Tóm tắt Luận án Nghiên cứu, đánh giá một số chất ô nhiễm chủ yếu trong sông Cầu Bây - Hà Nội. Đề xuất giải pháp xử lý nước thải phù hợp

Trang 1

Trang 2

Trang 3

Trang 4

Trang 5

Trang 6

Trang 7

Trang 8

Trang 9

Trang 10
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 10 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận án Nghiên cứu, đánh giá một số chất ô nhiễm chủ yếu trong sông Cầu Bây - Hà Nội. Đề xuất giải pháp xử lý nước thải phù hợp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Tóm tắt Luận án Nghiên cứu, đánh giá một số chất ô nhiễm chủ yếu trong sông Cầu Bây - Hà Nội. Đề xuất giải pháp xử lý nước thải phù hợp

%, lắng 25% và rút nước 25% thời gian của chu kỳ; bùn dư được Yếm khí Thiếu khí Hiếu khí Pha Phản ứng Pha Lắng Pha Rút nước Rút nước đã xử lý ra Nước thải vào Nước thải vào Nước thải vào Bùn hồi lưu nội bể trong 100% thời gian chu kỳ Nước thải vào Nước thải vào Rút bùn dư Thời gian các pha 50% 25% 25% Thể tích nước max 65 88% 88 - 100% 100 65% 8 rút ra đồng thời với pha rút nước; hồi lưu bùn 100% thời gian cuaR chu kỳ. Hai ngăn lựa chọn vi sinh vật gồm ngăn zich zắc (Selector 1); và Selector 2 như là ngăn lắng (không sục khí), có thể tích mỗi ngăn tương đương 10% thể tích bể SBR. Sự khác nhau giữa các nhóm SBR đã và đang áp dụng so với L-SBR như Bảng 2-1. Bảng 2-1. Sự khác nhau cơ bản về pha phản ứng của các nhóm SBR TT Pha Nhóm (A): SBR cơ bản Nhóm (B) Nhóm (C): SBR/C-Tech Nhóm (D) L-SBR 1 Tiếp nhận nước (tĩnh) 2 Tiếp nhận nước (khuấy trộn) 3 Tiếp nhận nước (sục khí) 4 Sục khí 5 Lắng 6 Lắng/Tiếp nhận nước 7 Rút nước 8 Lắng/Rút nước 9 Nghỉ 2.4 Trình tự thực hiện và mô tả các thí nghiệm - Tại hiện trường sông Cầu Bây: đo đạc, khảo sát, lấy mẫu, thực hiện trong 4 đợt: 14÷20/5/2012; 15÷21/10/2012; 13÷19/5/2013 và 14÷20/10/2013; - Nghiên cứu biến đổi hiệu suất xử lý N trong quá trình điều chỉnh MLSS tại nhà máy XLNT Yên Sở, thực hiện trong giai đoạn tháng 10/2013 7/2014; - Thí nghiệm 1: thực hiện trên mô hình SBR/C-Tech và L-SBR, thực hiện trong giai đoạn tháng 4 5/2014, nhằm xác định được khoảng MLSS tối ưu duy trì được trong bể L-SBR và SBR/C-Tech khi không bổ sung C từ bên ngoài; - Thí nghiệm 2: thực hiện trên mô hình L-SBR bằng duy trì MLSS ở mức tối ưu, vận hành với nước thải lấy từ lưu vực sông Cầu Bây, thực hiện trong tháng 4 ÷ 5/2015 nhằm xác định hiệu quả các thông số ô nhiễm chủ yếu vận hành tại hàm lượng MLSS tối ưu xác định được từ thí nghiệm mô hình 2. 2.5 Các phương tiện, mô hình thí nghiệm Lấy mẫu, phân tích bằng các phương tiện máy móc hiện đại. Mô hình được chế tạo trên cơ sở công nghệ SBR/C-Tech, L-SBR ở quy mô vận hành 125 lít/ngày; vận hành tự động hóa hoàn toàn. Sơ đồ, hình ảnh thực tế và một số thông số cơ bản của 9 nhà máy XLNT Yên Sở, bể SBR/C-Tech Hình 2-2; mô hình thí nghiệm công nghệ L-SBR như Hình 2-3. Sơ đồ công nghệ bể SBR/C-Tech của nhà máy XLNT Yên Sở Hình ảnh thực tế của nhà máy XLNT Yên Sở Hình 2-2. Sơ đồ công nghệ, bể SBR/C-Tech nhà máy XLNT Yên Sở Hình 2-3 Mô hình thí nghiệm công nghệ L-SBR 2.6 Kết luận chương 2 Để giải quyết vấn đề còn tồn tại nêu ở chương 1, luận án đã phân tích các cơ chế phản ứng trong các điều kiện hiếu, thiếu, yếm khí; lựa chọn công nghệ SBR trên cơ sở các ưu điểm từ thực tế các nhà máy XLNT đang áp dụng tại Việt Nam; từ nghiên cứu thực tế vận hành tại nhà máy XLNT Yên Sở, luận án đã đưa ra các giả thuyết và thiết lập được mô hình công nghệ mới L-SBR. Bùn hồi lưu Nước thải vào Nước thải sau xử lý Thiết bị gạn nước Phân phối khí Bùn thải Ngăn lựa chọn VSV Ngăn sục khí 50% Chu kỳ 50% Chu kỳ 25% Chu kỳ 25% Chu kỳ Bùn hồi lưu Nước thải vào Nước thải sau xử lý Thiết bị gạn nước Phân phối khí Bùn thải Ngăn lựa chọn VSV Ngăn sục khí 100% Chu kỳ 100% Chu kỳ 25% Chu kỳ 25% Chu kỳ 10 Quy trình công nghệ được thiết lập (L-SBR) nhằm mục đích tăng được MLSS (giảm F/M) nhưng vẫn đảm bảo bùn dễ lắng, từ đó hạn chế bổ sung nguồn C từ bên ngoài, giúp giảm chi phí vận hành. CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ NƯỚC VÀ TRẦM TÍCH SÔNG CẦU BÂY 3.1 Lưu lượng nước thải Lưu lượng nước thải lưu vực sông Cầu Bây đo được trung bình 106.244m3/ngày, tối đa 191.592m3/ngày, hệ số công suất tối đa là 1,8, cao hơn nhiều so với hệ số công suất tối đa của tiêu chuẩn đối với nước thải sinh hoạt 1,1 1,5 (đặc trưng 1,25). Số liệu này cho thấy nhiều nguồn thải phi sinh hoạt ảnh hưởng lớn đến tính chất nước thải chung như từ các nhà hàng, khách sạn, cơ sở chăn nuôi, giết mổ, chợ, và ngay cả nước thải công nghiệp có nước thải biến động lớn theo giờ, ngày. Nhận định này có thể lý giải thêm cho tính chất khác biệt của nước thải lưu vực sông Cầu Bây cũng như nhiều đô thị khác ở Việt Nam so với nước thải sinh hoạt thông thường về nồng độ, tỷ lệ các thông số ô nhiễm. 3.2 Các thông số ô nhiễm chủ yếu trong nước sông Cầu Bây COD, BOD5, SS, NH4+-N, TP đều vượt quá QCCP, COD cao nhất 232mg/l vượt giới hạn cho phép 7,7 lần; BOD5 cao nhất 117mg/l vượt 7,8 lần; SS cao nhất 219mg/l vượt 2,2 lần; NH4+-N cao nhất 49mg/l vượt hơn 97 lần; TP cao nhất 4,5mg/l vượt gần 15 lần. Các thông số TN, PCB ở mức cao, tuy nhiên không có trong các QCVN. COD, BOD5, SS, NH4+-N, TN, TP cao nhất tại điểm gần các khu dân cư tập trung (thượng nguồn tại quận Long Biên; các xã Đa Tốn, Kiêu Kỵ; bãi rác Kiêu Kỵ). PCB có xu hướng tăng tại các điểm có các KCN. 3.3 PCB trong trầm tích sông Cầu Bây 3.3.1 Hiện trạng ô nhiễm PCB trong trầm tích sông Cầu Bây Tất cả các mẫu phân tích đại diện cho sông Cầu Bầy đều có tồn lưu PCB tại khu vực nghiên cứu. Tại các điểm lấy mẫu ở gần các khu vực có hoạt động công nghiệp và đô thị, nồng độ ΣPCB tổng nằm trong khoảng từ 51,6 đến 169,5 ng/g 11 khối lượng khô (từ M1 đến M5). Trong khi đó, tại các điểm lấy mẫu ở gần các khu vực có hoạt động nông nghiệp, nồng độ ΣPCB tổng nằm trong khoảng từ 31,8 đến 38,9 ng/g khối lượng khô (từ M6 đến M10). Các điểm có nồng độ ΣPCB tổng đáng kể nhất nằm ở vị trí M2 (gần KCN Sài Đồng, 169,5 ng/g khối lượng khô) và M4 (gần KCN Đài Tư, 142,3 ng/g khối lượng khô). Các đồng phân PCB điển hình (Σ6PCB) cũng được phát hiện với giá trị đáng chú ý (5,8 ÷ 36,3 ng/g). Các PCB đồng phẳng có cơ chế gây độc giống Dioxin (DL- PCB) có độc tính cao nằm trong khoảng từ 9.398ng/kg đến 17369 ng/kg. DL-PCB trong sông Cầu Bây nhỏ hơn trong trầm tích sông ở Osaka, Nhật Bản và cao hơn so với Đài Loan và vịnh Gwangyang, Hàn Quốc. 3.3.2 Đánh giá thành phần các đồng phân của PCB trong trầm tích sông Cầu Bây Phần trăm trung bình của 6 PCB chỉ thị so với tổng 6PCB thu được theo trật tự PCB138 > PCB153 > PCB101 > PCB52 > PCB180 > PCB28. Thành phần phần trăm trung bình của PCB28, PCB52, PCB101, PCB138, PCB153 và PCB180 so với tổng 6PCB trong các mẫu trầm tích trong sông Cầu Bây lần lượt là 1,4%, 12,5%, 20,0%, 33,9%, 24,5% và 7,8%. Các kết quả trên cho thấy phần trăm của các PCB có độ clo hoá cao trong các mẫu trầm tích là lớn hơn so với các PCB có độ clo hoá thấp. Trật tự này có thể giải thích do các PCB có độ clo hoá thấp kém bền vững và có giá trị lgKow thấp hơn các PCB có độ clo hoá cao. Các PCB có độ clo hoá thấp cũng dễ bay hơi hơn. Do vậy, các PCB có độ clo hoá cao có xu hướng tích tụ nhiều hơn trong trầm tích, còn các PCB có độ clo hoá thấp bị phân huỷ và bay hơi nhiều hơn. 3.3.3 Khả năng ảnh hưởng đến sinh thái do tồn lưu PCB trong trong trầm tích sông Cầu Bây Các hệ số độc tương đương của các DL-PCB (TEQ) của DL-PCB trong các mẫu trầm tích sông Cầu Bây nằm trong khoảng từ 5,3 đến 11,9 ng TEQ/kg. Kết quả trên nhỏ hơn so với TEQ ở mẫu trầm tích Osaka, Nhật Bản và lớn hơn so với trầm tích ở Đài Loan. Như vậy tồn lưu PCB trong trầm tích sông Cầu Bây đã ở mức độ đáng kể và có khả năng ảnh hưởng đến hệ sinh thái ở trầm tích bề mặt. 12 3.4 Nước thải lưu vực sông Cầu Bây Kết quả phân tích 4 đợt lấy mẫu trực tiếp đối với nước thải lưu vực sông Cầu Bây (mẫu M10) như Bảng 3-1 cho thấy tất cả các thông số chủ yếu trong nước thải lưu vực sông Cầu Bây đều vượt QCCP, cao nhất là NH4+-N vượt đến 8,6 lần, SS vượt 4,6 lần, BOD5 vượt 3,6 lần, TN vượt 3,0 lần, COD vượt 2,9 lần, TP vượt 1,16 lần; PCB vượt 1,15 lần. Đặc tính của nước thải lưu vực sông Cầu Bây: - COD, BOD5 ở mức thấp, tương đương mức thấp của nước thải sinh hoạt, nước thải thu gom chung; tương đương mức trung bình của các nhà máy XLNT đang vận hành tại Việt Nam; Bảng 3-1. Kết quả phân tích nước thải lưu vực Sông Cầu Bây TT Thông số Thực tế Việt Nam Thế giới Lưu vực sông Cầu Bây Trung Bình Max Min Sinh hoạt Thu gom chung Trung bình Max Min 1 COD, mg/l 147 564 68 150-800 260-480 175 187 168 2 BOD5, mg/l 87 336 36 70-350 60-220 84,6 87 80,5 3 SS, mg/l 120-400 270-550 186 210 165 4 NH4+-N, mg/l 12-50 34,8 44 26,9 5 TN, mg/l 39 93 16 20-70 4-17 48,3 50,1 45,6 6 TP, mg/l 4 7 1 6-12 1,2-2,8 3,76 4 3,59 7 PCB, g/l 2,8 3,11 2,38 8 COD:BOD5 1,71 2,6 0,91 2,09- 2,29 2,18- 4,33 2,02 2,09 1,96 9 BOD5:TN 2,39 4,1 1,62 3,13-5,5 12,9-15 1,75 1,79 1,7 10 BOD5:TP 24,4 74,4 9,4 10,9-29,2 50-78,6 23,1 24,2 21,3 11 N-NH3:TN 60-64% 72% 90% 59% - TN cao, tương đương mức cao của nước thải sinh hoạt và cao hơn nhiều nước thải thu gom chung, cao hơn mức trung bình của các nhà máy XLNT đang vận hành tại Việt Nam. - BOD5:TN nhỏ hơn nước thải sinh hoạt và thu gom chung; thấp hơn mức trung bình của nước thải Việt Nam. Tỷ lệ BOD5:TN thấp chứng tỏ thông số TN khó xử lý bằng sinh học vì thiếu nguồn C; 13 - TP thấp hơn nước thải sinh hoạt và thu gom chung, tương đương nước thải Việt Nam. TP có thể xử lý được bằng sinh học mà không phải bổ sung nguồn C; Nói chung, nước thải lưu vực sông Cầu Bây tương tự với nước thải đầu vào của hầu hết các nhà máy xử lý nước thải đang vận hành tại Việt Nam có BOD5 thấp, TN cao. TN cao có thể được lý giải do ảnh hưởng của các nguồn thải có TN cao. Hầu như các nhà dân nông thôn hoặc bán thành thị đều có chăn nuôi gia đình, nước thải từ nước sạch chuồng lợn có thể có nồng độ TN 1.000 1.500mg/l, phân chuồng 2.000 ÷ 5.000mg/l và NH4+-N chiếm từ 80 90%; các cơ sở mổ gia súc, gia cầm trong dân cư hoặc ngay trong các chợ truyền thống cũng là nguồn phát sinh TN như TN trong tiết gia súc rất cao đến 25.000mg/l. Tác phong đồ ăn dư thừa của người Việt Nam, sau đó thải vào nước nhà bếp hay rác thải sinh hoạt. Nước rỉ rác từ bãi rác (Kiêu Kỵ) hay từ các bãi thải không hợp vệ sinh có hàm lượng TN rất cao. Nước rỉ rác có TN đến hơn 3.000mg/l, đặc biệt là amoni đến 95%; bùn từ bể phốt trôi ra (khi bể phốt không được duy trì bằng hút thải bỏ đúng quy trình) đến 1.500mg/l, thậm chí có thời điểm TN trong nước rỉ rác có thể đến 1.000mg/l và NH4+-N đến hơn 900mg/l. Thành phần TN chủ yếu là NH3 và N hữu cơ do đó quá trình phân hủy trong bể phốt, hoặc tự phân hủy trong hệ thống thoát nước chủ yếu là quá trình thiếu khí, yếm khí do đó không có quá trình khử N nên không giúp giảm nồng độ N trong lúc giúp giảm được nồng độ COD, BOD5. Không có số liệu đặc tính nước và trầm tích của các sông khác nên không thể đánh giá, so sánh. Tuy nhiên, có thể so sánh đặc tính nước thải của lưu vực các sông bởi thông số BOD5:TN cho thấy nước thải lưu vực sông Cầu Bây cũng tương tự như lưu vực sông tại Hà Nội như Tô Lịch, Kim Ngưu và sông Sét (nhà máy XLNT Yên Sở); tại thành phố Hồ Chí Minh như Kênh Đôi – Tẻ (nhà máy XLNT Bình Hưng), Kênh nước Đen (nhà máy XLNT Bình Hưng Hòa). 3.5 Kết luận chương 3 Kết quả nghiên cứu trình bày ở chương 3 đã đánh giá được mức độ ô nhiễm của một số chất ô nhiễm chủ yếu trong nước và trầm tích sông Cầu Bây; đánh giá và xác định được đặc tính chủ yếu của nước sông Cầu Bây. 14 Đặc tính chủ yếu của nước sông Cầu Bây là BOD5 thấp, TN cao (BOD5:TN thấp) tương tự như nước thải đầu vào của phần lớn các nhà máy XLNT Việt Nam, đặc biệt là nhà máy XLNT Yên Sở, là cơ sở cho việc nghiên cứu lựa chọn công nghệ xử lý phù hợp trình bày tại chương 4 tiếp theo. CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ GIẢI PHÁP CÔNG NGHỆ 4.1 Kết quả các thí nghiệm nghiên cứu, thảo luận 4.1.1 Nghiên cứu biến thiên hiệu suất xử lý N trong quá trình điều chỉnh MLSS và lưu lượng xử lý tại nhà máy XLNT Yên Sở Kết quả của quá trình điều chỉnh vận hành nhà máy XLNT Yên Sở cho thấy nước thải đầu vào có BOD5 thấp (76mg/L), TN cao (47 mg/l); tỷ lệ BOD5:TN thấp (1,75). BOD5 sau xử lý trung bình 6,0mg/l, tối đa 18mg/L - đạt QCCP cột A. TN ra trung bình 14mg/l đạt QCCP cột A nhưng tối đa 28mg/l chỉ đạt cột B (8% 10% số mẫu có TN đạt được cột A). Quá trình khử BOD5, TN là khá ổn định, tuy nhiên giá trị TNra có xu hướng giảm khi tỷ số BOD5:TN tăng chứng tỏ BOD5:TN càng cao thì càng dễ xử lý TN. Ngược lại giá trị BOD5,ra có xu hướng tăng khi tỷ số BOD5:TN tăng chứng tỏ khi nguồn C sẵn có lớn hơn thì vi sinh vật không phải phụ thuộc (tận dụng tối đa) nguồn C để xử lý TN. Hình 4-1. TN xử lý được biến thiên theo F(N)/M tại nhà máy XLNT Yên Sở trong thời gian nghiên cứu Hình 4-1 cho thấy khi F(N)/M tăng (lượng TN được cung cấp trên một đơn vị MLSS tăng) thì lượng N khử được (giá trị y) cũng tăng (hệ số trong số hạng trục tung trong phương trình toán học đường tuyến tính là số dương (+56,769x)) – y = 56,769x - 0,0383 0,0 0,5 1,0 1,5 2,0 2,5 m g N lo ại /g M L S S /g iờ F(N)/M mgNloại/gMLSS/giờ Linear (mgNloại/gMLSS/giờ) 15 điều đó có nghĩa là có thể tăng cường xử lý TN bằng tăng hàm lượng MLSS. Lượng TN có thể xử lý được trung bình lên tới 0,61mgNloại/gMLSS/giờ trong điều kiện tỷ lệ trong nước thải đầu vào BODvào:TNvào trung bình chỉ 1,75. Việc tăng MLSS là không thể vô hạn (với một thể tích bể và lưu lượng nước thải xử lý) vì sẽ làm tăng hàm lượng SS sau xử lý vượt quá QCCP, thậm chí xẩy ra hiện tượng rửa trôi vi sinh vật. 4.1.2 Thí nghiệm 1: xác định MLSS tối ưu cho xử lý TN khi không bổ sung C từ bên ngoài Quá trình thí nghiệm với MLSS khởi điểm ở mức 875mg/l (tương đương mức theo thiết kế F/M = 0,154, có nghĩa MLSS không dư thừa so với thiết kế). MLSS tăng dần do sinh trưởng tự nhiên bởi vi sinh vật, sau 30 ngày MLSS trong mô hình SBR/C- Tech MLSS đạt được 4.349mg/l, tương ứng SS sau xử lý 80,1mg/l; trong khi đó L- SBR đạt được 4.938mg/l, tương ứng SS sau xử lý 55,8mg/l. TN trong nước thải sau xử lý tại MLSS 875mg/l với mô hình SBR/C-Tech là 33,2mg/l, L-SBR là 30,4mg/l không đạt QCCP cột A. MLSS trong L-SBR tăng nhanh hơn là do SS trong nước thải sau xử lý của L-SBR tốt hơn (nồng độ thấp hơn) SBR/C-Tech. Trong cả 2 mô hình, nồng độ BOD5 trong nước thải sau xử lý hầu như không biến đổi và luôn ở mức < 10mg/l, chứng tỏ nguồn C trong nước thải đã được sử dụng tối đa cho quá trình khử N. Bảng 4-1 cho thấy có thể duy trì L-SBR MLSS trong khoảng 3.197 4.047mg/l để cả 2 thông số SS, TN trong nước thải sau xử lý đều đạt QCCP cột A; trong khi đó với SBR/C-Tech thì để SS đạt được QCCP cột A cần duy trì MLSS ≤ 2.671mg/l, để TN đạt QCCP cột A cần duy trì MLSS ≥ 3.423mg/l, có nghĩa SBR/C- Tech không thể xử lý được SS, TN đồng thời đạt được QCCP cột A. Giá trị mgNloại/gMLSS/giờ tại nhà máy XLNT Yên Sở là 1,159; mô hình SBR/C- Tech là 0,578; mô hình L-SBR là 0,601. Lượng TN xử lý được (mgNloại/gMLSS/giờ) tại nhà máy XLNT Yên Sở cao hơn so với thí nghiệm trên mô hình SBR/C-Tech và L-SBR là do thời gian 1 chu kỳ khi vận hành tại nhà máy XLNT Yên Sở đã được kéo dài để tăng khả năng lắng của bùn, lượng nước thải vào nhỏ hơn thiết kế (đang trong quá trình điều chỉnh tăng dần) để đảm bảo hai thông số TN, SS sau xử lý đều đạt QCCP (mức cột B). Mô hình L-SBR xử lý 16 được TN (mgNloại/gMLSS/giờ) lớn hơn mô hình SBR/C-Tech là do thời gian phản ứng của SBR/C-Tech chỉ 50% trong toàn bộ các ngăn phản ứng; trong khi đó L-SBR có 50% thời gian phản ứng trong ngăn sục khí, ngăn selector 1 và 2 (30% tổng thể tích bể) có thời gian phản ứng là 100%. Bảng 4-1. Các mức MLSS tối ưu TT Khoảng yêu cầu MLSS trong bể sục khí, mg/l L-SBR SBR/C-Tech 1 SSra ≤ 40,5mg/l ≤ 4.047 ≤ 2.671 2 TNra ≤ 16,2mg/L ≥ 3.197 ≥ 3.423 Bảng 4-2. SVI, MLSS trong thí nghiệm trên mô hình SBR/C-Tech, L-SBR Mô hình SVI (ml/g) ở các mức MLSS tương ứng 875mg/l 3.197mg/l 4.047mg/l 3.600mg/l SBR/C-Tech 120 173 196 184 L-SBR 120 134 142 137 L-SBR (trái) và SBR/C-Tech (phải) L-SBR pha sục khí Hình 4-2. Hình ảnh thí nghiệm trên mô hình SBR/C-Tech, L-SBR Bảng 4-3. Lượng TN được xử lý theo MLSS, F(N)/M Mô hình TN được xử lý (mgNloại/gMLSS/giờ) tương ứng với MLSS = 3.197mg/l MLSS = 4.047mg/l Trung bình F(N)/M = 0,0186 F(N)/M = 0,0236 Nhà máy XLNT Yên Sở 1,299 1,018 1,159 SBR/C-Tech 0,617 0,539 0,578 L-SBR 0,633 0,570 0,601 4.1.3 Thí nghiệm 2: nghiên cứu hiệu suất xử lý các thông số bởi mô hình L- SBR khi duy trì MLSS ở mức tối ưu Nồng độ BOD5, COD, SS, NH4+-N, TN, TP, PCB vận hành mô hình bể L-SBR (với nước thải lấy từ lưu vực sông Cầu Bây) trong điều kiện duy trì MLSS 17 3.600mg/l (trung bình của mức tối ưu được xác định ở thí nghiệm 1) như Hình 4-3 ÷ Hình 4-9 đều đạt QCCP cột A. Nồng độ các thông số sau xử lý không phụ thuộc vào BOD5:TN chứng tỏ hiệu suất xử lý sự phụ thuộc vào nguồn C trong MLSS hơn là trong chất ô nhiễm hữu cơ có trong nước thải do có nồng độ thấp (BOD5 thấp). Các mẫu phân tích có BOD5:TN biến thiên trong khoảng 1,586 2,1. - BOD5 sau xử lý 5,7mg/l, lớn nhất 8,0mg/l so với QCCP cột A 24,3mg/l; hiệu suất xử lý trung bình 93%, so với hiệu suất công nghệ SBR đã được khảo sát trên thế giới có thể đạt đến 92,5 95% của nước thải đô thị, so với hiệu suất của nhà máy XLNT Yên Sở trong giai đoạn nghiên cứu là 92%. COD sau xử lý 15,5mg/l, lớn nhất 25,3mg/l so với QCCP cột A 60,75mg/l; hiệu suất xử lý trung bình 92% so với hiệu suất của nhà máy XLNT Yên Sở trong giai đoạn nghiên cứu là 90%. Hiệu suất vận hành thực tế thấp hơn hiệu suất thiết kế (95%) vì BOD5, COD đầu vào thấp hơn thiết kế. Tuy nhiên, từ các kết quả này có thể khẳng định L-SBR được cải tiến để xử lý TN đạt QCCP cột A trong điều kiện BOD5:TN thấp nhưng vẫn không làm giảm hiệu suất xử lý đối với BOD5; Hình 4-3. BOD5 trong thí nghiệm trên mô hình L-SBR tại MLSS tối ưu Hình 4-4. COD trong thí nghiệm trên mô hình L-SBR tại MLSS tối ưu - SS sau xử lý 25,5mg/l, lớn nhất 38,7mg/l so với QCCP cột A 40,5mg/l; so với nhà máy XLNT Yên Sở trong giai đoạn nghiên cứu là 56mg/l, lớn nhất - 20 40 60 80 100 120 1 ,5 8 6 1 ,5 8 6 1 ,5 8 7 1 ,5 8 7 1 ,5 9 4 1 ,5 9 4 1 ,6 0 1 1 ,6 0 1 1 ,6 1 9 1 ,6 1 9 1 ,6 6 7 1 ,6 6 7 1 ,6 8 2 1 ,6 8 2 1 ,7 1 6 1 ,7 1 6 1 ,7 2 3 1 ,7 2 3 1 ,7 9 0 1 ,7 9 0 1 ,8 6 1 1 ,8 6 1 1 ,9 2 7 1 ,9 2 7 1 ,9 6 2 1 ,9 6 2 1 ,9 8 9 1 ,9 8 9 2 ,1 0 0 2 ,1 0 0 m g /l BOD5:TN BOD5 vào BOD5 ra QCCP BOD5 - 100 200 300 1 ,5 8 6 1 ,5 8 6 1 ,5 8 7 1 ,5 8 7 1 ,5 9 4 1 ,5 9 4 1 ,6 0 1 1 ,6 0 1 1 ,6 1 9 1 ,6 1 9 1 ,6 6 7 1 ,6 6 7 1 ,6 8 2 1 ,6 8 2 1 ,7 1 6 1 ,7 1 6 1 ,7 2 3 1 ,7 2 3 1 ,7 9 0 1 ,7 9 0 1 ,8 6 1 1 ,8 6 1 1 ,9 2 7 1 ,9 2 7 1 ,9 6 2 1 ,9 6 2 1 ,9 8 9 1 ,9 8 9 2 ,1 0 0 2 ,1 0 0 m g /l BOD5:TN COD vào COD ra QCCP COD 18 86mg/l; so với thí nghiệm trên mô hình SBR/C-Tech tính toán theo công thức tuyến tính là 61,4mg/l. SVI đo được trung bình 115ml/g cho thấy bùn dễ lắng, tuy nhiên SS cao vì Selector 2 cho phép bùn dạng sợi không lắng được trôi theo nước thải sau xử lý, phần bùn lưu lại trong bể chỉ bùn dễ lắng (đã loại vi sinh vật dạng sợi bằng quá trình lắng tại Selector 2). Điều này cho thấy khả năng lắng của bùn trong thí nghiệm trên mô hình L-SBR tốt hơn nhà máy XLNT Yên Sở và mô hình SBR/C-Tech; Hình 4-5. SS trong thí nghiệm trên mô hình L-SBR tại MLSS tối ưu - NH4+-N sau xử lý 2,2mg/l, lớn nhất 3,8mg/l so với QCCP cột A 4,05mg/l, hiệu suất xử lý 95%; so với nhà máy XLNT Yên Sở trong thời gian nghiên cứu có NH4+-N trung bình trước xử lý 41mg/l, sau xử lý 2,7mg/l, sau xử lý lớn nhất 9mg/l, hiệu suất xử lý trung bình 93,4%. Hiệu suất xử lý NH4+-N cao nhờ quá trình phản ứng loại bỏ C, nitrat hóa, khử nitrat khi có amoni xẩy ra trong bể selector đã được tăng cường ở L-SBR so với SBR/C-Tech; Hình 4-6. NH4+-N trong thí nghiệm trên mô hình L-SBR tại MLSS tối ưu - TN sau xử lý 13,5mg/l,
File đính kèm:
tom_tat_luan_an_nghien_cuu_danh_gia_mot_so_chat_o_nhiem_chu.pdf