Thanh Hóa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Tóm tắt Luận án Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc bảo vệ nguồn lợi cá ở vùng biển tỉnh Thanh Hóa

m nghiên cứu, sau khi tàu đã dừng hẳn khoảng 15 phút thì tiến hành thu mẫu TCCC ở tầng thẳng đứng. Mẫu TCCC ở tầng mặt và tầng đáy thu với tốc độ chạy tàu khoảng 2 hải lý/giờ trong thời gian khoảng 5-10 phút. Lưới kéo tầng mặt được thả cách mạn tàu khoảng 30m và cố định vào mạn tàu. Khi thu mẫu, cho tàu chạy theo hướng ngược sóng, với tốc độ khoảng 2 hải lý/giờ. Thời gian kéo lưới khoảng 5-10 phút tính từ khi lưới đầu ổn định cho tới khi lưới bắt đầu được kéo lên. Lưới kéo thẳng đứng: Khi thu mẫu lưới được thả theo phương thẳng đứng, sao cho miệng lưới vừa chạm đáy. Lưới được kéo lên với tốc độ vừa phải đảm bảo quá trình thu mẫu không bị hiệu ứng tràn. Lưới kéo tầng đáy được thả ở phía sau tàu, chiều dài dây thả tùy thuộc vào độ sâu nơi thu mẫu. Khi thu mẫu, cho tàu chạy theo hướng ngược sóng với tốc độ khoảng 2 hải lý/ giờ. Thời gian kéo lưới từ 5-10 phút. Lượng nước qua lưới được xác định bằng thiết bị đo lượng nước qua lưới gắn ở miệng lưới. Mẫu được rửa sạch bảo quản trong lọ nhựa có dung tích 1 lít, cố định mẫu bằng formaldehyd 5%. Mẫu TCCC được phân tích bằng kính giải phẫu Nikon SWZ1000, KRUSS và kính hiển vi Nikon E200. TCCC được nhặt ra khỏi các sinh vật phù du và rác bẩn khác, cho vào ống nghiệm nút bằng bông thấm nước và lưu giữ trong bình có chứa formaldehyd 5%. TCCC được phân loại dựa vào các tài liệu của Nguyễn Hữu Phụng (1973, 1976, 1978, 1980, 1991, 1994), Mito (1960, 1961) [9, 10]. + Thu mẫu sinh học các loài cá tại bến cá Mẫu sinh học của các loài cá nục, cá mối thường và cá bánh đường được thực hiện ngẫu nhiên trong sản lượng khai thác của các tàu cá ở các cảng cá Lạch Hới, Lạch Bạng và Ngư Lộc. Hàng tháng, mỗi loài được thu thập, phân tích khoảng 200-300 cá thể. Các chỉ tiêu phân tích bao gồm: đo chiều dài đến chẽ vây đuôi, cân khối lượng cá thể, giải phẫu xác định giới và giai đoạn phát triển tuyến sinh dục theo thang 6 bậc của Nikolski (1963)[11] và cân khối lượng tuyến sinh dục. Các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục theo thang 6 bậc của Nikolski được mô tả như sau: - Giai đoạn I: Cá chưa trưởng thành, tuyến sinh dục chưa phát triển, dính chặc vào vách trong của thân, có dạng dải dài, chưa phân biệt được đực/cái, kí hiệu là Juv. (Juveline). - Giai đoạn II: Tuyến sinh dục đang phát triển, đã phân biệt được đực/cái. Cá đực tinh hoàn nhỏ, dài, có cạnh sắc, màu hồng hoặc hơi hồng. Cá cái noãn sào chưa thể nhận ra trứng bằng mắt thường. - Giai đoạn III: Thể tích noãn sào cá cái tăng lên chiếm 1/3 – 1/2 toàn bộ xoang bụng. Trong noãn sào chứa đầy trứng nhỏ trong suốt, có màu hơi trắng. Nếu cắt ngang noãn sào, dùng mũi dao gạt nhẹ thì trứng rất khó tách ra khỏi vách màng trong của noãn sào. Trứng thường hình thành đám hoặc cục. Dịch hoàn cá đực có một số mạch máu, chưa có tinh dịch. - Giai đoạn IV: Noãn sào cá cái lớn, chiếm 2/3 khoang bụng. Trứng lớn, trong suốt, khi ta ép trứng sẽ chảy ra. Cắt bỏ màng noãn sào trứng sẽ rời nhau. Tinh hoàn cá đực màu trắng, chứa đầy tinh dịch. Lát cắt ngang tinh hoàn có hình tròn. Nếu khẽ ấn vào bụng thì tinh dịch chảy ra. - Giai đoạn V: Cá bắt đầu đẻ trứng, noãn sào và dịch hoàn chín muồi. Ấn nhẹ tay vào bụng cá trứng hoặc dịch hoàn sẽ chảy ra. - Giai đoạn VI: Cá đã đẻ trứng. Thể tích của noãn sào và dịch hoàn teo lại rất bé, lép và đầy máu, có màu đỏ sậm, đôi khi còn sót lại một số trứng nhỏ. Sau khi đẻ trứng, noãn sào của 11 Tóm tắt Luận án Tiến sĩ Sinh học cá tiếp tục phát triển theo chu kỳ mới, bắt đầu từ giai đoạn II, qua các giai đoạn III, IV và đến giai đoạn VI sẽ tiếp tục chu kỳ sinh sản mới. Trong 2 năm 2012 và 2013, tổng số 4.131 cá thể cá nục sồ, 4.658 cá thể cá bánh đường và 3.470 cá thể cá mối thường đã được thu thập và phân tích sinh học. 2.2.4. Phương pháp phân tích số liệu + Các chỉ số nguồn lợi Jaakjaer et al. (2007) [13] đã mô tả bộ chỉ nguồn lợi sử dụng trong quản lý nghề cá thích ứng ở Việt Nam là sự kết hợp các chỉ số nguồn lợi và các chỉ số sinh học quần thể. Các chỉ số nguồn lợi được phân tích từ số liệu điều tra nguồn lợi, còn gọi là điều tra độc lập nghề cá. Các chỉ số sinh học quần thể được phân tích từ số liệu sinh học của loài thu thập từ sản lượng khai thác của các tàu cá. Một số chỉ số sinh học nghề cá cơ bản được phân tích theo hướng dẫn của Sparre & Venema (1995)[14], Fowler et al. (1998)[6], Constaintine (2002) [5], Jenning et al. (2005)[8], như sau: - Thành phần sản lượng: Thành phần sản lượng được phân tích bằng phương pháp thông kê mô tả theo hướng dẫn Fowler et al. (1998). Tỉ lệ phần trăm sản lượng (ci) của loài trong tổng sản lượng mẻ lưới tại các trạm thu mẫu được tính theo công thức M 1k k ik i C C c Trong đó Cik là tổng sản lượng của loài i ở trạm nghiên cứu k; Ck là tổng sản lượng đánh bắt được ở trạm nghiên cứu k. - Năng suất khai thác: Chỉ số năng suất khai thác được mô tả bằng giá trị kg/h kéo lưới, được mô tả theo công thức: n i iCPUE n CPUE 1 1 Với CPUE là năng suất khai thác trung bình, CPUEi là năng suất khai thác của mẫu thứ i và n là số mẫu. - Trữ lượng nguồn lợi Trữ lượng nguồn lợi cá biển được tính theo phương pháp diện tích, sử dụng số liệu điều tra bằng tàu lưới kéo đáy theo hướng dẫn của Sparre & Venerma (1998), theo các công thức: q CPUA *SB ii B là trữ lượng, Si là diện tích của dải độ sâu thứ i, kCPUA là mật độ trung bình của các loài hải sản trên một đơn vị diện tích của dải độ sâu thứ i, q là hệ số đánh bắt. Hệ số đánh bắt q = 0,5 được áp dụng đối với lưới giã đơn đánh bắt ở vùng Đông Nam Á [12]. Mật độ phân bố của các loài hải sản được ước tính theo công thức: i ik i n CPUA CPUA ; trong đó D*V*t C CPUA ikik ik ik ; và ikCPUA là mật độ phân bố 12 Tóm tắt Luận án Tiến sĩ Sinh học (kg/km2) của các loài hải sản ở trạm thứ k thuộc dải độ sâu thứ i. Cik, tik, Vik là sản lượng, thời gian và tốc độ kéo lưới của mẻ lưới ở trạm thứ k ở dải độ sâu thứ i, D là độ mở ngang của miệng lưới trung bình tính theo lý thuyết thiết kế lưới kéo - Phân bố tần suất chiều dài và chiều dài trung bình Phân bố tần suất chiều dài và chiều dài trung bình của các đối tượng nghiên cứu trong sản lượng khai thác được phân tích bằng phương pháp thống kê mô tả theo hướng dẫn của Fowler et al. [6]. Trong đó: FL là chiều dài đến chẽ vây đuôi trung bình của cá (cm), FLj là chiều dài của cá ở nhóm thứ j (cm), fj là số cá thể của nhóm thứ j, n là tổng số cá thể, m là số nhóm chiều dài. - Chiều dài lần đầu tham gia sinh sản Chiều dài lần đầu tham gia sinh sản được xác định bằng hồi quy lặp phi tuyến tính theo công thức [8] Trong đó: P là tỷ lệ thành thục sinh dục FL là chiều dài đến chẽ vây đuôi của cá, FLm50 là chiều dài đến chẽ vây đuôi của cá, ở đó 50% số lượng cá thể của quần thể tham gia sinh sản lần đầu (còn gọi là chiều dài lần đầu sinh sản); k là hệ số của phương trình. + Xác định mùa sinh sản của cá Để xác định mùa sinh sản, tác giả tiến hành phân tích các đặc điểm sinh học cơ bản của loài theo từng tháng trong năm, gồm tỉ lệ phát triển tuyến sinh dục hàng tháng, biến động hệ số GSI hàng tháng, tỉ lệ đực cái, thời điểm xuất hiện cá con và cá đang phát triển tuyến sinh dục ở các giai đoạn sớm. Các chỉ số được phân tích theo từng tháng bằng phương pháp thống kê mô tả theo hướng dẫn của Fowler et al. (1998) [6]. Mùa sinh sản của các loài cá được xác định dựa trên biến động của hệ số thành thục sinh dục (Gonado Somatic Index, GSI) và biến động tỉ lệ các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục hàng tháng. GSI trung bình của các loài cá được xác định theo công thức của West (1990) [15] n GSI GSI i với 100* i i i W w GSI . Trong đó: wi là khối lượng của tuyến sinh dục của cá thể i và Wi là khối lượng của cá thể i trong tháng. Chỉ số GIS được phân tích riêng cho giới đực và giới cái. + Xác định khu vực sinh sản, ương nuôi tự nhiên của cá Vùng sinh sản và vùng ương nuôi tự nhiên của cá biển được xác định trên phân tích mật độ phân bố của trứng cá và cá con sau mùa sinh sản. Mật độ phân bố của trứng cá, cá con (D) được xác định trên cơ sở số lượng TCCC (N) và lượng nước qua lưới, đơn vị là trứng hoặc cá thể/1000m3 nước theo công thức: 13 Tóm tắt Luận án Tiến sĩ Sinh học Lượng nước qua lưới (V, m3) được chuyển đổi từ số vòng quay của thiết bị đo lưu lượng nước qua lưới theo công thức Trong đó: S là diện tích miệng lưới (m2); T là thời gian kéo lưới (giây) và X là số vòng quay trên thiết bị đo lượng nước qua lưới. Phân bố của TCCC được biểu diễn bằng giá trị mật độ phân bố trung bình nhiều năm của từng nhóm trong ô biển nghiên cứu. Bản đồ phân bố được xây dựng bằng phương pháp nội suy từ các điểm lân cận và được thể hiện bằng đường đồng mức. Trên cơ sở mùa sinh sản đã xác định được của một số loài đại diện cho các nhóm đối tượng ở phần trên, tác giả tiến hành tách số liệu trứng cá đã thu thập được ở các tháng là mùa sinh sản để phân tích, xác định khu vực phân bố tập trung. Tiến hành so sánh, đối chiếu với các kết quả nghiên cứu trước đây và phân tích tổng hợp về mật độ phân bố theo không gian của trứng cá trong mùa sinh sản của những loài đại diện cho phép xác định khu vực sinh sản chung của các loài cá biển. Khu vực ương nuôi tự nhiên của các loài cá được xác định trên cơ sở phân tích mật độ phân bố theo không gian của cá con của các loài đại diện đã thu thập được trong và sau mùa sinh sản, gồm: cá nục sồ đại diện cho họ cá khế và cá mối thường đại diện cho họ cá mối và cá bánh đường đại diện cho họ cá tráp. Kết hợp với cấu trúc tần suất chiều dài của các loài theo không gian, từ vùng bờ đến vùng lộng và vùng khơi, khu vực bảo vệ nguồn lợi thủy sản theo không gian và thời gian sẽ được xác định. CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1. Đặc điểm nguồn lợi hải sản ở vùng biển Thanh Hóa 3.1.1. Thành phần loài Vùng biển Thanh Hóa và lân cận là khu vực có đa dạng sinh học cao, thành phần loài hải sản phong phú. Kết quả điều tra nguồn lợi bằng tàu lưới kéo đáy cá và lưới kéo đáy tôm trong giai đoạn 2001-2005 và 2012-2013 đã bắt gặp 426 loài thuộc 203 giống nằm trong 101 họ hải sản khác nhau. Các chuyến điều tra bằng lưới kéo đáy cá đã bắt gặp tổng số 351 loài/nhóm loài hải sản thuộc 173 giống nằm trong 90 họ hải sản khác nhau. Trong số 351 loài/nhóm loài đã bắt gặp có 53 loài/nhóm loài cá nổi (chiếm 15%), 144 loài/nhóm loài cá đáy (41%), 92 loài/nhóm loài cá rạn (26%), 18 loài/nhóm loài tôm (~5%), 17 loài/nhóm loài cua ghẹ (~5%), 19 loài mực (~5%) và 3 loài khác gồm sam và hai mảnh vỏ. Các chuyến điều tra bằng lưới kéo tôm trong năm 2002 và 2003 bắt gặp 253 loài thuộc 133 giống, 84 họ. Cá đáy và cá rạn chiếm ưu thế về thành phần loài trong sản lượng khai thác của các chuyến điều tra bằng lưới kéo tôm, với số lượng loài tương ứng cho từng nhóm là 95 loài cá đáy và 53 loài cá rạn. Nhóm tôm bắt gặp 35 loài, chiếm 14% về số lượng loài bắt gặp. Họ cá khế (Carangidae) có thành phần loài đa dạng nhất ở vùng biển Thanh Hóa và lân cận. Kết quả điều tra giai đoạn 2001-2013 đã bắt gặp 22 loài cá thuộc họ cá khế, chiếm 5% tổng số loài đã bắt gặp. Các họ khác phong phú về thành phần loài là tôm he (Penaeidae) bắt gặp 20 loài, cua bơi (Portunidae): 17 loài, cá chai (Platycephalidae): 16 loài, cá mú (Serranidae): 15 loài, họ cá sơn (Apogonidae) và họ cá lượng (Nemipteridae) đều gặp 13 loài, cá đù (Sciaenidae): 12 loài, các họ cá trỏng (Engraulidae), cá liệt (Leiognathidae) và họ cá phèn (Mullidae) đều bắt gặp 11 loài. Có 33 họ chỉ bắt gặp 1 loài, 17 họ bắt gặp 2 loài và 12 họ bắt gặp 3 loài. Như vậy có thể thấy vùng biển Thanh Hóa và lân cận có thành phần loài rất phong 14 Tóm tắt Luận án Tiến sĩ Sinh học phú. Ở đây bắt gặp hầu hết các loài hải sản ở vùng biển vịnh Bắc Bộ. Kết quả điều tra của dự án đánh giá nguồn lợi sinh vật biển Việt Nam giai đoạn 2000-2005 bằng nhiều loại ngư cụ khác nhau đã thống kê được 639 loài thuộc 135 họ [2] ở vịnh Bắc Bộ. Như vậy, số loài hải sản bắt gặp ở vùng biển Thanh Hóa chiếm 68,7% tổng số loài và 74,5% tổng số họ hải sản ở vịnh Bắc Bộ. Chu Tiến Vĩnh và nnk (2001) [4] thực hiện 04 chuyến điều tra nguồn lợi hải sản ở vùng biển ven bờ Thanh Hóa trong giai đoạn 1998-2000 bằng tàu kéo đôi và tàu kéo tôm bắt gặp 190 loài nằm trong 71 họ hải sản. Kết quả điều tra bằng lưới kéo cá bắt gặp 165 loài thuộc 68 họ và lưới kéo tôm bắt gặp 107 loài thuộc 45 họ. Như vậy, có thể nói trong nghiên cứu này, thành phần loài hải sản được tổng hợp, phân tích từ rất nhiều chuyến điều tra trong giai đoạn 2001 – 2013, gồm 4 chuyến điều bằng lưới kéo tôm và 7 chuyến điều tra bằng lưới kéo cá đã đưa ra bức tranh khá toàn diện về hiện trạng thành phần loài hải sản ở vùng biển Thanh Hóa và lân cận mà các nghiên cứu trước đó chưa thực hiện được. 3.1.2. Thành phần sản lượng và năng suất khai thác Sản lượng khai thác bằng lưới kéo đáy ở vùng biển Thanh Hóa gồm nhiều nhóm sinh thái khác nhau như cá nổi, cá đáy, cá rạn, tôm, cua ghẹ và mực. Với mỗi loại ngư cụ khác nhau thì thành phần sản lượng khai thác có sự khác biệt nhất định. Sản lượng đánh bắt của các chuyến điều tra bằng lưới kéo đáy cá chiếm ưu thế bởi nhóm cá nổi, cá đáy và cá rạn. Trong giai đoạn 2001-2005 và 2012-2013 có sự thay đổi trong thành phần sản lượng khai thác giữa các nhóm sinh thái theo hướng tăng lên ở nhóm này thì nhóm kia giảm, đặc biệt là giữa các nhóm cá nổi và cá rạn trong giai đoạn 2001-2003 và nhóm cá đáy với các nhóm cá rạn và cá nổi trong năm 2012 và 2013. Nhóm mực là một trong những đối tượng khai thác chiếm ưu thế trong thành phần sản lượng khai thác ở vùng biển Thanh Hóa và lân cận. Kết quả điều tra trong mùa gió Tây Nam năm 2001 cho thấy, nhóm mực chiếm 19,39% trong tổng sản lượng của chuyến điều tra. Trong giai đoạn 2003-2005 và 2012-2013, tỉ lệ của nhóm mực trong tổng sản lượng chuyến biển giảm, chủ yếu trong khoảng 6-10%. Tôm là một trong những nhóm nguồn lợi quan trong của vùng biển Thanh Hóa. Sản lượng khai thác của nhóm tôm chiếm tỉ lệ 16-34% trong tổng sản lượng chuyến biển của tàu lưới kéo tôm nhưng chỉ chiếm tỉ lệ rất nhỏ trong sản lượng khai thác của tàu lưới kéo cá. Ngoài ra, nhóm cua ghẹ cũng là nhóm nguồn lợi quan trọng ở vùng biển Thanh Hóa, sản lượng khai thác của nhóm chiếm tỉ lệ 6,4-16,6% đối với lưới kéo tôm và 1-4% đối với lưới kéo cá. Trong nhóm cá nổi nhỏ, cá nục sồ (Decapterus maruadsi) là loài chiếm ưu thế với tỉ lệ sản lượng là 11,5% trong mùa gió Tây Nam năm 2003 và 9,5% trong mùa gió Tây Nam năm 2013. Các chuyến điều tra khác cá nục sồ chiếm tỉ lệ thấp hơn nhưng thường nằm trong nhóm 3 loài cá nổi nhỏ chiếm tỉ lệ cao nhất trong sản lượng khai thác cá nổi nổi nhỏ ở vùng biển Thanh Hóa và lân cận. Năng suất khai thác trung bình của cá nục sồ bằng lưới kéo đáy chủ yếu dao động trong khoảng 1,2 – 3,6 kg/h. Năm 2003, chuyến điều tra trong mùa gió Tây Nam ghi nhận năng suất khai thác cá nục sồ tăng đột biến, đạt 7,6 kg/h. Đối với nhóm cá rạn, loài cá bánh đường (Evynis cardinalis) luôn là đối tượng chiếm tỉ lệ cao nhất trong sản lượng khai thác ở vùng biển Thanh Hóa và lân cận. Sản lượng khai thác của loài chiếm 38,2% trong tổng sản lượng của chuyến điều tra mùa gió Tây Nam năm 2001 và 21,5% trong chuyến điều tra ở mùa gió Tây Nam năm 2013. Các chuyến điều tra khác, cá bánh đường chiếm tỉ lệ từ 10 – 21% về sản lượng. Năng suất khai thác trung bình bằng lưới kéo đáy đối với cá bánh đường đạt 31,2 kg/h; năng suất thấp nhất là 5,4 kg/h ở chuyến điều tra trong mùa gió Đông Bắc 2012-2013. 15 Tóm tắt Luận án Tiến sĩ Sinh học Trong nhóm cá đáy, loài cá mối thường (Saurida tumbil) là loài thường gặp. Tuy chiếm tỉ lệ không cao trong sản lượng đánh bắt của các chuyến điều tra nguồn lợi bằng lưới kéo đáy (3,1% ở chuyến điều tra vào mùa gió Tây Nam năm 2001 và 2,5% trong mùa gió Tây Nam năm 2013) nhưng là loài chiếm ưu thế trong sản lượng khai thác của nhóm cá đáy. Năng suất khai thác trung bình bằng lưới kéo cá đối với loài cá mối thường đạt 3,4 kg/h trong chuyến điều tra ở mùa gió Đông Bắc năm 2001 và dao động trong khoảng 1-2,5 kg/h ở các chuyến điều tra khác. Kết quả phân tích cũng cho thấy, năng suất khai thác cá đáy biến động và không thể hiện ảnh hưởng của yếu tố gió mùa (ANOVA, p>0,05) nhưng năng suất khai thác của nhóm cá rạn và cá nổi nhỏ chịu ảnh hưởng khá rõ của điều kiện gió mùa (ANOVA, p < 0,05). Năng suất khai thác cá nổi nhỏ trong mùa gió Tây Nam thấp hơn so với trong mùa gió Đông Bắc. Ngược lại, nhóm cá rạn có năng suất khai thác trong mùa gió Tây Nam cao hơn. Đối với điều tra bằng lưới kéo tôm, năng suất khai thác của nhóm cá đáy cao nhất, đạt 6 kg/h, trung bình chủ yếu dao động từ 2-3 kg/h. Năng suất khai thác trung bình của nhóm tôm dao động từ 1-3 kg/h. Các nhóm nguồn lợi khác như cua ghẹ, mực, tuộc, hai mảnh vỏ chiếm tỉ lệ không đáng kể trong sản lượng khai thác của các chuyến điều tra bằng lưới kéo tôm. 3.1.3. Phân bố năng suất đánh bắt Trong mùa gió Tây Nam, khu vực có năng suất khai thác cao tập trung ở vùng tiếp giáp với vùng biển Ninh Bình và nằm trên tuyến lộng. Khu vực từ Hòn Mê đến Hòn Nẹ có năng suất đánh bắt cao hơn. Theo không gian từ phía Bắc xuống phía Nam năng suất đánh bắt có xu hướng giảm dần. Khu vực từ vĩ tuyến 19o30N lên phía Bắc có năng suất đánh bắt cao hơn so với từ vĩ tuyến 19o30N xuống phía Nam. Trong mùa gió Đông Bắc, năng suất đánh bắt ở vùng bờ cao hơn so với ở vùng lộng và vùng khơi. Khu vực từ vĩ tuyến 19o30N lên phía Bắc, chạy dọc theo tuyến lộng có năng suất đánh bắt cao hơn so với các khu vực khác. So sánh với kết quả nghiên cứu với kết quả điều tra của Chu Tiến Vĩnh và nnk (2001) thực hiện trong giai đoạn 1998-2000 thì phân bố ngư trường khai thác giai đoạn 2001-2013 không có khác biệt lớn so với giai đoạn trước năm 2000. Theo Chu Tiến Vĩnh và nnk (2001) thì vùng biển ven bờ Thanh Hóa có năng suất khai thác cao ở phía Bắc vĩ độ 19o30N, năng suất khai thác ở khu vực này cao nhất đạt 1.116 kg/h trong vụ nam, trung bình khoảng 350 kg/h và 255 kg/h trong vụ bắc, trung bình khoảng 100 kg/h. Nhóm tác giả cũng khẳng định năng suất khai thác trong vụ nam tăng cao chủ yếu do sản lượng của loài cá bánh đường xuất hiện sau mùa sinh sản. 3.1.4. Mật độ và trữ lượng nguồn lợi Mật độ phân bố nguồn lợi hải sản ở vùng biển Thanh Hóa và lân cận có sự biến động lớn theo không gian và thời gian trong giai đoạn 2001-2005 và 2012-2013. Trong chuyến điều tra vào mùa gió Tây Nam năm 2001, mật độ phân bố hải sản thấp nhất ở vùng nước ven bờ và tăng dần theo chiều tăng của độ sâu vùng biển. Mật độ trung bình đạt 0,9 tấn/km2 ở dải độ sâu <20m nước; 1,0 tấn/km2 ở dải độ sâu 20-30m nước và 1,2 tấn/km2 ở dải độ sâu 30-50m nước. Theo thời gian, xu hướng biến động nguồn lợi diễn ra theo chiều hướng khác nhau ở từng dải độ sâu. Ở dải độ sâu <20m nước và 30-50m nước mật độ nguồn lợi có tăng lên hoặc giảm đi qua từng đợt điều tra lặp lại nhưng chưa thể hiện rõ xu hướng biến động. Ngược lại, ở dải độ sâu 20-30m nước, mật độ phân bố biến động với biên độ thấp hơn và thể hiện xu hướng suy giảm rõ rệt. Trữ lượng nguồn lợi đánh được bằng lưới kéo đáy ước tính cho vùng biển có diện tích 13.550 km2, giới hạn từ tuyến lộng và bờ dao động trong khoảng 20-43 ngàn tấn, trung bình 16 Tóm tắt Luận án Tiến sĩ Sinh học nhiều năm khoảng 33 ngàn tấn. Trữ lượng nguồn lợi hải sản ở vùng biển ven bờ khá thấp so với vùng khơi, ước tính khoảng 4,5 ngàn tấn, chiếm khoảng 13% tổng trữ lượng. Ở các dải độ sâu 20-30m và 30-50m, trữ lượng trung bình ước tính là 13,3 ngàn tấn và 15,3 ngàn tấn chiếm tỉ lệ tương ứng là 40% và 46% tổng trữ lượng. Theo thời gian, trữ lượng hải sản đánh được bằng lưới kéo đáy ở vùng biển Thanh Hóa và lân cận có sự biến động rất lớn, đặc biệt là ở giai đoạn 2012-2013. Kết quả đánh giá nguồn lợi cho thấy, trong mùa gió Đông Bắc năm 2012-2013, trữ lượng nguồn lợi đánh đượ
File đính kèm:
tom_tat_luan_an_nghien_cuu_co_so_khoa_hoc_cho_viec_bao_ve_ng.pdf